Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

II Các Vua 2: "Xe Ngựa Lửa"


XE NGỰA LỬA
– II Các Vua 2
Bạn sẽ làm gì một khi bạn biết mình sẽ qua đời hôm nay?
Sẽ ra sao nếu bạn biết chắc rằng hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của bạn ở trên đất? Giả sử bạn còn sống không đầy 24 tiếng đồng hồ nữa. Bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ đi đâu? Bạn sử dụng những giờ phút sau cùng của bạn trên hành tinh địa cầu nầy như thế nào? Nếu bạn biết mình sẽ qua đời hôm nay, bạn sẽ làm gì đây? Bạn sẽ đi đâu? Bạn sẽ ở tại nơi mà bạn đang ở trong lúc bây giờ, hay bạn sẽ lên phi cơ rồi đến gặp ai đó mà bạn yêu thương chăng? Bạn sẽ nhấc máy điện thoại lên rồi gọi đến một vài người? Nếu nhấc máy lên, thì bạn sẽ gọi cho ai chứ? Bạn sẽ nói gì?
Thật lấy làm tốt khi suy nghĩ về mấy câu hỏi đại loại như thế nầy từng hồi từng lúc. Martin Luther nói rằng chúng ta nên sống từng ngày với ngày qua đời luôn đứng trước mặt chúng ta, giống như tấm biển quảng cáo mà chúng ta nhìn thấy ở khắp mọi nơi khi đến ngã rẻ con đường. Trong quyển Bảy Bí Quyết Của Hạng Người Thành Đạt, Steven Covey nói về việc sống với nhận định về ngày cuối cùng. Đấy là nguyên tắc quan trọng trong Kinh thánh – sống hôm nay giống như thể đấy là ngày sau cùng của bạn vậy. Jim Elliott (tính đến tháng nầy thì ông đã qua đời đúng 50 năm) đã nói ông muốn sống khi đến lúc chết, sẽ chẳng có gì khác phải làm trừ ra chết mà thôi.
Chúng ta hãy xem qua câu hỏi một lần nữa đi. Giả sử bạn chỉ có 30 giây để sống. Có lẽ bạn bị thương trong một tai nạn ô tô, hay có lẽ bạn sắp qua đời trong một bịnh viện và bạn biết sự cuối cùng đã gần rồi. Gia đình của bạn đang tụ tập lại ở chung quanh bạn, họ đang chờ đợi lời lẽ sau cùng của bạn. Giả sử bạn có 30 giây, và rồi bạn sẽ qua đời. Bạn sẽ nói gì đây? Bạn sẽ tóm tắt lại mọi điều chi là quan trọng đối với bạn? Tôi suy nghĩ về việc nầy trong một lúc rồi tự hỏi mình sẽ nói gì với ba đứa con trai mình đây. Tôi chỉ phải đưa ra một câu trả lời ngay thôi. Trong 30 giây sau cùng đó, tôi sẽ nói bốn việc với các con trai tôi:
1. Hãy chăm sóc mẹ các con
2. Hãy yêu thương nhau
3. Hãy cưới một thiếu nữ Cơ đốc làm vợ
4. Hãy hầu việc Đức Chúa Jêsus Christ cho đến đời đời
Bấy nhiêu đó thôi. Hãy chăm sóc mẹ các con, hãy yêu thương nhau, hãy cưới thiếu nữ Cơ đốc làm vợ, và hãy hầu việc Đức Chúa Jêsus Christ cho đến đời đời. Nếu các con trai tôi làm theo y như thế, khi ấy tôi sẽ qua đời như một người được phước vậy. Bấy nhiêu đủ tóm tắt mọi sự mà tôi đã ra sức để sống còn.
Trong các thế hệ đi trước, Cơ đốc nhân đã nói về sự chết nhiều hơn là chúng ta nói trong lúc bây giờ. Người theo Thanh giáo, họ thực sự viết ra các quyển sách để giúp đỡ nhau học biết cách thức phải chết. Chết cũng được xem là một phẩm hạnh Cơ đốc nữa đấy.
Tôi có một người bạn đã phục vụ quân đội ở Việt nam. Ông ta bị quân Bắc Việt bắt, bị bắn nơi chân, rồi trốn thoát bằng cách bò khỏi trại tù trên hai bàn tay và hai đầu gối. Ông ta biết mọi sự về chiến tranh vì ông ta đã nhìn thấy nhiều người chết trên chiến trường. Không lâu sau đó, ông nói cho tôi biết người Mỹ rất sợ chết. Ông không nói về những người nam người nữ dũng cảm phục vụ trong các lực lượng vũ trang. Họ phó mạng sống của họ trên chiến tuyến từng ngày một, và họ làm thế mà không đòi hỏi sự cảm thông. Họ làm thế vì đấy là công việc của họ, và vì họ tin nước Mỹ đang đứng mũi chịu sào vì điều gì. Đấy không phải là điều mà bạn tôi muốn nói tới. Ông ta nói rằng những người Mỹ bình thường đều sợ chết. Ông ta nói cho tôi biết điều nầy cách đây ba năm, và ông ta nói lại sự việc nầy sau cuộc đánh bom ở Luân đôn vào mùa hè qua. Ông ta nói sự khác biệt giữa chúng ta và những tên khủng bố, ấy là chúng ta sợ chết còn chúng thì không. Chúng ta đang ngồi trên chiếc ghế ở công viên trong trung tâm một thành phố xinh đẹp vào một ngày mùa hè dễ thương. “Hãy nhìn xem mọi sự chúng ta đã có kìa”. Tôi nhìn thấy những đôi vợ chồng hạnh phúc tay trong tay với nhau và lớp người trẻ đang nằm dài trên thảm cỏ. “Chúng ta nghĩ chúng ta đang sống rồi trên thiên đàng. Chúng ta nghĩ chúng ta đã nhận lãnh mọi thứ tốt nhứt khả thi. Tại sao có người muốn rời bỏ thế giới nầy chứ?” Hãy so sánh với chỗ mà những tên khủng bố kia xuất thân xem. Không có gì phải ngạc nhiên khi họ không sợ chết. Những người Mỹ thì sợ chết giống như là một kết quả của sự thịnh vượng về mặt vật chất của chúng ta.
Đó là phần đánh giá khá chính xác của toàn xã hội chúng ta. Và trong một số cách thức thì cũng thực như thế cho Hội thánh. Ngay cả bên trong hội thánh có đôi chút câu nệ khi nói tới sự chết. Bạn không bao giờ nói với bạn bè của mình: “Nầy, tôi mới nhận được cái bánh pizza. Bạn mang theo Coke đi. Hãy qua nhà của tôi, chúng ta sẽ nói về buổi tối thứ Sáu chết chóc kia”. Bạn sẽ không nói như thế đâu, vì nếu bạn nói, chẳng một ai chịu qua nhà của bạn cả. Không một người nào muốn nói về sự chết hết.
Nhưng vào thời buổi xa xưa, khi cuộc sống khó nhọc hơn, người ta suy nghĩ nhiều về sự chết. John Wesley, nhà sáng lập phong trào Giám lý, thường nói về dân tộc của ông: “Dân tộc chúng ta đang dãy chết”.
Vì thế, bạn sẽ làm gì nếu hôm nay là ngày sau cùng của bạn trên đất? Bạn sẽ đi đâu? Bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ nói chuyện với ai? Và bạn sẽ nói gì đây?
I. Ngày sau cùng của Êli
Và điều đó đưa chúng ta đến với chương sau cùng trong câu chuyện của Êli. Từ II Các Vua 2, chúng ta học viết cách thức người của Đức Chúa Trời lìa bỏ trần gian nầy. Êli không chết, nhưng cách thức ông sử dụng ngày sau cùng của mình là một sứ điệp cho chúng ta cả thảy.
Chúng ta đã khởi sự chuyến hành trình với Êli trên vùng đồi núi. Từ vùng đồi núi, chúng ta đến trước mặt nhà vua. Tiếp đến, chúng ta đi với Êli đến khe suối, rồi sau khe suối chúng ta đến với người đàn bà góa ở Sarépta. Tại đó, chúng ta ở lại với Êli trong khi các phép lạ liên tục diễn ra. Từ đó chúng ta trèo lên Núi Cạtmên với Êli, nơi ông đối mặt với các tiên tri thần Baanh. Và sau khi ông rời Núi Cạtmên, chúng ta đi theo ông vào trong sa mạc và rồi vào trong một hang động của Núi Hôrếp. Chúng ta quan sát khi ông kêu gọi Êlisê trong một tư thế kỳ quặc. Tiếp đến chúng ta cùng đi với Êli khi ông đứng trước mặt Vua Achaxia. Giờ đây, chúng ta đến với chỗ cua sau cùng trên con đường, phần cuối cùng trong câu chuyện sống động đáng kinh ngạc của ông.
Và vào ngày sau cùng đời sống trần gian của Êli, ông đã có nhiều chuyến đi. Ông khởi hành ở Samari rồi đi đến Ghinh ganh. Từ Ghinh ganh, ông đến tại Bêtên. Từ Bêtên, ông đi xuống thành Giêricô. Từ Giêricô, ông qua bờ Đông của sông Giôđanh. Chuyến đi sau cùng của ông đưa ông trở về lại vùng đối núi đồi và hang động thời tuổi trẻ của ông. Sơn nhân của Đức Chúa Trời trở lại với vùng đồi núi mà ông xuất thân từ đó. Giữa vùng núi đồi lỡm chỡm đá và hẽm núi sâu, vị tiên tri sửa soạn để gặp gỡ Đức Giêhôva. Nương vào các con đường mà bạn đang bắt lấy, chúng có khoảng 55 dặm. Chừng đó là cả chuyến đi trong một ngày. Vì vậy, bất cứ điều chi khác bạn muốn nói, đừng nói Êli có ngoại lệ nhé. Rõ ràng, ông đang ở trong một khuôn khổ thật tuyệt vời. Đừng nói ông sẽ bị đưa về trời vì ông đã già yếu, mệt mõi và kiệt sức nhé, vì Êli vẫn có nhiều sức sống trong ngày sau cùng của ông. Cái điều dường như rõ nét đối với tôi, ấy là Đức Chúa Trời đã nói cho ông biết hôm nay sẽ là ngày ấy.
Có phải bạn tin Đức Chúa Trời đôi khi ban cho con cái Ngài một ít thông báo cho rằng thiên đàng không xa lắm đâu, có phải không? Tôi tin. Tôi không nghĩ Ngài thông báo như thế trong từng trường hợp. Song tôi tưởng tượng, hầu hết chúng ta có thể kể một câu chuyện nói tới thánh đồ của Đức Chúa Trời là người có linh cảm rằng thiên đàng không xa xôi lắm. Chúng ta nghe nhiều câu chuyện kể về các thiên sứ ca hát, về ánh sáng rực rỡ, và việc hiện thấy sự vinh hiển của Đấng Christ. Trong khi tôi không nghĩ chúng ta đã cả tin và tin theo mọi sự người ta nói, tôi không nghĩ chúng ta sẽ làm giảm sút tất cả các câu chuyện nầy. Trước khi ông qua đời, Êtiên đã có một sự hiện thấy về thiên đàng (Công Vụ các Sứ Đồ 7:55-56). Tôi tin rằng đôi khi Đức Chúa Trời để cho chúng ta nghe được âm thanh của xe ngựa đang chạy chậm đến để đưa chúng ta về quê hương. Đức Chúa Trời trong ân điển của Ngài đôi lúc để cho con cái Ngài nhìn biết rằng ngày ấy đã đến.
Vấn đề cũng rất rõ ràng ở chỗ Êlisê, là người hầu trẻ của ông, cũng nhìn biết đây là ngày sau cùng. Và rõ ràng là Đức Chúa Trời đã nói cho đoàn đông các vị tiên tri trong các thị trấn khác nhau biết nữa. Điều nầy giải thích lý do tại sao Êli sẽ làm mọi sự trong chuyến đi vào ngày sau cùng của mình. Rõ ràng là Êli đã xử lý thời gian của mình để gây dựng cho người khác. Trong từng thị trấn ở ba địa điểm như thế nầy, Êli đã dựng lên các chủng viện nhỏ ở địa phương, ở đó các vị tiên tri có thể được đào tạo để thi hành chức vụ. Họ yêu mến Êli và xem ông là thầy, tư vấn, anh hùng và bạn hữu của họ. Tại Ghinh ganh, Bêtên rồi Giêricô, ở mọi nơi ông đi đến trong ngày cuối cùng đó, ngôi trường của các tiên tri đã bị giải tán. Các vị tiên tri trẻ được đào tạo bởi những tiên tri cao tuổi đã bước ra để gặp người của Đức Chúa Trời khi ông thực hiện chuyến đi giã biệt. Không những Đức Chúa Trời đã nói cho Êli và Êlisê biết, mà Ngài còn nói cho các vị tiên tri khác trong Israel biết nữa: “Hôm nay, người của Đức Chúa Trời sẽ về lại quê hương”.
Tôi nghĩ rằng Êli đã biết rõ hôm nay là ngày ấy. Tôi không nghĩ ông biết một cách chính xác khi nào hay ở đâu hoặc cách nào thì việc ấy xảy ra. Tôi không biết ông đã có bất kỳ ý niệm nào về việc được đem lên trời trong một cơn gió lốc hay không!?! Vì vậy, Êli giờ đây có Êlisê ở cùng ông. Khi ông đến tại Ghinh ganh, ông nói: “Hãy ở lại đây”. Còn Êlisê thì nói: “Không, tôi sẽ đi cùng ông”. Khi ông đến tại Bêtên, ông nói: “Hãy ở lại đây”. Êlisê đáp: “Không, tôi sẽ đi cùng ông”. Khi ông đến tại Giêricô, ông nói: “Hãy ở lại đây” “Không, tôi sẽ đi cùng ông”. Khi ông đến tại sông Giôđanh, ông nói: “Hãy ở lại đây” “Không, tôi sẽ đi cùng ông”. Đây là phần thử nghiệm về lòng trung thành và là thử nghiệm về tính kiên trì. Đây là cách nói của Êli với người của mình: “Ta sắp sửa lìa khỏi ngươi. Ngươi có biết không?” Còn Êlisê thì nói với thầy của mình: “Bất cứ đâu thầy đi, tôi sẽ đi. Tôi sẽ ở với thầy cho đến cuối cùng”. Đây đúng là một bức tranh thật cảm động nói tới một người già và một người trẻ tuổi hơn và phần thử nghiệm sau cùng về lòng trung thành.
Vì vậy, ông đã sử dụng ngày sau cùng của mình với Êlisê, và ông sử dụng thì giờ của mình để chào tiếp và giã biệt các vị tiên tri trẻ, họ đang ngóng về ông như một vị anh hùng và là một bậc thầy. Chẳng có một chút e sợ nào ở đây hết. Êli không sợ hãi; Êlisê không sợ hãi. Chẳng có một ý thức nào về sợ hãi hay khiếp sợ, chỉ có một ý thức về việc được trọn vẹn trong đôi bàn tay của Đức Chúa Trời.
II. Lời lẽ sau cùng của Êli
Khi họ đến tại sông Giôđanh, Êli lấy cái choàng của mình, quấn nó lại, rồi đập xuống nước. Dòng nước bèn chia ra, một lần nữa cho thấy thể nào cả Êli và Môise đều được đầy dẫy với Thần của Đức Chúa Trời. Ngay trước khi Êli lên trời, ông xây lại rồi nói với người bạn trẻ của mình: “Ta có thể làm chi cho ngươi? Trước khi ta đi, trước khi ta đi, ngươi có yêu cầu gì không?” Và Êlisê đáp: “Nguyền xin thần của thầy cảm động tôi được bội phần” (câu 9) [Trong bản Kinh thánh Anh ngữ, câu nầy ghi là: “Xin ban cho tôi một phần bằng hai thần của ông”]. Có người đã chỉ trích Êlisê về việc đưa ra lời yêu cầu như thế, song tôi nghĩ là họ đã sai lầm. Chắc chắn khi Êlisê yêu cầu một phần bằng hai thần của Êli, ông đang tỏ ra mọi tiềm năng trong đời sống của ông.
Bạn nhận ra điều chi đã đánh dấu một người vào thời điểm như thế nầy. Donald Trump bước vào rồi nói: “Ta sẽ làm gì cho ngươi đây?” Bạn đáp: “Xin cung ứng cho tôi chiếc xe cút kít chứa đầy tiền bạc của ông”. Ông ta sẽ không bỏ qua yêu cầu ấy, ông ta có rất nhiều tiền. Bạn sẽ nói với một người khác: “Hãy đưa cho tôi danh sách tiếp xúc của ông”. Bạn sẽ nói với một người khác nữa: “Xin trao cho tôi công việc làm ăn của ông” “Xin trao công ty của ông cho tôi” “Xin trao mạng lưới của ông cho tôi” “Hãy đưa cho tôi chiếc xe của ông” “Hãy trao ngôi nhà của ông cho tôi” “Hãy trao bộ quần áo của ông cho tôi” “Hãy trao thị trường chứng khoán của ông cho tôi” “Hãy trao bầy gia súc của ông cho tôi” “Hãy trao nông trại của ông cho tôi” “Hãy trao gia đình ông cho tôi” “Hãy trao những quyển sách của ông cho tôi”.
Êlisê chỉ xin một phần bằng hai thần của Êli. Trong Cựu Ước, người con trưởng sẽ nhận một phần bằng hai tài sản của cha mình. Giờ đây, cụ thể thì Êlisê không phải là con trai của Êli theo phần xác, song ông là con thuộc linh của Êli. Vì vậy, ông đang hỏi xin trong vai trò người con trưởng về mặt thuộc linh: “Ồ, cha ơi, xin ban cho con những gì thuộc về con về mặt thuộc linh. Xin ban cho con một phần bằng hai thần của cha đi”, tại sao ông lại xin như thế chứ? Thời buổi ấy rất là khó nhọc trong xứ Israel, và chẳng bao lâu nữa mọi việc sẽ đâm tồi tệ hơn. Thay vì sẽ sáng sủa hơn trong thời của Êlisê, dân sự cứ tiếp tục tẻ tách ra khỏi Đức Chúa Trời. Êlisê vốn biết rõ để cho ông hầu việc Chúa trong những ngày tháng nhọc nhằn ở trước mặt, ông cần chính sự can đảm và chính quyết tâm và chính lòng ngoan cường mà thầy mình vốn có. Ông muốn chính tâm thần mà Êli đã có trên đỉnh Núi Cạtmên. Ông muốn chính tâm thần đã khiến cho Êli đến trước mặt vua Aháp ở chỗ đầu tiên. Ông muốn chính tâm thần mà Êli đã có khi ông đối diện với vua Achaxia. Ông muốn như thế, và ông biết rõ ông vốn cần tâm thần ấy. Đức Chúa Trời chúc phước cho Êlisê về việc nhận ra nhu cần trong đời sống của ông.
Êli đáp lại Êlisê: “Ngươi cầu xin một sự khó” (câu 10). Đây là ơn mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể ban cho. Khi ấy, ông thêm một điều kiện rất quan trọng: “Song nếu ngươi thấy ta lúc ta được cất lên khỏi ngươi, ắt sẽ được như lời bằng chẳng, thì không được” (câu 10).
Bây giờ, chúng ta đến với phần cuối của đời sống Êli ở trên đất: “Hai người cứ vừa đi vừa nói với nhau, kìa, có một cái xe lửa và ngựa lửa” (câu 11). Đấy là những hình ảnh có tính cách quân sự. Mấy con ngựa và chiếc xe là biểu tượng của chiến tranh. Êli là một chiến binh đánh trận cho Đức Chúa Trời. Đây là một dấu hiệu và là một biểu tượng cho thấy đã có một sự cuồng nộ chiến tranh trong tấm lòng của dân sự Israel. Nó có ý nói rằng một chiến binh sắp sửa về quê hương với Đức Chúa Trời. Đây là một dấu hiệu nói tới loại sự sống mà Êli đã nhắm tới. “Êli lên trời trong một cơn gió lốc” (câu 11). Đời sống của Êli là một sinh hoạt giống như cơn gió lốc. Ông rất hăng hái, năng động, kiên quyết, tự mình lăn xả vào cung điện của các vị vua bất kỉnh, thổi qua Israel giống như một trận cuồng phong đến từ Đức Chúa Trời. Ông rời trần gian giống như khi ông đã sống trên đó – trong một cơn gió lốc.
Chúng ta có khuynh hướng nhắm vào chuyến đi đặc biệt ấy, nhưng câu 12 cho thấy nhiều vấn đề hơn. “Êlisê nhìn thấy”. Năm mươi vị tiên tri đã đi theo ở một khoảng xa xa. Họ đã nhìn thấy Êli và Êlisê cùng đi với nhau và thình lình Êli biến mất. Tôi nghĩ điều nầy có ý nói rằng mọi sự họ nom thấy là Êli biến mất. Họ chẳng có ý kiến gì về mọi điều đã xảy ra. Chỉ có Êlisê với đôi mắt mở ra nhìn thấy những con ngựa lửa cùng chiếc xe lửa mà thôi. Chỉ có Êlisê là người nhìn thấy thầy của mình được cất lên trong một cơn gió lốc đó.
Êli đã nói: “Nếu ngươi thấy”. Có một loại nhìn thấy với đôi mắt, và có loại thấy với đôi mắt của tấm lòng. Đúng là khả thi với cái thấy 20/20 với đôi mắt bên ngoài và hoàn toàn mù lòa với đôi mắt bên trong. Bạn có thể sống tám mươi năm với cái thấy trọn vẹn và hoàn toàn bị mù với thực tại thuộc linh. Đấy là lý do tại sao Phaolô cầu nguyện trong Êphêsô 1:18 “soi sáng con mắt của lòng anh em”. Bạn có thể đến với Lớp Trường Chúa Nhật trọn cả đời mình, bạn có thể gia nhập một trường Cơ đốc hay vào Thần học viện, và con mắt lòng của bạn có thể bị đóng kín. Chỉ nếm trải các động lực thôi, điều đó không bảo đảm con mắt lòng của bạn sẽ được mở ra.
Thấy Đấng không thấy được
Hêbơrơ 11:27 chứa một cụm từ giúp chúng ta hiểu rõ nguyên tắc nầy. Khi nói tới tình trạng Môise bằng lòng lìa bỏ mọi sự giàu có của Aicập để sống trong đồng vắng với chính dân tộc của ông, tác giả nói rằng ông “đứng vững như thấy Đấng không thấy được”. Đấy là một trong những câu nói đáng nhớ và rất rõ nét trong cả Kinh thánh. Nó cho thấy đây là một điều bất khả thi. Làm thế nào bạn “thấy” một thân vị không thấy được chứ? Nếu bạn có thể thấy, bạn không thể không thấy. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng không thấy được, thế mà Môise đã “thấy” Ngài. Sao chứ? Ba từ thôi. “Bởi đức tin”. Môise có đức tin và đức tin của ông đã khiến cho ông thấy được. Và ông đã thấy Đức Chúa Trời là Đấng không thấy được. Đức tin thấy điều chi là thực sự có ở đó mặc dầu nhiều người khác chẳng nhìn thấy chi hết. Đức tin tin điều chi là thực mặc dầu nhiều người khác chẳng tin điều đó. Bởi đức tin, chúng ta nhìn thấy thực tại, nghĩa là chúng ta nhìn qua bên kia thế giới ở chung quanh chúng ta. Nhưng ý niệm ấy dường như chẳng có gì là kỳ lạ hết. Rốt lại, bài thánh ca đáng yêu nhất trong thế gian (“Amazing Grace”) chứa dòng nầy: “Tôi bị mất mà nay tìm lại được, trước tôi mù nay lại sáng” [theo bài thánh ca Anh ngữ].
Bởi đức tin, chúng ta nhìn thấy điều mà người khác không thấy được. Bạn có từng nhìn vào hình ảnh 3D chứa những hình ảnh kín giấu không? Khi lần đầu tiên bạn nhìn vào hình ảnh ấy, mọi sự bạn nhìn thấy những đường sóng hay dấu chấm chấm hoặc có lẽ các ngôi sao hay những mẫu trái cây. Nhưng nếu bạn nhìn gần hơn hình ảnh đó, và nếu bạn tập trung ánh mắt rồi quay nghiêng đầu một chút, thình lình nó lộ ra cái đầu của Mozart hay một thiếu nữ đang nhảy múa hoặc một con chim thật lớn. Kể từ khi thị lực của tôi không hoàn hảo lắm, tôi có rắc rối với những hình ảnh 3D kia. Thường thì việc duy nhất tôi có thể thấy là một loạt đường sọc hoặc cái gì đó trông hao hao như cái đầu bắp cải. Trước nổi kinh ngạc của tôi, Marlene luôn luôn nhìn thấy hình ảnh “ẩn” kia. Nhưng chỉ vì tôi không thể thấy thì không có nghĩa là hình ảnh không có ở đó đâu. Sự việc giống như thể cái đầu của Mozart thình lình xuất hiện từ một chỗ nào đó vậy. Mọi sự đều có ở đó. Hình ảnh “ẩn” có ở đó dù tôi có nhìn thấy hay là không. Đột nhiên thì bạn nhìn thấy hình ảnh luôn luôn có ở đó. Cũng một thể ấy với đời sống đức tin. “Thế giới ẩn” của thực tại đời đời có ở đó dù chúng ta nhìn thấy hay không nhìn thấy. Và bởi đức tin, chúng ta “thấy” thế giới ấy, mặc dù người khác trong thế gian không nhìn thấy.
Kinh nghiệm quyết định sự tin tưởng của chúng ta
Nguyên tắc nầy có nhiều ứng dụng. Cách đây không lâu lắm, tôi có nghe một diễn giả nói rằng “kinh nghiệm quyết định sự tin tưởng của chúng ta”. Khi ấy, ông ứng dụng điều đó cho những kẻ chạy theo tôn giáo khác bằng cách nói rằng ông không lấy làm giận đạo Hồi hay đạo Phật hoặc Ấn giáo hay nhiều nhà thế tục mà chúng ta gặp gỡ mỗi ngày. Tại sao phải giận họ chứ? Nếu họ thực sự tin những gì họ xưng họ tin theo, sở dĩ như thế là vì họ đã có một kinh nghiệm quyết định cho sự họ tin. Cách đây nhiều năm, tôi đã học biết rằng “kinh nghiệm của bạn luôn luôn đánh bại lý thuyết của tôi”. Tôi không thể sử dụng cách lý luận để hủy diệt kinh nghiệm của bạn, ít nhất là không thể nếu nó thực sự nói tới điều chi đó quan trọng đối với bạn. Hết thảy chúng ta đều gắng sức tranh luận với người ta về Nước của Đức Chúa Trời và sự tranh luận đó chẳng có tác động chi hết. Bạn không thể thuyết phục được ai rằng Chúa Jêsus yêu thương họ bằng cách thề hay đe dọa họ hoặc cất cao giọng của mình trong giận dữ. Thay vì giận dữ với những người có tín điều khác biệt hiển nhiên, chúng ta nên cầu nguyện với Đức Chúa Trời xin Ngài ban cho họ một kinh nghiệm về lẽ thật. Chỉ khi ấy họ sẽ bị thuyết phục để tin theo một cách đặc biệt.
Điều đó xảy ra khi tôi viết mấy lời nầy từ một căn hộ ở Bắc kinh, Trung hoa. Cách đây hai ngày, tôi giảng cho một nhóm nhỏ các cấp lãnh đạo Cơ đốc và giải đáp mọi thắc mắc của họ. Một phụ nữ muốn biết cách thức giúp cho người bạn của mình chưa nhìn biết Đấng Christ. Bà đã cố gắng và tìm cách giúp cho người bạn song dường như chẳng có kết quả chi hết. Tôi trình bày cho bà ấy ba điều. Thứ nhứt, giữ lấy người bạn của bà ấy. Bạn chẳng thể giúp được ai nếu bạn không trao đổi với họ. Thứ hai, hãy gieo ra “hột giống lẽ thật” trong cuộc trao đổi với người bạn đó. Đừng tranh luận và đừng ra sức thuyết phục người bạn ấy mà chi. Thứ ba, hãy cầu nguyện, cầu nguyện và cứ giữ lấy sự cầu nguyện vì chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể thực sự thay đổi tấm lòng. Lời lẽ của chúng ta có thể sâu sắc lắm, song Thánh Linh của Đức Chúa Trời mới có thể làm tan chảy tấm lòng chai cứng nhất. Và tôi yêu cầu bà ấy: “Đừng lấy làm giận nơi một người mù lòa vì họ không thể nhìn thấy màu xanh lá cây?” Không, bạn đừng lấy làm giận mà chi. Nếu bạn không thể nhìn thấy màu sắc đó, bạn không thể thấy được màu sắc đó. Nổi giận chỉ làm cho mọi sự ra tệ hại thêm mà thôi, chớ không khá hơn đâu. Một khi chính Satan là kẻ làm mù tâm trí của người tín đồ (II Côrinhtô 4:4), chúng ta phải cầu nguyện xin Đức Chúa Trời mở mắt của họ ra để nhìn thấy lẽ thật. Họ sẽ chẳng bao giờ chịu tin những gì mà họ không nhìn thấy, và họ sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy cho tới chừng nào con mắt lòng của họ được mở ra, và chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm được điều đó. Nhưng Đức Chúa Trời có thể làm sự ấy, và đấy là lý do tại sao chúng ta phải cầu nguyện, cầu nguyện và cứ giữ lấy sự cầu nguyện.
Êli nói: “Ngươi có thể có quyền phép nếu ngươi thấy ta ra đi”. Không những ông nói nếu ngươi nhìn thấy ta bằng mắt thường, một khi Đức Chúa Trời ban cho ngươi cái thấy thuộc linh để hiểu, một khi Ngài mở con mắt lòng của ngươi ra.
Làm sao tôi biết Đức Chúa Trời đáp trả cho lời cầu nguyện chứ? Không phải vì Êlisê làm cho sông Giôđanh rẻ ra với cái áo choàng của Êli. Tôi biết điều đó vì cớ câu chuyện kỳ diệu nầy đã xảy ra ở II Các Vua 6:8-17 khi Êlisê và tôi tớ của ông đang ở tại Đôthan và quân đội của Vua Aram đã hoàn toàn vây quanh họ. Đây là một tình huống rất vô vọng. Mặc dù người tôi tớ thấy vọng lắm, Êlisê bảo người đừng lo vì “những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó” (câu 16). Khi ấy Êlisê cầu nguyện: “xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được” (câu 17). Khi mắt hắn được mở ra, gã tôi tớ mới nhìn thấy các đạo binh của Đức Chúa Trời đã dàn trận trong các đám mây bên trên đạo quân của người Aram. Có đôi mắt được mở ra để nhìn thấy thực tại thuộc linh thì đây là điều quan trọng nhất, để hiểu rõ thế giới nầy không phải là thế giới duy nhứt. Khi con mắt lòng được mở ra, bạn hiểu ngay rằng thế giới không thấy được là thế giới thực, thế giới ấy mới là vấn đề.
III. Di sản sau cùng Êli
Thế là giờ đây một vị tiên tri được cất đi, còn một vị tiên tri bị để lại, cho chúng ta thấy rằng chiến trận còn tiếp diễn. Hội thánh vui mừng đắc thắng ở trên trời trong khi hội thánh còn chiến đấu trên đất đang tiếp tục đánh nhau.
Êlisê đã nhìn thấy thực tại thuộc linh. Ông đã nhìn thấy phần phía sau của bối cảnh. Ở cuối câu chuyện, có ba việc đang xảy ra liên tiếp nhanh chóng:
Số 1: Ông nhìn thấy Êli rời đi.
Số 2: Ông nhặt lấy cái áo choàng.
Số 3: Ông lấy cái áo choàng đập lên sông Giôđanh rồi nói: “Giêhôva Đức Chúa Trời của Êli ở đâu?”
Tại sao ông lại làm như thế chứ? Êlisê ở bên bờ phía Đông sông Giôđanh. Chức vụ của ông đặt ở bờ phía Tây. Giữa ông và sự kêu gọi thiêng liêng của ông đã tuôn tràn qua làn nước đầy bùn của sông Giôđanh. Ông phải qua sông để bước vào phần chỉ định của Đức Chúa Trời cho đời sống của ông. Chẳng có thời điểm nào tốt đẹp hơn hiện tại để nhận ra rằng Đức Chúa Trời ở cùng ông giống như Ngài đã ở cùng Êli.
Bộ bạn không nghĩ cần phải lấy can đảm để cầm chiếc áo choàng lên rồi đập xuống sông Giôđanh chăng? Ông đã nhìn thấy Êli phân rẻ dòng sông, nhưng cũng cùng một việc ấy có xảy ra với ông chăng? Êli đã đi rồi, nhưng có phải Đức Chúa Trời của Êli cũng đi luôn không?
Đấy luôn luôn là một thắc mắc rất lớn.
Giêhôva Đức Chúa Trời của Luther ở đâu?
Giêhôva Đức Chúa Trời của Calvin ở đâu?
Giêhôva Đức Chúa Trời của Jonathan Edwards ở đâu?
Giêhôva Đức Chúa Trời của Charles Haddon Spurgeon ở đâu?
Giêhôva Đức Chúa Trời của J. Hudson Taylor ở đâu?
Giêhôva Đức Chúa Trời của D. L. Moody ở đâu?
Giêhôva Đức Chúa Trời của Billy Sunday ở đâu?
Giêhôva Đức Chúa Trời của Jim Elliott ở đâu?
Cần phải lấy đức tin để nắm lấy chiếc áo choàng kia rồi đập lên mặt nước, chớ không phải muốn biết điều chi sẽ xảy ra. Cần phải có lòng can đảm để làm việc đó. Việc đó là cần thiết. Êlisê đã làm như vậy.
Ông đã làm như vậy.
Điều đó không thể xảy ra trong khi Êli vẫn còn ở trên trần gian. Êli phải ra đi để Êlisê dấy lên. Tôi nghĩ thời buổi nầy là dành cho các con trai của tôi. Khi bài nầy được viết ra, chúng được 26, 24 và 21 tuổi rồi. Chẳng có một việc nào giống như đức tin chuyền tay được. Từng thế hệ phải khám phá quyền phép của Đức Chúa Trời cho chính mình. Josh, Mark và Nick không thể sống bằng đức tin của tôi được. Chúng phải tìm kiếm đức tin cho riêng mình.
Josh phải tìm kiếm chính đức tin của nó.
Mark phải tự mình nhìn thấy.
Nick phải tiếp nhận đức tin đó cho bản thân nó.
Êli phải ra đi để Êlisê nắm lấy chức vụ của ông. Cũng một thể ấy cho từng thế hệ. Các lãnh tụ dấy lên, lãnh đạo, đánh trận cho Đức Chúa Trời, và rồi đến giờ định, họ rời khỏi bối cảnh, để được thay thế bởi những người khác mà Đức Chúa Trời đã dấy họ lên.
Đức Chúa Trời đặt tên cho những kẻ kế tục của Ngài
Giờ đây, chúng ta đến với ngã rẻ sau cùng của con đường. Êli đang ở trên trời và ông đang sống mạnh giỏi hôm nay. Hàng trăm năm sau, Đức Chúa Trời phán qua Malachi: “Nầy, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến” (Malachi 4:5). Bốn trăm năm sau, Chúa Jêsus phán về Giăng Báptít: “ấy là Ê-li, là đấng phải đến” (Mathiơ 11:14). Ngài có ý nói rằng Giăng Báptít đã đến trong tinh thần và quyền phép của Êli (Luca 1:17). Rồi sau đó, Êli xuất hiện trên Núi Hóa Hình với Chúa Jêsus, Phierơ và Giăng (Mác 9:2-8). Như vậy thì ông hãy còn sống hôm nay.
Vì thế, nếu hôm nay là ngày sau cùng của bạn, bạn sẽ sử dụng nó ra sao? Bạn sẽ làm gì? Đối với những ai nhìn biết Chúa, sự chết chẳng có gì phải sợ hãi. Thì giờ ngắn ngủi của chúng ta trên đất mau qua, rồi chúng ta bay mất đi. Chúng ta có mặt ở đây hôm nay rồi qua đi vào ngày mai. Đây là lời nói tuyệt vời sau cùng ra từ đời sống của Êli.
Êli về trời.
Êlisê cưu mang công việc của ông.
Công việc của Đức Chúa Trời còn tiếp diễn.
Công việc tiếp diễn vì Đức Chúa Trời hằng còn mãi luôn.
Ngài đã có mặt ở đây trước khi chúng ta đến, và Ngài sẽ ở đây cho dù chúng ta đã qua đi rồi. Không một điều gì thuộc về Đức Chúa Trời bị hư mất đi khi người của Đức Chúa Trời qua đi. Khi Êli về trời, Đức Chúa Trời vẫn y như nguyên cũ. Khi Êlisê chết đi, Đức Chúa Trời vẫn y như nguyên cũ. Chúng ta sẽ nói khi người thân của chúng ta qua đời: “cái chết sẽ chẳng bao giờ y như thế đâu”. Và đấy là sự thực. Sự sống đối với chúng ta sẽ chẳng bao giờ là một với những người thân của chúng ta đã qua đời rồi. Nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta đang ở trên trời; Ngài không thay đổi. Thế gian không quay tròn quanh bạn và tôi, và nó không nương vào sự hiện diện cá nhân của chúng ta.
Thi thiên 100:5 cho chúng ta biết rằng sự thành tín của Đức Chúa Trời “còn đến đời đời”. Sát nghĩa câu nầy có ý nói rằng “từ thế hệ nầy sang thế hệ khác”. Xuất Êdíptô ký 20:6 cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu của Ngài ra “ngàn đời” cho những ai yêu mến Ngài. Kể từ khi một thế hệ là 40 năm, điều nầy có ý nói tình yêu của Đức Chúa Trời kéo dài ít nhất 40.000 năm. Và kể từ khi lời hứa nầy được ban cho Môise tại Núi Sinai khoảng 3.500 năm trước, chúng ta có thể kết luận chắc chắn rằng tình yêu thành tín của Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục ít nhất 36.500 năm nữa. Như vậy phải nói là, trong 3.500 năm chúng ta chưa đi đủ 10% chiều dài con đường yêu thương của Đức Chúa Trời. Nhưng chắc chắc đấy chưa hẳn là nghĩa đen đâu. Thực vậy, chưa hẳn đâu. Nhưng đấy cũng hoàn toàn là hình bóng nữa. Đấy là cách tỏ ra cho chúng ta thấy rằng tình yêu thương và sự thành tín của Đức Chúa Trời trổi hơn bất kỳ suy tưởng nào của con người. Giả sử chúng ta sắp hàng từ ông nội, cha, con, cháu, chắt trên một hàng dài. Thi thiên 100:5 cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời như thế nào với ông nội, Ngài sẽ như thế ấy với người làm cha! Ngài thế nào với người cha, Ngài cũng thế ấy với người làm con. Ngài thế nào với người làm con, Ngài cũng thế ấy với người làm cháu. Ngài thế nào với người làm cháu, Ngài cũng thế ấy với người chắt. Và cứ như thế trải qua các thế kỷ. Nhiều thế hệ đến rồi đi, hết thế hệ nầy đến thế hệ khác. Chỉ có Đức Chúa Trời mới y như nguyên cũ cho đến đời đời.
Tôi rất vui sướng khi sự thành tín của Đức Chúa Trời chuyển đi cho các thế hệ. Vào thời điểm tôi 53 tuổi hướng tới … sao chứ? 55? 60? 75? Có thể là 80 hay thậm chí 90 tuổi, nếu Đức Chúa Trời chúc phước cho tôi được sống lâu. Nhưng tôi sẽ không sống cho đến đời đời được. Khi năm tháng dần qua, tôi thấy mình nhận ra thể nào sự sống của mình được gói ghém nơi ba đứa con của mình. Hôm qua, chúng ngồi ghế mẫu giáo, hôm nay hầu như chúng đã lớn khôn, và ngày mai chúng sẽ trở thành ông nội. Liệu Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc cho chúng chăng? Còn con cháu của chúng thì sao? Và cháu chắt của chúng thì sao? Liệu Đức Chúa Trời sẽ ở đó vì chúng chăng? Câu trả lời là “yes” vì sự thành tín của Đức Chúa Trời không nương vào tôi mà nương vào bổn tánh của Đức Chúa Trời đang rải ra trên các thế hệ. Như vậy, tôi không phải sống mãi để biết chắc các con trai mình sẽ okay. Đức Chúa Trời sẽ thực hiện vấn đề đó. Sau khi tôi rời khỏi đất nầy, và thậm chí nếu mọi lời cầu xin của tôi chưa được nhậm, tôi có thể tin cậy Đức Chúa Trời quan phòng đến các con của tôi. Điều nầy đúng là một sự an ủi. Tôi có thể làm hết sức mình để giúp cho các con trai tôi khi tôi còn ở đây, và sau khi tôi lìa đời, sự thành tín của Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục cho chúng và cho con cháu của chúng nữa, và thậm chí cho chắt chít của chúng nữa.
Êli về trời.
Êlisê nhặt lấy chiếc áo choàng rồi thi hành công việc của mình.
Đức Chúa Trời đặt tên của kẻ kế tục Ngài.
Giêhôva Đức Chúa Trời của Êli cũng là Giêhôva Đức Chúa Trời của Êlisê.
Chúng ta đến rồi đi, nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta rải ra trên các thế hệ.
Giêhôva Đức Chúa Trời của Êli ở đâu? Tôi đã đem các tin tức tốt lành đến cho các bạn. Ngài vẫn hiện diện ở đây. Lời lẽ sau cùng ra từ miệng của Êli là: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống” (I Các Vua 17:1). Giêhôva Đức Chúa Trời của Êli là Đức Chúa Trời của chúng ta hôm nay.
Vì vậy, tôi để lại cho bạn với thắc mắc mà tôi đã khởi sự với. Giêhôva Đức Chúa Trời của Êli ở đâu? Ngãi vẫn hiện diện ở đây. Đâu là những Êli của Giêhôva Đức Chúa Trời trong chính hội chúng của chúng ta?
Lạy Cha, chúng con cảm tạ Ngài vì niềm vui mạo hiểm với một con người cao trọng như vậy. Con cảm tạ Ngài vì anh chị em con là những người đã đọc qua mấy lời nầy. Còn cầu nguyện rằng Ngài sẽ tạo ra trong chúng con những người có đức tin như Êli trong cuộc sống của thời buổi nầy. Xin khiến cho chúng con được mạnh mẽ và dạn dĩ để rao giảng và đứng vững cho Ngài, cho Giêhôva Đức Chúa Trời của Êli vẫn hằng sống hôm nay. Chúng con cầu nguyện trong danh của Chúa Jêsus.

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

I Các Vua 17:1: "Sơn Nhân Của Đức Chúa Trời"


Sơn Nhân
Của Đức Chúa Trời

– I Các Vua 17:1
Cuối tháng 12, ngay sau thảm họa sóng thần, bạn tôi là Ramesh Richard, một giáo sư tại thần học viện Dallas, đã gửi email chứa lời cầu nguyện chỉ có một câu, thật đơn giản. Ông ấy gọi đấy là “lời cầu nguyện nguy hiểm”. Ngay giờ phút tôi nhìn thấy lời cầu nguyện đó, tôi biết đấy sẽ là lời cầu nguyện của tôi dành cho năm 2005. Đại loại là như thế nầy: “Lạy Chúa, xin hãy làm những việc mà chúng con không làm được”. Vì vậy, vào cuối tháng 12, tôi đã khởi sự cầu nguyện cho bản thân và cho gia đình tôi, và tôi chổi dậy vào Chúa nhật đầu tiên của tháng Giêng, nói với hội chúng là chúng ta sẽ thực thi lời cầu nguyện của chúng tôi cho năm 2005: “Lạy Chúa, xin hãy làm những việc mà chúng con không làm được”. Lời cầu xin ấy làm cho một số người sợ bắt chết, và tôi đã khám phá ra rằng nếu bạn dâng lên lời cầu nguyện ấy, bạn nên sẵn sàng vì Đức Chúa Trời sẽ lay động bạn và lay động cả gia đình bạn. Và nhất định Ngài đã làm như thế cho gia đình của tôi.
Tôi đang ghi ra mấy lời nầy từ một cabin nhìn qua hồ. Bạn đến với cabin bằng cách đi qua cái cổng chuồng gia súc rồi lái xe đi khoảng một dặm rưỡi xuống con đường đá sỏi. Muốn vào con đường đá sỏi, bạn phải bắt con đường nối với quốc lộ dính liền với Natchez Trace. Nếu bạn đi về phía Nam 9 dặm, bạn đến thị trấn Tupelo, bang Mississippi. Bạn sẽ không đến cabin do tình cờ được. Bạn khó có thể đến được đây lắm. Sáng nay, khi tôi nhìn qua hồ, mặt nước ĩnh lặng hoàn toàn. Ngôi nhà gần nhất cách đó khoảng nửa dặm. Hồ và cabin nằm lọt lòng trong cả trăm mẫu rừng. Cách đó hai ngày, tôi có gặp một thanh niên lái chiếc xe tải nhỏ chạy trên con đường đá sỏi kia. Anh ta nói cho tôi biết rằng anh ta săn nai bằng cung tên và cánh đồng ở bờ bên kia hồ “có nhiều nai lắm” và khu rừng có rất nhiều gà tây sống hoang dã. Khi ấy tôi biết mình không còn ở tại Oak Park nữa. Một số người trong các bạn sẽ nhớ rằng chỗ nầy là Green Acres, là nơi “giã từ cuộc sống thành thị”. Cụm từ đẹp đẽ ấy mô tả tình huống hiện tại của chúng tôi.
Chúng ta có mặt ở đây vì Chúa đã kêu gọi chúng ta phải có mặt ở đây, ít nhất là trong lúc bấy giờ. Chúng ta có mặt ở đây bởi sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, tìm kiếm mặt Ngài hầu cho chúng ta có thể nhận biết Ngài tốt hơn và nhận ra những gì Ngài muốn chúng ta phải lo làm kế tiếp.
Chúng ta dám chắc rằng đây là phần trả lời của Đức Chúa Trời cho sự cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin làm những việc mà chúng con không làm được”. Tôi đã viết ở các địa điểm khác về Trung Hoa và về các con của chúng tôi, và về chứng ung thư của Marlene và sự hồi phục liên tục của nàng, sự hồi phục ấy diễn tiến tốt đẹp và chúng tôi dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự tiến triển ấy.
Tôi đã nói rằng khi bạn dâng lên lời cầu nguyện của Chúa, xin làm những việc là chúng ta không làm được, bạn nên khóa dây an toàn lại vì Đức Chúa Trời sẽ làm lay động mọi sự. Ngài không phải là một Đức Chúa Trời của Status Quo [nguyên trạng]. Trước tiên, Ngài lay động chúng ta, và kế đó Ngài sử dụng chúng ta để lay động thế giới của chúng ta. Đấy luôn luôn là phương pháp của Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời muốn làm thay đổi thế giới, Ngài bảo Nôê phải làm một việc mà ông chưa hề làm trước đó (đóng một chiếc tàu) để sửa soạn cho một việc quan trọng mà ông chưa hề thấy trước đó (mưa). Khi Đức Chúa Trời muốn tạo ra một dân lớn, Ngài kêu gọi một thương nhân thành công, ở độ tuổi trung niên tên là Ápram và bảo ông rời khỏi Urơ xứ Canhđê. Khi Đức Chúa Trời muốn giải phóng dân sự Ngài, Ngài tìm một người hay nói lắp có tên là Môise rồi bảo ông đến trao đổi với Pharaôn. Khi Đức Chúa Trời cần ai đó để đánh bại Gôliát, Ngài đã chọn một gã chăn chiên tên là David. Khi Đấng Christ cần một số người để ở kề cận Ngài, Ngài đã chọn mấy ngư phủ và những người thu thuế, một cái miệng lớn tiếng tên là Phierơ và hai anh em được gọi là “con trai của sấm sét”, rồi bảo họ bỏ hết mọi sự mà theo Ngài. Hãy nói về việc làm mọi sự mà bạn không làm được. Tôi lặp lại. Ngài không phải là một Đức Chúa Trời của Status Quo.
Với sứ điệp nầy, chúng ta đang khởi sự nghiên cứu về một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của Cựu Ước. Ông là một vị tiên tri và ông là một sơn nhân, không biết đến từ đâu rồi bước vào bối cảnh chính. Ông sống bên dòng suối trong một hẽm núi. Rồi kế đó trong nhà của người đàn bà góa. Ông đã đánh bại các tiên tri của Baanh trên Núi Cạtmên rồi bỏ chạy trốn trong một hang đá. Ông rất thô kệch và chẳng sành sõi lắm, tuy nhiên Đức Chúa Trời đã sử dụng ông để làm lay động cả một quốc gia. Vì ông không theo status quo, ông làm cho mọi người sống quanh ông thấy khó chịu. Và chúng ta vẫn còn nói về ông 2.700 năm sau đó. Tên của ông là Êli. Ông là Sơn Nhân của Đức Chúa Trời.
Bảy vì vua gian ác
Câu chuyện của chúng ta bắt đầu ở I Các Vua 15. Đối với hầu hết chúng ta, đây là phần có những trang giấy trắng của Kinh thánh. Phải nói như thế, đây là một tiểu đoạn Kinh thánh mà chúng ta thường không đặt mắt tới nhiều, trừ phi chúng ta đang ra sức đọc hết Kinh thánh cả năm. Đấy là một sự xấu hổ vì các chương nầy chứa lẽ thật thuộc linh quan trọng mà chúng ta cần phải học hỏi. Tác giả của sách I Các Vua đưa câu chuyện lần theo các vị vua của Israel và các vị vua xứ Giuđa, và bằng cách đặt họ đối nghịch nhau, ông lôi kéo người ta chú ý đến những người đồng đi với Đức Chúa Trời và những ai không đồng đi với Đức Chúa Trời. Về mục đích của chúng ta, chúng ta sẽ tập trung vào các vị vua xứ Israel, là tên được ban cho mười chi phái phương Bắc sau khi đất nước chia đôi vào năm 931TC. Mười chi phái phương Bắc thường được gọi là Israel; hai chi phái phía Nam thường được gọi là Giuđa. Tôi muốn bạn chú ý đến sự nối ngôi liên tục của các vì vua trong mười chi phái phương Bắc.
Vị vua đầu tiên của mười chi phái phương Bắc là một người có tên là Giêrôbôam. Chúng ta biết ông ta không phải là một nhà vua nhơn đức vì ông ta đã dựng lên các hình tượng của hai con bò con vàng, một tại Đan ở phương Bắc và một tại Bêtên ở phía Nam. Và ông ta đã nói với dân sự mình “Đây là thần của các ngươi. Các ngươi không phải đi xuống thành Jerusalem để thờ phượng. Hãy đi tới Đan về phía Bắc hay tới Bêtên về phía Nam và ở đó hãy dâng các thứ của lễ cho thần chơn thật của xứ các ngươi”. Và thế là Giêrôbôam đã giới thiệu sự thờ lạy hình tượng cho cả xứ, và ông ta đã giáng trên dân sự mình cơn thạnh nộ của Giêhôva Đức Chúa Trời.
Con trai của Giêrôbôam là Nađáp tiếp nối ngôi vị của ông. Chúng ta mở câu chuyện ra ở I Các Vua 15:25-26: “Năm thứ hai đời A-sa, vua Giu-đa, Na-đáp, con trai Giê-rô-bô-am, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên, và trị vì trên Y-sơ-ra-ên hai năm. Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo đường của tổ phụ mình, phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm và khiến cho Y-sơ-ra-ên can phạm nữa”. Nađáp đã trị vì chỉ có hai năm vì ông đã bị ám sát chết: “Năm thứ ba đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia, lên làm vua cả Y-sơ-ra-ên; người ở tại Tiệt-sa, và cai trị hai mươi bốn năm. Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo đường của Giê-rô-bô-am, và tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội” (I Các Vua 15:33-34).
Vì vậy, giờ đây chúng ta có ba vị vua trong xứ Israel, người sau còn tệ hại hơn người đi trước:
Giêrôbôam
Nađáp
Baêsa
Baêsa có con trai, tên của người nầy là Êla. “Năm thứ hai mươi sáu đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ê-la, con trai Ba-ê-sa, lên làm vua Y-sơ-ra-ên. Người ở tại Tiệt-sa, và cai trị hai năm” (I Các Vua 16:8). Câu 12 chép: “Vì các tội lỗi mà Ba-ê-sa và Ê-la con trai người đã phạm, tức là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên can phạm, và vì các sự hư không của chúng nó chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên”. Đây là vị vua thứ tư và ông ta sống tồi tệ y như ba vị vua trước đó. Sau hai năm, có một người tên là Ximri ám sát Êla. I Các Vua 16:15 chép Ximri trị vì chỉ có 7 ngày mà thôi. Bất nhiêu không đủ lâu để bắt đầu lo liệu mọi thứ cho cung điện. Bạn không có thì giờ để thải hồi trang thiết bị cũ và sắm sửa các trang thiết bị mới. Sau một tuần ở trên ngôi, ông ta bị ám sát bởi một người có tên là Ômri: “vì những tội lỗi người đã phạm, làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, bắt chước theo đường của Giê-rô-bô-am, và phạm tội Giê-rô-bô-am đã phạm, tức tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên can phạm” (I Các Vua 16:19).
Vì vậy, đây là bảng danh sách các vị vua:
Giêrôbôam
Nađáp
Baêsa
Êla
Ximri
Ômri
Ômri là vị vua tệ hại nhất trong các vị vua đó. Hãy xem ở I Các Vua 16:25. “Ôm-ri làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, ăn ở tệ hơn các người tiên bối người” (I Các Vua 16:25).
Tuy nhiên, có một người nữa trong bảng danh sách dài nầy về các vị vua gian ác thuộc Israel, một cái tên bạn sẽ nhớ ra ngay. Chúng ta được I Các Vua 16:28 cho biết rằng: “Ôm-ri an giấc với tổ phụ mình, và được chôn tại Sa-ma-ri. A-háp, con trai người, kế vị người”. Bạn đã nghe thấy cái tên đó rồi. Những người khác chúng ta không biết đến nhiều, nhưng Aháp thì chúng ta biết nhiều đấy. Bạn đã nghe nói về ông ta, và có lẽ bạn đã nghe nói tới Giêsabên, vợ của ông ta nữa.
Sau hết, chúng ta đến với dòng tận cùng.
“A-háp, con trai Ôm-ri, làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va hơn hết thảy các người tiên bối mình. Vả, người lấy sự bắt chước theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, làm nhỏ mọn, nên người đi lấy Giê-sa-bên, con gái Ết-ba-anh, vua dân Si-đôn, mà làm vợ; người cũng đi hầu việc Ba-anh và thờ lạy nó. Người lập một bàn thờ cho Ba-anh tại trong miễu của Ba-anh mà người đã cất tại Sa-ma-ri. A-háp cũng dựng lên một hình tượng Át-tạt-tê. Vậy, A-háp làm nhiều điều ác, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hơn các vua Y-sơ-ra-ên trước mình” (I Các Vua 16:30-33).
Vì vậy, câu chuyện mở ra như thế nầy:
Giêrôbôam làm điều ác trước mặt Đức Giêhôva.
Nađáp con trai ông ta làm điều ác trước mặt Đức Giêhôva.
Ông ta bị ám sát bởi Baêsa là kẻ làm điều ác trước mặt Đức Giêhôva.
Êla, con trai ông ta lên nối ngôi, hắn cũng làm điều ác trước mặt Đức Giêhôva.
Ông ta bị ám sát bởi Ximri, là người làm điều ác trước mặt Đức Giêhôva.
Ông ta bị ám sát bởi Ômri, là người làm điều ác trước mặt Đức Giêhôva..
Ông ta được kế tục bởi con trai mình là Aháp, là người tệ hại nhất trong hết thảy các vua xứ Israel cho tới điểm nầy.
Từ Giêrôbôam đến Nađáp đến Baêsa đến Êla đến Ximri đến Ômri đến Aháp, chúng ta không có đi lên. Cả nước đi xuống theo hình xoắn ốc và dường như ngay khi bạn suy nghĩ mọi sự không thể tồi tệ hơn nữa, với cái đáy rỗng tuếch, và cả nước rơi thẳng vào tình trạng thờ lạy hình tượng và phi luân.
“Đức Chúa Trời đã phó họ”
Khi tôi đọc câu chuyện bẩn thỉu nầy nói tới hạng người gian ác lừa dối chính dân tộc của họ, tôi tự hỏi mình một câu. Đức Chúa Trời ở đâu chứ? Đức Chúa Trời ở đâu chứ? Kinh thánh cho chúng ta biết mọi điều mà những người nầy đã chọc giận Giêhôva Đức Chúa Trời. Nếu thực vậy, thì Đức Giêhôva đã ở đâu chứ? Tôi thưa với bạn rằng trong nhiều năm trời người ta chẳng tìm thấy Ngài ở đâu cả. Thưa quí bà, quí ông, đôi khi Đức Chúa Trời xét đoán chúng ta bằng sự can thiệp rất năng động, và có khi Đức Chúa Trời xét đoán một dân tộc và một quốc gia bằng cách rất đơn giản: để cho họ yên. Rôma 1 giải thích tiến trình nầy rất chi tiết. Nếu bạn muốn hiểu rõ dòng lịch sử và lý do các nước suy bại, nếu bạn muốn biết rõ lý do tại sao từng đế quốc của con người cuối cùng sập tiệm, hãy đọc Rôma 1. Vì con người đàn áp lẽ thật nói tới Đức Chúa Trời, họ đổi sang thờ lạy hình tượng. Vì họ quên Đức Chúa Trời, Ngài quên họ. Ba lần trong Rôma 1, Phaolô sử dụng một cụm từ mô tả đáp ứng của Đức Chúa Trời trước sự loạn nghịch của con người:
“Đức Chúa Trời đã phó họ” (câu 24).
“Đức Chúa Trời đã phó họ” (câu 26).
“Đức Chúa Trời đã phó họ” (câu 28).
Các bản dịch khác sử dụng một mệnh đề như “Đức Chúa Trời đã gán họ vào”. Mệnh đề nầy ra từ một chữ Hylạp có ý nói tới việc gán vào sự phán xét. Đấy là những gì sẽ xảy ra vào cuối phiên tòa, khi vị thẩm phán nói cùng người chấp pháp: “Hãy đưa người nầy đi”. Người ấy bị “gán cho” việc tù đày. Đấy là những gì đang xảy ra ở Rôma 1. Khi bất kỳ dân nào nói: Chúa ơi, chúng tôi không cần Ngài, Đức Chúa Trời phán: Tốt thôi; hãy đi đường ngươi. Mục sư C.S. Lewis nói rằng thực sự chỉ có hai lời cầu nguyện mà chúng ta có thể dâng lên. Từng lời cầu nguyện trong vũ trụ đều rơi vào một trong hai phạm trù:
Nguyện ý Ngài được nên, hay
Ý tôi sẽ được nên.
Nếu chúng ta thưa với Đức Chúa Trời: “Tôi không muốn làm theo ý của Ngài, nguyện ý tôi được nên”, Đức Chúa Trời phán: “Hãy đi đường ngươi, nhưng ngươi sẽ không thấy vui sướng với các kết quả đâu”. Hết thảy chúng ta đều biết ai đang là những minh họa sống động cho nguyên tắc nầy. Có thể bạn nói: “Tôi có một người chồng hay tôi có một người vợ hoặc tôi có một đứa con hay tôi có một người bạn, mà vì họ tiến trình phán xét đang diễn ra trong đời sống của tôi”. Khi họ quay đầu tẻ tách khỏi Chúa, Đức Chúa Trời không phải làm một điều gì để xét đoán họ; họ tự xét đoán mình bởi chính sự loạn nghịch của họ.
Con ếch trong cái ấm đun nước
Cách đây mấy tháng, có người đến phỏng vấn tôi, người nầy làm việc cho một tổ chức lo về vấn đề gia đình ở Wisconsin. Ông ta muốn trao đổi với tôi vì ông ta biết rõ Oak Park bị ảnh hưởng nhiều bởi cộng đồng đồng tính. Chúng tôi là cộng đồng thứ nhứt ở Illinois thông qua một pháp lệnh không phân biệt đối xử bảo hộ những đồng tính nam và đồng tính nữ. Chúng tôi là cộng đồng thứ nhứt ở miền Trung Tây bầu chọn một đồng tính nữ làm chủ tịch của ngôi làng. Chúng tôi là một trong những cộng đồng đầu tiên trong xứ với một đăng ký cho các đối tác về gia đình. Tôi nghĩ cần phải nói rằng cộng đồng đồng tính ở Oak Park rất là mạnh. Vào tháng 9 năm 2004, Hội thánh Calvary Memorial hoàn toàn công khai ở Chicago vì tôi đã giảng trong năm tuần về hôn nhân và gia đình từ quan điểm của Đức Chúa Trời. Một Chúa nhật kia, tôi đã giảng luận về Lẽ thật về hôn nhân đồng phái tính. Chúng tôi bị vây lấy bởi ba nhóm đồng tính khác nhau và giới truyền thông ở Chicago loan báo điều nầy cách rộng rãi. Tạp chí Leadership đã viết một bài về sự kiện nầy. Tôi không nói nhiều về ngày ấy (khi cốt chuyện được trực tuyến rồi), ngoại trừ phải nói rằng điều chi ma quỉ cho là ác, Đức Chúa Trời cho là thiện. Chúng tôi đã phát hiện ra, một khi bạn đã thông qua mọi sự rồi, Đức Chúa Trời sử dụng tình trạng bằng lòng của hội thánh chúng tôi chịu đứng lên mở ra các cánh cửa cho sự trao đổi. Đức Chúa Trời ban cho chúng tôi những cơ hội để trao đổi với người ta bên trong cộng đồng đồng tính rồi tỏ cho họ thấy tình yêu thương của Đức Chúa Jêsus Christ.
Vì vậy, khi người đến từ Wisconsin gặp tôi, ông ta muốn biết hội thánh chúng ta đang làm gì trong khu vực nầy. Lúc đó, ông ta nói với tôi: “Những gì Hội thánh của ông đã làm trong năm qua là rất bất thường. Hầu hết các nhà thờ Tin Lành thời buổi nầy không bằng lòng giải quyết các vấn đề như thế nầy. Sao ông lại làm thế chứ?” Có nhiều câu trả lời cho câu hỏi ấy, song nếu bạn đi phía bên dưới bề mặt, tôi nghĩ có quá nhiều Mục sư và quá nhiều trưởng lão chỉ lấy làm lo mà thôi. Tôi nghĩ chúng ta sẽ lấy làm lo cho những gì sẽ xảy ra trong cộng đồng. Tôi nghĩ chúng ta lấy làm lo phải mang tiếng xấu. Tôi nghĩ chúng ta lấy làm lo về loại sự việc đã xảy ra tại Calvary tháng 9 vừa qua. Và có khi chúng ta lấy làm lo về những gì người bên trong nhà thờ sẽ nói. Tôi phát hiện ra khi tôi rao giảng về đề tài đó, tôi không phải là người được lòng nhất trong chính hội chúng của tôi. Tôi không có 100% ủng hộ của mọi người trong chính hội chúng của tôi. Ở trong nhà thờ Tin Lành, có một sự mềm mại ngày càng tăng về vấn đề đồng tính thật rộng rãi vì có nhiều gia đình ở trong các ngôi nhà thờ của chúng ta với con trai con gái và bạn hữu và vợ cũ và chồng cũ, họ đã sa vào con đường sống đó. Song đấy chẳng phải là nan đề duy nhứt đâu. Bạn khó mà tìm thấy một bộ phim hài trên TV mà không có một nhân vật đồng tính đẹp đẽ, vui vẻ, bình thường trên đó. Chúng ta được trưởng dưỡng với một thực đơn thường xuyên ủng hộ đồng tính từ Hollywood. Và hãy nói những gì chúng ta sẽ nói, chúng ta không nói ra lẽ thật nếu chúng ta xưng rằng chúng ta không bị sự ấy chạm đến.
Billy Graham bình luận một trong những nan đề ở trong nhà thờ, ấy là ngày nay chúng ta bật cười trước những sự việc thường gây lúng túng cho chúng ta cách đây ba mươi hay bốn mươi năm. Hay tệ lậu hơn, thậm chí chúng ta không còn cười cợt nữa. Chúng ta trở nên giống như con ếch ở trong cái ấm đun nước. Chúng ta thường như thế lắm. Khi mọi sự suy thoái về mặt đạo đức và về mặt thuộc linh trong xã hội ở chung quanh chúng ta, hội thánh cũng rất tinh tế đổi thay cùng với xã hội. Tôi không nói chúng ta đã thay đổi các tín điều của chúng ta, song ít nhiều gì thì chúng ta cũng sẵn sàng rồi, tôi nghĩ, lẽ nào chúng ta đang tụt hậu. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải tìm lại cho kỳ được một số nghị lực ở trong hội thánh Tin Lành.
Các vấn đề nóng hổi
Ngày 11 tháng 7 năm 2005, tờ tạp chí Time có đăng một bài do Daniel Eisenberg viết, trong đó ông nói tới sáu vấn đề nóng hổi đang có mặt trong trận chiến với Tòa Thượng Thẩm. Bảng danh sách của ông bao gồm quyền phá thai và đồng tính, giáo hội và nhà nước, tội ác, hành động kiên quyết, quyền lực của nhà nước, và quyền được chết. Bài viết giúp nói lên rằng tạp chí Time không phải là tạp chí Christianity Today hay tạp chí World. Tôi nghĩ Ông Eisenberg tuyệt đối đúng khi ông sử dụng thuật ngữ “các vấn đề nóng hổi”. Và có thành phần đạo đức và thuộc linh cho từng vấn đề trong các vấn đề đó. Chúng ta đang sống ở giữa một chiến trận về văn hóa và về thuộc linh phải đối đầu ở nhiều mặt. Sau khi những tên khủng bố tấn công tàu điện Luân đôn, Thủ tướng Anh Tony Blair đã nói rằng người nào thổi tung các tòa nhà cao tầng và tự thổi tung họ ở tàu điện ngầm Luân đôn đang chạy theo một “tà thuyết”. Ông đã nói đúng.
Chức năng lãnh đạo còn hơn cả những nhà chính trị và việc thắng cử. Và nó còn nhiều hơn chương trình nghị sự phải đạt được. Từng quyết định đều có một thành phần đạo đức vì từng quyết định đều ra từ thế giới quan dẫn chúng ta đến Đức Chúa Trời hoặc tẻ tách ra khỏi Đức Chúa Trời. Và điều đó đưa chúng ta trở lại với các vị vua gian ác của xứ Israel. Giêrôbôam đã làm mọi điều được xem là gian ác. Nađáp đã làm mọi điều được xem là gian ác. Baêsa đã làm mọi điều được xem là gian ác. Êla đã làm mọi điều được xem là gian ác. Ximri đã làm mọi điều được xem là gian ác. Ômri còn tệ lậu hơn năm vị vua đầu tiên, và con trai ông ta là Aháp là kẻ tệ lậu nhất cả thảy.
Có phải bạn biết rõ mọi điều Aháp đã làm không? Theo I Các Vua 16, trong thời buổi của Aháp, thật là tầm thường khi dâng các thứ của lễ cho hình tượng. Dân sự của Đức Chúa Trời chẳng còn tha thiết gì nữa cả. Há đấy chẳng phải là phiên bản Rôma 1 trong Cựu Ước? Và đâu là phần cuối của Rôma 1? Khi người ta tẻ tách ra khỏi Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời buộc họ phải đối mặt với những hậu quả của chính những sự lựa chọn gian ác của họ. Rôma 1:24-32 chứa một bảng danh sách thật dài các thứ tội lỗi bao gồm cả tình trạng đồng tính và còn nhiều thứ, nhiều thứ nữa. Rôma 1 phác họa toàn bộ sự tan rã của xã hội một khi nó tẻ tách ra khỏi Đức Chúa Trời. Bước sau cùng, ấy là điều ác không những được dung dưỡng, mà nó còn được tổ chức linh đình nữa (câu 32).
Nước Mỹ trong năm 2005 có khác biệt hơn thế không? Hãy lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời.
“Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình có phước thay!” (Thi thiên 33:12).
“Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc” (Châm ngôn 14:34).
“Kẻ bỏ luật pháp ngợi khen kẻ ác; Còn người giữ luật pháp chiến đấu cùng chúng nó” (Châm ngôn 28:4).
“Khi người công bình thắng hơn, thì có sự vinh hiển lớn; Còn lúc kẻ gian ác dấy lên, thì người ta đều đi ẩn trốn” (Châm ngôn 28:12).
“Khi kẻ ác dấy lên, người ta đều ẩn trốn; Nhưng khi chúng nó hư mất đi, người công bình bèn thêm nhiều lên” (Châm ngôn 28:28).
“Khi người công bình thêm nhiều lên, thì dân sự vui mừng; Nhưng khi kẻ ác cai trị, dân sự lại rên siết” (Châm ngôn 29:2).
“Khi kẻ ác thêm, thì tội lỗi cũng thêm; Nhưng người công bình sẽ thấy sự sa ngã chúng nó” (Châm ngôn 29:16).
Ở đây, xin thêm một câu nữa. Thực sự tôi đã bật cười khi tôi tìm gặp câu nầy. Sự khôn ngoan của Vua Solomon đã cổ vũ tôi. Châm ngôn 11:10 tuyên bố rằng: “Cả thành đều vui vẻ về sự may mắn của người công bình; Nhưng khi kẻ ác bị hư mất, bèn có tiếng reo mừng”.
Làm sao điều xấu cứ trên đà gia tăng như vậy chứ?
Từ Giêrôbôam đến Nađáp.
Từ Nađáp đến Baêsa.
Từ Baêsa đến Êla.
Từ Êla đến Ximri.
Từ Ximri đến Ômri.
Từ Ômri đến Aháp
Aháp là kẻ tệ lậu cả thảy, và Giêsabên là người vợ gian ác của ông ta.
Và … bùm!
Sau cùng thì điều nầy đưa tôi đến phần cuối của I Các Vua 16 và phần đầu của I Các Vua 17. Theo bản Kinh thánh NIV, câu 1 bắt đầu với từ ngữ “giờ đây”. Trong bản Kinh thánh Hybálai, đó là chữ “và”. Điều đó là quan trọng vì tác giả muốn chúng ta nắm bắt dòng lịch sử từ quan điểm của Đức Chúa Trời. Đó là “và”, chớ không phải chỉ là “giờ đây” đâu. Chúng ta hãy thông qua bảng danh sách ấy thêm một lần nữa. Đây là bảy vị vua gian ác của xứ Israel từ I Các Vua 15-16:
Giêrôbôam
Nađáp
Baêsa
Êla
Ximri
Ômri
Aháp.
Bây giờ, chúng ta phải trải nghiệm từng đường may một. Xứ sở đã tiến quá xa vào tình trạng phi luân và thờ lạy hình tượng. Có nhiều điều cho thấy hoàn toàn là vô vọng. Hãy chú ý chữ “và” ngắn ngủi kia. Một việc gì đó sắp xảy ra.
Đức Chúa Trời sắp sửa bước vào tình huống.
Đức Chúa Trời sắp sửa tự mình xen vào.
Đức Chúa Trời Toàn Năng sắp sửa được nghe nói tới.
Và…và…và. Khi thời thế xấu xa và hoàn cảnh là vô vọng, Đức Chúa Trời có một người. “Ê-li ở Thi-sê-be, là một người trong bọn đã sang ngụ Ga-la-át, nói với A-háp…” (I Các Vua 17:1). Tôi có một câu hỏi dành cho bạn đây. Bạn có bao giờ xem Emeril Lagasse trên mạng Food Network chưa? Nếu bạn đã nhìn thấy ông ta, bạn biết những điều ông ta đang làm khi ông ta sửa soạn một việc cho máy thu hình. Có một việc ông ta nói khi ông ta sắp sửa thêm một ít quế hay một ít muối hoặc một ít tỏi vào hỗn hợp. Ông ta đổ nó ra, và rồi ông ta hô to lên: “Bùm!”
Một ít quế. Bùm!
Một ít muối. Bùm!
Một ít tỏi. Bùm!
Đấy là những gì đang xảy ra ở đây. Và Êli đã nói với Aháp. Bùm! Vị tiên tri của Đức Chúa Trời đã xuất hiện. Không một sự chuẩn bị nào hết. Không một lời cảnh báo nào cả. Không có bảng gia phả chi hết. Bạn không biết sao, trong một số truyền thống của người Do thái, không phải Do thái giáo chính thống đâu, mà trong một số truyền thống của người Do thái, thậm chí họ nghĩ Êli là một vị thiên sứ vì giống như Mênchixêđéc, không rõ ông xuất thân từ đâu!?! Chúng ta không biết một điều gì về bố mẹ hay ông bà của ông. Người Do thái vốn ưa thích gia phả lắm, song chẳng có gì được ghi lại về lai lịch của ông.
Chúng ta hãy lược lại bảng danh sách một lần nữa:
Giêrôbôam
Nađáp
Baêsa
Êla
Ximri
Ômri
Aháp
Êli. Bùm! Giờ đây, người ta đã nghe nói tới Đức Chúa Trời. Không có gì phải ngạc nhiên hết, họ tưởng ông là một vị thiên sứ, mặc dù đấy chẳng phải là điều mà Aháp suy tưởng. Khi thời thế xấu xa và hoàn cảnh là vô hy vọng, Đức Chúa Trời có một người, tên của người là Êli. Alexander Whyte gọi ông là “Một hòn núi Sinai của một người với một tấm lòng giống như sấm sét”. F.B. Meyer gọi ông là “người khỗng lồ giữa vòng nam giới”. Alexander McClaren gọi ông là “Martin Luther của Cựu Ước”.
Trước khi chúng ta đi xa hơn, đây là một vài sự kiện về Êli:
#1: Ông là một trong các tiên tri vĩ đại trong Cựu Ước. Bạn có thể tranh luận rằng Môise là vị tiên tri vĩ đại nhất, nhưng ông cũng là lãnh tụ của dân tộc ông. Nếu bạn muốn nói về một vị tiên tri thuần túy là người chẳng dính dáng gì đến việc điều hành nhà nước, thì tranh luận nghịch lại Êli là tiên tri vĩ đại nhất là điều thật khó. Ông chiếm vị trí đầu của giai cấp.
#2: Mặc dù ông sống cách đây ba ngàn năm, ông nói với chúng ta bằng quyền phép đáng kinh ngạc đương thời ấy. Sứ điệp của ông nói tới ít nhất năm nhóm người khác nhau.
1. Ông nói tới người nào khó nhọc nhiều trong cuộc sống.
2. Ông nói tới người nào cảm thấy cô đơn trong thế gian.
3. Ông nói tới người nào cảm thấy cuộc sống đã tạo ra ít kết quả.
4. Ông nói tới người nào cảm thấy bất lực khi chống lại làn sóng tội ác.
5. Ông nói tới người nào đã thất bại, tôi giả sử là hết thảy chúng ta lúc nầy hay lúc khác.
#3: Chúng ta hầu như chẳng biết gì về lai lịch của ông. Ông là một người ở Thisêbe, có nghĩa là ông xuất thân từ Thisêbe trong xứ Galaát. Cho tới ngày hôm nay, không có ai tìm ra một ngôi làng hay một thị trấn nào có tên là Thisêbe. Nói như thế là nói có một ngôi làng nhỏ trên núi cao. Galaát, chúng ta biết, và bấy nhiêu là quan trọng. Galaát nằm ở bờ phía Đông của sông Giôđanh. Có thể là sông Giôđanh thời hiện đại nầy, từ thành Giêricô băng ngang qua sông Giôđanh. Thực vậy, nếu bạn từng đến với thành Giêricô, hãy nhìn qua phía Đông thì bạn sẽ thấy vùng núi Galaát ngay. Thực sự đấy là manh mối duy nhứt chúng ta có về nhân vật nầy.
Êli là một sơn nhân. Vì ông đến từ vùng núi non, có lẽ ông có một chút thô kệch. Vì ông đến từ vùng núi non, ông không sành sõi lắm đâu. Vì ông đến từ vùng núi non, ông sẽ chẳng có được cùng cấp độ học vấn như những kẻ lớn lên trong thành phố lớn Jerusalem. Trong thời buổi ấy, người ta từ thành thị có khuynh hướng xem khinh những người xuất thân từ vùng núi non theo cùng một cách người ta ngày hôm nay đôi khi xem thường hạng người dân giã xuất thân từ vùng đồi núi. Người sống ở vùng đồi núi. Hạng người kém văn minh. Êli đã sống giống như hạng người kém văn minh của Cựu Ước. Trước khi bạn cất tiếng cười nhạo, hãy nhớ điều nầy. Bạn không muốn làm cho những người đó ra dại dột. Bạn sẽ thua cuộc tranh luận đó. Bạn cũng sẽ thua một việc khác nữa kìa. Bạn không muốn lộn xộn với hạng người sống ở miền núi. Họ rất khó chịu đấy.
“Giêhôva là Đức Chúa Trời của tôi”
Chúng ta hãy lược trở lại một lần nữa để biết chắc chúng ta đã nắm lấy toàn bộ bức tranh:
Giêrôbôam
Nađáp
Baêsa
Êla
Ximri
Ômri
Aháp.
Họ cứ đâm sâu xuống một cái hố, một thiếu niên sống trong thành phố sẽ không được nuôi dạy để đâm đầu vào loại công việc đó. Đức Chúa Trời không muốn một người tốt nghiệp từ thần học viện. Đức Chúa Trời không muốn ai đó quá sành sõi. Đức Chúa Trời muốn ai đó ăn mặc thô kệch, ai đó không màng đến việc mặc loại vải bố, ai đó với hai bàn tay chai sần, ai đó mà danh từ và động từ của họ không luôn luôn nhất trí. Đức Chúa Trời muốn một người lớn lên trong vùng núi non, người nầy chẳng sợ hãi vị Vua Aháp gian ác, con cóc gian ác ấy đang ngồi chễm chệ trên ngai vàng của Israel. Khi Đức Chúa Trời muốn một người phải đi lên nghịch cùng nhà vua và người vợ gian ác của ông ta, Ngài phải lên núi để tìm người đó.
Khi Ngài lên núi, Ngài tìm được một người. Ngài không bắt lấy một gã thiếu niên đâu. Ngài bắt lấy một người, và Ngài sai người ấy đến gặp nhà vua. Tên của Êli cho chúng ta biết về bản chất của ông. El là Đức Chúa Trời, và Jah giống như Giêhôva [Jehovah] hay [Yahweh]. Chữ i trong Êli có nghĩa là “của tôi”. Sát nghĩa, tên của Êli có ý nói Giêhôva là Đức Chúa Trời của tôi. “Xin chào. Tên của tôi là Ray. Tên của bạn là gì vậy?” “Tên của tôi là `Giêhôva là Đức Chúa Trời của tôi”. Có thắc mắc gì không? “Xin chào, Aháp. Xin chào, Giêsabên. Tên của tôi là `Giêhôva là Đức Chúa Trời của tôi”.
Aháp không mĩm cười. Ông ta chẳng thấy vui vẻ gì về cái tên đó. Bạn có thể hình dung màu tái nhợt trên gương mặt của ông ta lúc gã thô kệch nầy từ vùng núi non xuống đứng trước ông ta với một sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời Chí Cao. Ồ, chúng ta cần có nhiều người giống như thế hôm nay. Êli là một kẻ gây rối cho Đức Giêhôva. Ông được kêu gọi để phục vụ trong thời buổi bội đạo về mặt đạo đức.
Giacơ 5:17 thêm một sự kiện kỳ thú về Êli khi câu nầy gọi ông là một người “yếu đuối như chúng ta”. Bản Kinh thánh King James chép ông là một người “có nhiều tình cảm”. Ông sống giống như bạn và ông sống giống như tôi. Hãy đọc câu chuyện và hãy tự mình xem lấy. Êli đã có những thăng trầm. Ông rất thô thiển. Không bóng bẩy đâu. Không sành sõi lắm đâu. Bạn sẽ không có Êli ngồi xem World Series vì bạn không biết khi nào thì ông ấy sẽ ra đi. Ông là loại người như thế đấy. Khi ông tiếp nhận sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời, ông sẽ lo thực hiện ngay. Bạn cũng không thể trao đổi với ông được về sứ điệp ấy. Như chúng ta sẽ thấy, ông không hoàn hảo lắm đâu. Ông có tánh nóng nảy, và ông có khuynh hướng ngã lòng và chán nản. Đấy là lý do tại sao Giacơ dùng ông như một tấm gương cho chúng ta noi theo. Mặc dù ông là một sơn nhân bất toàn, ông cũng là một con người của sự cầu nguyện và đức tin to lớn nơi Đức Chúa Trời. Và đấy là lý do tại sao ông có mặt trong Kinh thánh.
Bí quyết của Êli
Hãy xem xét những gì ông nói với Aháp: “Ta đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống mà thề rằng: Mấy năm về sau đây, nếu ta chẳng nói, chắc sẽ không có sương, cũng không có mưa” (I Các Vua 17:1). Đâu là bí quyết của ông? Điều chi đánh dấu ông vậy? Câu trả lời có ngay ở đây.
Thứ nhứt, ông tin theo Đức Chúa Trời hằng sống. “Hỡi Aháp, Đức Chúa Trời của ta là Đức Chúa Trời hằng sống. Còn thần của ngươi? Ngươi thờ lạy Baanh, hắn sống trong mùa ẩm ướt rồi chết đi trong mùa khô. Ta hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống. Ta tin nơi Đức Chúa Trời hằng sống”.
Thứ hai, ông hầu việc Đức Chúa Trời của giao ước. Ông gọi Ngài là “Đức Chúa Trời của Israel”.
Thứ ba, ông đã sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. “Ta đứng trước mặt Đức Chúa Trời”. Sách Châm ngôn chép sự kính sợ Đức Giêhôva đem lại sự an ninh. Khi Êli đứng trước mặt Aháp, ông không sợ hãi vì Êli đã nói: “Ta đứng trước mặt Đức Chúa Trời Toàn Năng. Hỡi Aháp, ngươi chẳng là gì đối với ta”. Một lý do chúng ta không sống dạn dĩ hơn và can đảm hơn là vì chúng ta tôn trọng loài người hơn là chúng ta tôn trọng Đức Chúa Trời Toàn Năng. Sự sợ hãi loài người đem lại bẫy dò, song người nào tin cậy nơi Chúa sẽ được an ninh. Khi Êli nói: “Ta đứng trước mặt Đức Chúa Trời” thì chẳng phải là một việc nhỏ mọn đâu. Sâu xa như ông đã quan tâm, Aháp chẳng phải là vấn đề. Mọi sự ông đã làm là xuất hiện và phân phát sứ điệp của Đức Chúa Trời.
Thứ tư, ông vâng theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. “Mấy năm về sau đây, nếu ta chẳng nói, chắc sẽ không có sương, cũng không có mưa”. Nói như thế thì có nghĩa Aháp đã thờ lạy Baanh, và Baanh là vị thần phì nhiêu. Người xứ Canaan tin thần Baanh đã hiện ra trong các đám mây và giông bão sấm sét, vì vậy họ đã dựng lên các bàn thờ trên đỉnh núi hầu cho họ có thể đến gần với thần của họ hơn. Khi dân sự đến đặng thờ lạy thần Baanh, họ gặp gỡ nhiều người nam người nữ phục vụ trong chức vụ thầy tế lễ. Đã có hai bộ phận tôn giáo của Baanh — tình dục sai trái và dâng con trẻ làm của lễ. Nếu bạn cầu xin cho có mưa, bạn sẽ dâng của lễ của mình và rồi bạn sẽ có một sự gặp gỡ về tình dục với một thầy tế lễ hay một nữ tế của thần Baanh. Họ tin rằng không cứ cách nào đó, hành động tình dục sẽ hiệp họ với thần Baanh, là vị thần phì nhiêu. Và nếu mọi việc thực sự là xấu xa, bạn sẽ đem con cái của mình và bạn sẽ dâng chúng cho thần Baanh. Đây là tôn giáo của tình dục sai trái và dâng con trẻ làm của lễ nhơn danh sự bình an và ảnh hưởng của cá nhân. Trong ba ngàn năm, chẳng có gì thực sự đã đổi thay.
Một người cấp tiến
Bạn biết rõ câu chuyện nói tới Êli rồi, có phải không? Đây là câu chuyện nói tới một người thực sự cấp tiến. Từ ngữ “cấp tiến” ra từ chữ Latinh radix, nghĩa là gốc rễ. Vì vậy, phần nhiều người trong chúng ta đang sống trên các đám mây và chúng ta lấy làm lạ tại sao chúng ta không có lòng can đảm. Êli là một người đi xuống tận gốc rễ của mọi việc. Bạn biết là một Cơ đốc nhân cấp tiến là thế nào rồi, có phải không? Một Cơ đốc nhân cấp tiến chẳng khác gì hơn một người đi xuống tận gốc rễ mọi vấn đề của cuộc sống và hình dung ra điều nào là vấn đề và điều chi không phải là vấn đề. Và Êli đã hình dung ra việc ấy.
Một lời nói sau cùng và tôi đã nói. Tôi nghĩ lớp người trẻ của chúng ta đã hình dung ra điều nầy tốt hơn lớp người thuộc lứa tuổi của chúng tôi. Tôi nghĩ thế hệ Cơ đốc nhân trẻ sắp tới thì cấp tiến về Chúa Jêsus nhiều hơn lớp người như chúng tôi. Chúng ta cần phải bắt kịp với thế hệ kế tiếp. Họ đã hình dung ra rằng thế giới nầy toàn là nhựa dẻo và thế giới nầy toàn trống rỗng, và nếu bạn chạy theo các đường lối của thế gian nầy, bạn sẽ thấy trống vắng lúc cuối cùng. Đức Chúa Trời đang chúc phước cho những Cơ đốc nhân trẻ tuổi, cấp tiến nào biết đi xuống tận gốc rễ mọi vấn đề của cuộc sống.
Khi Êlisê nhìn thấy Êli lên trời, ông đã kêu lên: “Giêhôva Đức Chúa Trời của Êli ở đâu?” Và tôi nói với bạn hôm nay: “Đâu là những Êli của Giêhôva Đức Chúa Trời?” Nguyện Đức Chúa Trời dấy lên trong thời buổi của chúng ta một thế hệ mới những Êli, những con người chịu đứng trong danh của Chúa.
Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con cảm ơn Ngài vì tấm gương của một người chẳng biết sợ hãi vì ông ấy kính sợ Ngài rất nhiều. Lạy Chúa, chúng con đang sống trong thời buổi hỗn loạn, kinh ngạc, sợ hãi, phấn khích, bất ổn. Lạy Chúa, trong thời buổi suy thoái đạo đức nầy, hãy dấy lên một đạo binh những Êli. Con cầu xin Ngài hãy khởi sự điều đó trong tuần lễ nầy. Con cầu xin Ngài làm điều đó giữa vòng những người đọc mấy lời nầy. Và con cầu xin Ngài làm điều đó trong chính tấm lòng của con. Trong danh Chúa Jêsus. Amen.

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Khải huyền 3:14-22: "Sự Rủa Sả Của Cơ Đốc Giáo Hâm Hẩm"


Sự rủa sả của Cơ đốc giáo hâm hẩm
Khải huyền 3:14-22
Có phải bạn là một người hâm hẩm?
Không có nhiều người sẽ trả lời “phải” cho câu hỏi đó.
Khi đến với chính trị, hâm hẩm hầu như đã trở thành một thứ đã tuyệt chủng rồi. Một là bạn bảo thủ hoặc tự do hay có thể là một người tự do, nhưng có lẽ bạn không phải là một người hâm hẩm. Một vài nhà chính trị quảng cáo bằng câu nói: “Hãy dồn phiếu cho tôi. Tôi là một người hâm hẩm”.
Có phải bạn là Cơ đốc nhân hâm hẩm? Việc ấy nương vào cách bạn định nghĩa từ ngữ mà thôi. Trong bản Kinh thánh King James, Philíp 4:5 chép: “Hãy cho mọi người biết thái độ hâm hẩm của anh em”. Ở đó, ông có ý nói: “Hãy sống với một tinh thần dịu dàng và biết quan tâm đến tha nhân. Đừng luôn đòi hỏi người ta phải sống theo cách của mình”. Đấy là loại hâm hẩm mà hết thảy chúng ta đều ao ước.
Nhưng có một loại Cơ đốc nhân hâm hẩm không được tốt như thế. Wilbur Rees mô tả con người nầy rất hoàn hảo như sau:
Tôi muốn mua giá trị Đức Chúa Trời với US$3, làm ơn đi.
Không đủ để làm nổ tung linh hồn hay phá rối giấc ngủ của tôi, song vừa đủ để có một ly sửa ấm hoặc một lát chợp mắt trong ánh mặt trời.
Tôi muốn một cân vĩnh cửu đựng trong cái túi chứa giấy tờ.
Tôi muốn mua giá trị của Đức Chúa Trời với chỉ US$3, làm ơn đi.
Cơ đốc nhân hâm hẩm có một Đấng Christ hâm hẩm, là Đấng đưa ra những đòi hỏi hâm hẩm.
Người ấy giữ Chúa Jêsus trong vòng tay e “việc tôn giáo” nầy lọt khỏi tay mình.
Hạng người giàu có đặc biệt rất nhạy cảm để trở thành Cơ đốc nhân “hâm hẩm”.
Đấy là những gì đã xảy ra chính xác ở một địa điểm có tên là Laođixê.
Đây là sứ điệp sau cùng trong loạt bài 7 Hội thánh ở Khải huyền 2-3. Trong bảy hội thánh nầy, không một hội thánh nào nhận được một lời xét đoán gay gắt hơn Hội thánh Laođixê. Nằm ở phía Đông thành Êphêsô 90 dặm và 45 dặm ở phía Nam thành phố Philađenphi, Laođixê là một thành phố giàu có nổi tiếng vì có những dòng suối đầy khoáng sản cách đó một vài dặm. Sử dụng một hệ thống kênh đào, các cấp lãnh đạo thành phố đặt ống dẫn nước hãy còn nóng lúc nó sủi bọt lên từ dưới đất, nhưng khi vào đến Laođixê thì nước hãy còn hơi ấm mà thôi.
Về bề ngoài, Hội thánh ở Laođixê tỏ ra mạnh mẽ và thịnh vượng. Rõ ràng là người nào đến thờ phượng ở đó, tự họ thấy vui vẻ và được phước. Họ đã sống trong một thành mà nhiều người khác phải ganh tỵ. Dường như là hội thánh nầy lôi kéo một số các thuộc viên của nó từ những gia đình giàu có sống trong thành Laođixê. Không giống như Simiệcnơ, dường như chẳng có sự bắt bớ nào hết, và chẳng giống như Bẹtgăm, không có một giáo lý giả hiệu nào cả. Chúng ta chẳng tìm thấy gì tương xứng với tình trạng phi luân nặng nề của Giêsabên và các đội binh hư hỏng của bà ta tại thành Thiatirơ.
Laođixê là một địa điểm rất thoải mái để sinh sống và một nơi rất thích ứng để đến với nhà thờ. Sự kết hợp ấy đã làm cho Chúa Jêsus phải nhuốm bịnh nơi dạ dày.
Chúng ta hãy nhìn vào sứ điệp của Đấng Christ viết cho một Hội thánh đầy dẫy với “những Cơ đốc nhân hâm hẩm”, họ đã ổn định với US$3 mua lấy giá trị của Đức Chúa Trời.
I. Lai lịch của Ngài
A. Lời của Ngài là thực.
"Nầy là lời phán của Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật" (câu 14a).
“Amen” thường là lời lẽ sau cùng của một lời cầu nguyện. Từ ngữ nầy có ý nói còn nhiều hơn là “Tôi nói xong rồi” hay “Chúng ta hãy ăn”. “Amen” là một dấu cho thấy có sự nhất trí. Vào thời điểm tôi đến Ấn độ 2 tuần lễ trong một sứ mệnh truyền giáo. Ngày hôm qua, khi tôi giảng trong một túp lều thật lớn, vị Mục sư quản nhiệm ngồi ở hàng ghế đầu với nụ cười thật tươi nở trên khuôn mặt của ông. Từng hồi từng lúc, ông đưa hai bàn tay lên rồi nói: “Amen!” Đây là cách nói của ông: “Đúng, tôi đồng ý với diễn giả. Điều ông ấy nói là sự thực".
Ở đây, Chúa Jêsus tự gọi mình là Đấng “Amen”. Ron Scates giải thích ở chỗ nầy như sau:
Đức Chúa Jêsus Christ quả thực là lời nói sau cùng. Lời nói sau cùng trong lịch sử nhân loại. Lời nói sau cùng trong đời sống cá nhân của bạn và của tôi. Chúa Jêsus là lời nói sau cùng. Không phải chứng ung thư. Không phải là ly dị. Không phải là phá sản. Không phải là sự chết. Không phải là địa ngục. Chúa Jêsus và chỉ một mình Chúa Jêsus, là lời nói sau cùng trong đời sống của bạn và của tôi, và Ngài sẽ có lời nói sau cùng trong đời sống của bạn và của tôi.
Chúa Jêsus là câu Amen sau cùng cho mọi sự mà Đức Chúa Trời đã phán dạy. Vì Ngài là “Đấng làm chứng thành tín chơn thật”, chúng ta có thể tin cậy Ngài một cách hoàn toàn.
Mọi sự Ngài phán đều là chơn thật.
Mọi sự Ngài nói đều là sự thực.
Điều đó là thực trong mọi thời đại.
Đối với Hội thánh tại thành Laođixê, việc ấy có nghĩa là khi Đấng Christ phát ra những lời tố cáo gay gắt kia, họ không thể tránh né đâu được, cho nên họ nói: “Đấy là ý kiến của Ngài thôi”. Không, đấy là lời của Con Đức Chúa Trời, là Đấng thành tín chơn thật trong mọi sự mà Ngài đã phán dạy.
Lời lẽ của tôi không mang lấy sức nặng đó vì tôi không thể xưng mình đang nói ra sự thực không dời đổi. Song khi Chúa Jêsus phán, hội thánh phải lắng nghe vì Ngài chỉ thốt ra lẽ chơn thật.
B. Lời của Ngài có uy quyền.
“Nầy là lời phán của . . . Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời” (câu 14b).
Mệnh đề nầy có ý nói rằng mọi loài thọ tạo đều ra từ tay của Ngài. Ngài có mặt ở đó vào buổi ban đầu, và trước khi có buổi ban đầu, Ngài đã luôn hiện diện ở đó. Toàn bộ vũ trụ, sự hiện hữu của nó mắc nợ đối với quyền phép toàn năng của Ngài. Ngài tể trị trên từng loài chim đang bay kia, từng loài cá đang bơi lội đó, từng đóa hoa đang nở rộ, và từng con thỏ đang tung tăng nhảy qua cánh rừng. Không những Ngài đang tể trị, mà Ngài còn là chất keo của vũ trụ. Nếu Ngài thôi không kết gắn chúng lại với nhau, tự vũ trụ sẽ rả bèn ra hết.
Bạn có thích hít thở không? Tôi hy vọng bạn thích đó.
Bạn hít thở vì Chúa Jêsus ban cho bạn sự sống và hơi thở.
Chúng ta mắc nợ mọi sự đối với Ngài.
Khi Ngài phán, lời của Ngài là chơn thật và tuyệt đối có uy quyền.
II. Bản cáo trạng của Ngài
A. Bạn đang sống dửng dưng.
“Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta” (các câu 15-16).
Tôi bối rối về ý nghĩa của câu nói nầy, vì tôi lấy làm lạ, tại sao Chúa Jêsus lại phán: “Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay”. Khi ấy, một tư tưởng thoạt đến với tôi và biến điều đó ra đơn giản.
Từ ngữ khác chỉ nước “hâm hẩm” là từ gì? Nhiệt bình thường.
Bạn cần phải làm gì để biến nước thành nhiệt bình thường? Không làm gì hết.
Để nước lại một mình thì nó sẽ trở thành nhiệt bình thường.
Giả sử bạn cần nước nóng. Bạn cần phải làm một việc gì đó để làm cho nó nóng lên. Bạn cần phải cho nước vào trong cái bình đặt lên bếp hoặc đặt nước vào trong lò vi sóng. Nước nóng không tự nó nóng lên được.
Giả sử bạn cần nước lạnh. Bạn cần phải làm một việc gì đó để làm cho nó lạnh lên. Bạn cần phải để nước vào trong tủ lạnh hay bỏ đá vào trong nước. Dưới những hoàn cảnh thông thường, nước sẽ không hề trở lạnh nếu cứ bỏ mặc nó.
Cũng một thể ấy, đây là bản cáo trạng. Người thành Laođixê không phạm một tội cố ý nào, tỉ như phi luân, ngủ bậy ngủ bạ, khuyến khích đạo giả, hay chuộng theo các tiên tri giả. Để phạm phải các tội lỗi nầy, bạn phải làm một việc gì đó. Bạn phải đưa ra một loại quyết định nào đó để dịch chuyển theo hướng ấy.
Bạn trở nên hâm hẩm bằng cách nào? Không làm gì hết, và đấy là điều mà bạn sẽ trở thành. Một Cơ đốc nhân hâm hẩm chẳng khác gì hơn “nhiệt bình thường”. Cơ đốc nhân nào vừa trở nên thích ứng với môi trường của mình. Thay vì làm thay đổi thế giới ở chung quanh mình, người ấy để cho thế gian từ từ thay đổi người ấy.
Khi đối diện với những sự giàu có đời đời trong Đấng Christ, người thành Laođixê đã ổn định với US$3 mua lấy giá trị của Đức Chúa Trời. Và để làm cho vấn đề ra tệ lậu hơn, họ đã thấy vui vẻ về việc ấy.
Một số nhà thờ bắt lấy con đường ở chính giữa, tin theo lẽ thật nhưng không bằng lòng nắm lấy chỗ đứng cho lẽ thật đó. Họ vốn truyền giáo (trên danh nghĩa, ít nhất là như vậy) nhưng họ không phải là hội thánh chuyên về truyền giáo. Tôi đang viết ra mấy lời nầy từ một phòng khách sạn ở Ấn độ. Sáng nay, một trong những vị Mục sư địa phương đưa chúng tôi đi qua một thị trấn Hồi giáo, ở đó bạn có thể nhìn thấy những lá cờ màu xanh lá cây đang bay phấp phới, chỉ ra những gia đình Hồi giáo đang cư ngụ ở đó. Vì cớ căng thẳng liên tục, một vài Cơ đốc nhân sinh sống trong thành phố. Nhưng tôi nhìn thấy một nhà thờ với cây thập tự ở trên nó. Nhà thờ gì thế? Tôi tự hỏi.
Vị Mục sư quản nhiên đặt tên cho một hệ phái đặc biệt từng có danh tiếng về sự trung tín đối với Kinh thánh. Làm sao một ngôi nhà thờ như thế lại tồn tại được trong một thị trấn theo đạo Hồi chứ? “Người Hồi giáo bỏ họ lại một mình vì họ không truyền giáo". Nếu bạn không hề nói với ai về đức tin của bạn, bạn sẽ chẳng bị làm phiều đâu. Vị Mục sư tiếp tục nói: “Khi họ tấn công nhân sự của chúng tôi, người Hồi giáo nói: Sở dĩ như vậy là vì các ông đang tìm cách khiến người ta cải đạo sang Cơ đốc giáo".
Hội thánh tại thành Laođixê đã trở nên giống như ngôi nhà thờ kia trong thị trấn theo đạo Hồi. Họ đã làm theo lời dạy xưa: “Cùng đi thì mới cùng sống”. Đấy là phần định nghĩa chính xác về Cơ đốc giáo hâm hẩm.
Tại sao Đấng Christ lại ghét tình trạng hâm hẩm nhiều như thế chứ? Phần lớn là vì một người trong tình trạng nầy thậm chí chẳng nhìn biết tình trạng ấy nữa. Người ấy trượt vào một tình trạng hoàn toàn dửng dưng đến nỗi người không quan tâm đến tình trạng thuộc linh của mình. Không điều chi là vấn đề với người cả. Rốt lại, bởi định nghĩa “nhiệt bình thường” là phù hợp. Nó cảm thấy thích ứng. Người ấy cũng giống như bao người khác sống ở quanh ông ta.
Không quá nóng.
Không quá lạnh.
Người đang sống tốt mà, hay người nghĩ vậy. Một người thể ấy khó thể tiếp cận được trừ phi bạn gây sốc cho người ấy về tình trạng của người.
Cũng vậy, Đấng Christ nhả người ấy ra khỏi miệng Ngài.
Điều đó sẽ lôi kéo bạn phải vội vã chú ý ngay. Không một điều gì giống như điều đã được nói tới hội thánh thỏa hiệp ở Bẹtgăm hoặc thậm chí với hội thánh phi luân về đạo đức ở Thiatirơ. Trong một vài cách thức, họ dễ tiếp cận hơn là người thành Laođixê. Ít nhất là họ có thể nhìn thấy lỗi lầm trong mọi đường lối của họ vì nó quá rõ ràng và đã được xác định.
Không phải như vậy với tình trạng hâm hẩm. Như tôi đã suy gẫm về điều nầy, cái điều xảy ra cho tôi thấy là tội lỗi nầy đặc biệt có giữa vòng những kẻ đi nhà thờ lâu nay. Rốt lại, bạn từng có mặt trong nhà thờ một vài năm, bạn “biết rõ những sợi dây”, phải nói như thế. Bạn biết hệ thống hoạt động ra sao, bạn biết rõ tiếng lóng, bạn biết chỗ để ngồi, sinh hoạt của hội thánh diễn tiến ra sao, và bạn biết rõ cổ máy của nhà thờ hoạt động thể nào. Những gì dường như mới mẻ và phấn khích hiện nay đều là cái nón cũ đối với bạn. Mọi sự trở thành dễ hiểu giống như chiếc giày cũ vậy.
Tôi nhận ra rằng tôi có khuynh hướng phải hâm hẩm giống như bất cứ ai đang đọc bài giảng nầy. Tôi là một Cơ đốc nhân lâu nay, thật là dễ chấp nhận như thế. Cái điều gây kinh ngạc cho những tân tín hữu có thể không làm cho tôi phải ngạc nhiên đâu. Vì vậy tôi đã cầu nguyện khi tôi viết ra mấy câu nầy: “Lạy Chúa, xin tỏ cho con biết sự thật về bản thân mình. Xin loại bỏ hết mọi sự dửng dưng phủ lấy công tác của Đức Thánh Linh trong đời sống của con sau khi con rao giảng cho nhiều người khác, con lại thấy mình bị Chúa Jêsus nhả ra”.
B. Bạn đang sống kiêu căng.
“Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ” (câu 17).
Ở đây, Đấng Christ tỏ ra rằng nan đề có trong tấm lòng. Và cho tới chừng nào tấm lòng được thay đổi, không một điều gì có thể thay đổi. Hãy lưu ý cụm từ ngắn ngủi ấy: “Vả, ngươi nói".
Ta giàu!
Ta ăn mặc đẹp!
Ta có thể nhìn thấy!
Sự kiêu ngạo đã làm mù mắt họ không nhìn thấy tình trạng thuộc linh của họ. Tiền bạc có một phương thức làm như thế đối cùng hết thảy chúng ta. Khi mới đây tôi rao giảng phân đoạn Kinh thánh nầy, tôi rút một số tiền ra khỏi ví của mình rồi cầm lấy nó. Ngay lập tức mọi con mắt đều nhìn dồn về số tiền trên tay tôi. Khi tôi nói, người ta cứ mãi nhìn vào số tiền ấy, chứ chẳng nhìn vào tôi.
Sự việc ấy đang xảy ra theo cách ấy từng hồi từng lúc.
Tiền bạc hầu như có tính cách thôi miên. Chúng ta không thể dời con mắt mình khỏi nó được. Chúng ta yêu mến tiền bạc vì với tiền bạc chúng ta có thể mua sắm bất cứ thứ gì chúng ta muốn. Sau cùng, tôi phải nhét mấy tờ hóa đơn vài túi để tôi có thể hoàn tất xong bài giảng của mình. Tiền bạc đang thực thi nhiều điều điên dại cho con người, thậm chí cho hạng Cơ đốc nhân thực sự tốt đẹp nữa.
Nó khiến chúng ta tưởng chúng ta đang sống thực sự tốt đẹp hơn.
Nó cách ly chúng ta nghịch lại nổi đau của thế gian.
Nó cung ứng cho chúng ta minh chứng rằng chúng ta phải làm việc chi đó đúng đắn.
Chúng ta phải rõ ràng về một điểm. Tiền bạc không phải là nan đề. Những tờ hóa đơn kia chỉ là những mẫu giấy nhỏ có mực xanh và mực đen. Ấy chẳng phải là tiền bạc, mà là lòng yêu mến tiền bạc đưa chúng ta vào trong rối rắm.
Tôi không nghi ngờ chi, Hội thánh ở Laođixê đang được sánh tốt hơn các Hội thánh khác trong Khải huyền 2-3. Nhưng chính việc cung ứng cho họ sự giàu có đã đem lại căn bịnh lãng phí cho linh hồn họ. Lẽ ra họ nên nghèo ngặt giống như hội thánh Simiệcnơ và nhìn biết phước hạnh của Đức Chúa Trời hơn là sống giàu có và bị Chúa Jêsus chối bỏ.
Và tệ hại nhất, ấy là họ tưởng họ đang sống rất đàng hoàng. Trong thời của chúng ta, họ sẽ là hội thánh lớn với một tòa nhà xinh đẹp, một nơi đậu xe khang trang, một ban trị sự xuất sắc, một ngân sách đồ sộ, nhiều chương trình, và một danh tiếng tốt trong cộng đồng. Không có gì sai trái với với bất kỳ thứ nào trong số nầy, song phân đoạn nầy nhắc nhở chúng ta rằng một hội thánh “thành công” không luôn luôn là một hội thánh mà Đức Chúa Trời sẽ tán thưởng.
III. Lời mời gọi của Ngài
Hãy tỉnh thức!
“Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được. Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi” (các câu 18-19).
Laođixê được biết đến là một thành phố của nhiều nhà băng (nhờ đó “vàng được luyện trong lửa”) và những bộ áo đẹp được làm bằng len (nhờ đó “mặc áo trắng”) và thuốc xức mắt (nhờ đó “đặng thoa mắt”). Ngài chạm đến những điểm kiêu ngạo của họ để tỏ ra tình trạng nghèo ngặt thuộc linh của họ.
Cho tới chừng nào bạn nhìn thấy nhu cần của mình, bạn sẽ không bao giờ nhận được gì tốt hơn.
Tôi có ấn tượng bởi tính cách cá nhân trong lời kêu gọi của Đấng Christ. Nếu có ai đến nói với tôi: “Ông làm cho tôi muốn ói quá”, tôi cũng mong rằng chính người ấy sẽ nói: “Tôi mến ông nhiều hơn là ông biết nữa đấy”. Nhưng khi bạn yêu mến ai đó, bạn có thể ghét điều chi đang hủy diệt họ và yêu mến họ càng hơn.
Bậc cha mẹ đang thực thi điều nầy từng hồi từng lúc. Nếu họ nhìn thấy con cái họ đang lún sâu vào con đường tự hủy diệt, họ sẽ không đứng rỗi cạnh bên mà chẳng làm một việc gì. Họ sẽ nói ra một điều gì đó, ngay cả họ chẳng biết điều họ nói ra sẽ làm cho con cái họ giận dữ nữa là.
Cũng một thể ấy với Chúa chúng ta.
Ngài yêu thương chúng ta nhiều đến nỗi Ngài sẽ không để cho chúng ta trụ lại trên con đường đó đâu.
Con đường ở trước mặt là tỉnh thức và công nhận nhu cần của mình. Cho tới chừng nào bạn làm được như thế, bạn không bao giờ thấy khá hơn đâu.
Hãy mở cửa ra!
“Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta” (câu 20).
Ở đây, lời kêu gọi có tính cách riêng tư cực kỳ. Sự việc giống như Chúa Jêsus xây khỏi hội thánh như một tổng thể rồi chỉ nhắm vào một người mà thôi.
Chúa Jêsus đang gõ cửa, luôn luôn gõ cửa.
Ngài chờ đợi ai đó ra đến tận cánh cửa.
Tôi thấy sự khích lệ rất lớn trong tư tưởng nầy. Mặc dù có nhiều người khác sẽ bỏ mặc Chúa Jêsus, bạn vẫn có thể mở cánh cửa ra. Chồng hay vợ của bạn có thể chẳng thấy ích chi về Chúa Jêsus, nhưng bạn có thể mở cánh cửa ra. Bạn bè của bạn có thể say đắm với thế gian đến nỗi lời kêu gọi của Đấng Christ chẳng có ý nghĩa gì đối với họ. Nhưng bạn có thể mở cánh cửa ra. Bạn có thể là chi thể của một hội thánh hâm hẩm, song bạn vẫn có thể bước ra cửa rồi mời Đấng Christ ngự vào.
Ngài muốn bước vào trong.
Ngài chờ đợi để bước vào trong.
Không những Ngài chờ đợi để bước vào trong, Ngài còn muốn dùng bữa tối với bạn nữa. Chẳng có một bức tranh nào đẹp hơn nói tới đời sống Cơ đốc cho bằng hình ảnh nầy. Chúng ta có thể có Chúa Jêsus là bạn cùng dùng bữa từng ngày một. Chúng ta không phải dùng bữa tối một mình đâu. Chúa Jêsus muốn chia sẻ một bữa ăn với chúng ta. Và không những thức ăn nhanh từ lúc ở trên làn xe chạy đâu. Ngài còn muốn một bữa ăn thật lâu với cuộc trò chuyện ấm áp bên ngọn lửa tí tách kia nữa là.
Há chẳng đáng kinh ngạc khi hội thánh tệ lậu nhất lại nhận được lời mời trân trọng thể ấy sao? Há hội thánh ấy không giống như Chúa Jêsus sao? Sau khi tỏ ra thái độ dửng dưng của họ, Ngài ban cho họ chính mình Ngài. Sự thể giống như các trò chơi mà chúng ta tham dự, ở đó có người nói: “Nếu bạn có thể dùng bữa với bất kỳ ba nhân vật nào trong lịch sử, bạn sẽ chọn ai chứ?” Giả sử bạn thốt ra một câu như Hoàng hậu Catherine, Johnny Cash, và Socrates. Đây là một câu chuyện rất vui vẻ. Nhưng trong phân đoạn Kinh thánh của chúng ta, chỉ có một câu trả lời mà thôi.
Dùng bữa tối với Chúa Jêsus.
Chỉ có hai người mà thôi.
Bạn và Chúa Jêsus, trò chuyện nhiều trong khi quí vị dùng bữa chung với nhau.
Đúng là một sự ban hiến cho!
Tôi thích một bữa ăn giống như thế.
Còn bạn thì sao?
Trong tấm lòng tôi
Khi ấy, phần kết luận vĩ đại đến với bức thư nầy:
“Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!” (các câu 21-22).
Có khi chúng ta tranh luận về việc có nên sử dụng Khải huyền 3:20 khi chúng ta khuyên nài người ta đến với Đấng Christ hay không!?! Tôi nghĩ đây là một hình ảnh đẹp nói tới Đấng Christ đến thật nhiều lần với tấm lòng của nhân loại. Ngài đến, Ngài gõ cửa, Ngài kêu gọi chúng ta, và rồi Ngài chờ đợi chúng ta đáp ứng. Phần nhiều người trong các bạn đã nhìn thấy bức tranh nổi tiếng do Holman Hunt vẽ, trong đó Đấng Christ đang đứng ngay nơi cửa của một ngôi nhà tranh của người Anh. Mọi sự dường như bình thường cho tới khi bạn nhận ra rằng chẳng có cái chốt cửa ở phía ngoài.
Cánh cửa phải được mở từ bên trong kìa.
Cũng một thể ấy cho hết thảy chúng ta suốt mọi thời đại. Đấng Christ đến với chúng ta thật nhiều lần và phán: “Ta muốn có thì giờ với ngươi”. Ngài kêu gọi chúng ta. Rồi Ngài chờ đợi chúng ta đáp ứng.
Đối với người nào ra mở cửa, Đấng Christ liền ngự vào. Tôi thấy niềm hy vọng thật lớn ở đây cho từng Cơ đốc nhân nào cảm thấy xa rời đối với Chúa. Theo một ý nghĩa, lời mời gọi sau cùng nầy nói với tất cả bảy hội thánh trong Khải huyền 2-3, và nhơn đó lời mời ấy nói với hết thảy các Cơ đốc nhân, ở khắp mọi nơi, khắp mọi thời đại.
Đấng Christ vẫn còn đứng ngoài cửa mà gõ.
Ngài đang chờ bạn bước đến rồi mở cánh cửa ra.
Đừng để cho tội lỗi và thất bại của bạn giữ bạn không đến với Chúa Jêsus. Đấng Christ đã đến vì hạng tội nhân, và chính hạng tội nhân đang cần đến một Cứu Chúa. Cũng một thể ấy với kẻ dại dột, kẻ sa lầy, kẻ sai lầm, lẫn lộn, kiệt lực, chán nản, tái phạm, thỏa hiệp, bị áp bức, và hạng người không ưa thích nhà thờ, kẻ nào mong muốn và mơ ước cùng hy vọng kín đáo về một khởi sự mới, hãy để lòng đi:
Đấng Christ đã đến vì bạn.
Ngài đang đứng nơi cửa và gõ.
Liệu bạn có mời Ngài ngự vào không?
Đối với người nào trả lời “yes”, Ngài ngự vào trong và biến người thành nơi ngự của Ngài. Và rồi Ngài làm cho mọi sự được trở nên mới. Nếu chúng ta nghinh đón Ngài ngay bây giờ, chúng ta sẽ trị vì với Ngài cho đến đời đời. Tôi không thể nghĩ được có điều gì tốt hơn thế.
Chúng ta nên nhận lãnh Chúa Jêsus ngay bây giờ.
Chúng ta có Ngài cho đến đời đời.
Tôi khuyên bạn hãy chú ý giọng nói của Chúa Jêsus, hãy mở cửa ra, rồi nói: “Lạy Chúa Jêsus, Ngài được tiếp nghinh vào đời sống con ngay hôm nay”.
Một điệp khúc giai điệu Tin Lành thiếu nhi rất hay như sau:
Ngự vào lòng con, ngự vào lòng con,
Lạy Chúa Jêsus, xin ngự vào lòng con.
Xin ngự vào hôm nay. Xin ngự vào hôm nay.
Lạy Chúa Jêsus, xin ngự vào lòng con.
Nguyện đấy sẽ là kinh nghiệm của bạn khi bạn mở cửa lòng mình ra đón Chúa Jêsus.