Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

Luca 17:11-19: "Còn Chín Người Kia Ở Đâu?"



Còn Chín Người Kia Ở Đâu?

 Luca 17:11-19

            Đúng là một cống hiến cho y khoa hiện đại khi phần lớn chúng ta đều biết rất ít về căn bịnh được gọi là bịnh phung. Hầu hết chúng ta đều chưa hề nhìn thấy một người phung. Chúng ta chỉ biết những gì chúng ta đọc trong Kinh thánh mà thôi.
            Nếu chúng ta sống trong thời buổi đó, chúng ta sẽ biết được nhiều hơn. Trong các thời kỳ Kinh thánh, đấy chính là căn bịnh gây lo sợ nhiều nhất trong thế gian. Căn bịnh ấy gây chết chóc, không thể chữa được và vô vọng. Vì vậy, nhiều người thời xưa đã e sợ nó đến nỗi bất kỳ ai bị nghi nhiễm căn bịnh nầy sẽ bị trục xuất ra khỏi xã hội ngay. Trong các tác phẩm của hàng rabi, chúng ta thấy những phương cứu chữa cho nhiều loại căn bịnh khác nhau. Song chẳng có chép gì về bịnh phung. Các rabi nói rằng chữa trị bịnh phung giống như làm cho kẻ chết sống lại vậy. 

I. Căn bịnh đáng ghê tởm

            Ngày nay, bịnh phung được gọi là Bịnh Hansen, sau khi  vị Bác sĩ người Na-uy vào năm 1873 đã khám phá ra vi khuẫn gây bệnh. Chắc chắn là có vài loại bịnh phung, và chúng ta ngày nay biết rõ Kinh thánh dịch “phung” chắc chắn bao gồm một loạt bịnh về da, đó là lý do tại sao một số bản dịch hiện đại sử dụng một cụm từ đại loại như “bịnh lồi da”.
            Loại phung tệ hại nhất có khuôn mẫu chung chung như sau:
+ Thứ nhứt, một mảng da bị đổi màu. Có thể xảy ra ở chân mày, mũi, tai, gò má hay cằm.
+ Thứ hai, mảng da nầy chuyển thành màu trắng hay màu hồng và bắt đầu lan rộng theo các hướng thật nhanh chóng.
+ Thứ ba, căn bịnh lan sang các bộ phận nội tạng khác. Chân mày có thể biến mất và nhiều khối u mềm xuất hiện trên cơ thể.
+ Thứ tư, mô bắt đầu tan rã khiến cho tay chơn trở nên biến dạng.
+ Thứ năm, các dây thần kinh của cơ thể bị tiêu hủy. Đây là chặng nguy kịch của bịnh phung vì như thế có nghĩa là bịnh nhân sẽ mất đi cảm xúc đau đớn. Vì thế, một con chuột đến nhai mất một ngón tay lúc ban đêm và người bịnh không hề hay biết. Hoặc họ sẽ chạm vào ngọn lửa mà chẳng thấy đau đớn chi cả.
            Người thời xưa e sợ căn bệnh ấy vì nó tạo ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, vì nó lan nhiễm, và vì con người không thể chữa trị được căn bịnh ấy.

Hãy coi chừng tóc trắng

            Vì mọi lý do đó, Lêvi ký 13-14 cung ứng những phần dạy dỗ đặc biệt về sự chẫn đoán và trị liệu cho bịnh phung. Về mặt cơ bản, ở đây nói rằng bất kỳ chỗ sưng tấy nào hay nhiễm trùng da phải được thầy tế lễ khán ngay lập tức. Ông phải tra xét chỗ sưng, da ở chung quanh và màu tóc trong khu vực bị nhiễm. Tóc trắng bị coi là một dấu hiệu nguy hiểm. Người bị nhiễm sẽ bị cách ly trong 7 ngày. Vào ngày cuối của 7 ngày đó, nếu không còn sự lây nhiễm nữa, người ấy sẽ được xã hội tái công nhận. Nếu không, thì người bịnh được chẫn đoán đang mắc bịnh phung, bị trục xuất ra khỏi xã hội trong thời gian người bị nhiễm. Đây là cách Lêvi ký 13:45-46 đặt ra vấn đề:
            Vả, người đã bị vít phung rồi phải xé quần áo, đầu trần, che râu lại la rằng: Ô-uế! Ô-uế! Trọn lúc nào người có vít, thì sẽ bị ô uế, phải ở một mình ngoài trại quân.
            Alfred Edersheim giải thích sự trục xuất có ý nghĩa như thế nầy đối với người phung:
            Khi người phung đi ngang qua, xé áo quần mình, đầu để trần và phần thấp nhất của khuôn mặt và môi trên phải được che lại, giống như một người sắp chết lo báo lễ tang của chính mình. Lời lẽ than khóc: “Ô uế, ô uế” mà người thốt ra, công bố rằng ô uế đối với cả chết và sống về mặt đạo đức (The Life and Times of Jesus the Messiah).
            Với mọi chi tiết đó, chúng ta đến với câu nói ở Luca 17:11-12 rằng khi Chúa Jêsus đang đến gần đường biên giới của xứ Samaria và Galilê, Ngài đã gặp một nhóm người phung. Kinh thánh chép rằng Ngài đang lên thành Jerusalem trong lần cuối cùng. Cái chết đang ở trong tâm trí của Ngài. Chúng ta không biết chính xác cuộc gặp gỡ nầy diễn ra ở đâu. Bạn không thể tìm gặp thị trấn nhỏ nầy trên tấm bản đồ. Đây là một thị trấn đâu đó ở phía Nam thành Naxarét và thành Nain và Núi Thabô và đâu đó phía bắc Sikha. Chúa Jêsus cùng các môn đồ Ngài đang đi về phía Đông sông Giôđanh và khu vực xứ Bêrê. Nếu bạn đã viếng qua Đất Thánh, bạn biết rõ ngày nay khu vực ấy không có thành thị lớn đâu. Đây là một khu vực vắng vẻ, đặc biệt là nơi bạn mong muốn gặp được cộng đồng người phung.
            Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Chúa Jêsus gặp những con người bất hạnh nầy giữa xứ Galilê và xứ Samari. Galilê là căn cứ địa quê nhà của Chúa Jêsus. Ngài lớn lên ở đó. Ngài có gia đình và nhiều bạn hữu thời niên thiếu ở đó. Ngài lập trụ sở tại thành Cabênaum trên bờ biển Galilê. Phần lớn các phép lạ và nhiều sự dạy dỗ của Ngài đã được làm ra ở xứ  Galilê. Đây là vùng đất mà Ngài rất được lòng người nhất.
            Nhưng thành Samari là một vấn đề khác. Những người Do thái nhơn đức đã lẫn tránh thành Samari nếu họ có thể. Câu chuyện đi ngược về mấy trăm năm đến cuộc Phu Tù cho người Asiri bắt đầu vào năm 722TC. Một số người Do thái đã kết hôn  chéo với người Asiri và đã trở thành – trong con mắt của đồng bào họ – lai giống và phản bội. Trải qua nhiều thế kỷ, người Samari đã trở thành một dân tạp với một tôn giáo bị pha trộn.
            Người Do thái ghét người Samari, và người Samari đã đáp lại y như thế.

II. Một phép lạ sâu sắc

            Và chính ở đây, ngay đường biên giới giữa xứ Galilê và xứ Samari, ở giữa tinh thần thù nghịch của người Do thái và người Samari, Chúa Jêsus gặp gỡ 10 người phung. Họ có thể đi đâu khác được nữa chứ? Người Do thái không ưa họ; người Samari cũng thế.
            Các câu 12-13 cung ứng cho chúng ta nghe như là một bằng chứng theo kiểu mắt thấy vậy:
            Nhằm khi vào làng kia, có mười người phung đến đón rước Ngài, đứng đằng xa,  lên tiếng rằng: Lạy Jêsus, lạy Thầy, xin thương xót chúng tôi cùng!
            Đây là khu vực sinh sống của người phung hợp với số phận không may thường nhật của họ. Bản sắc duy nhứt của họ khi cùng chung sống với nhau là căn bệnh trầm kha đã xua đuổi họ ra sống ngoài vòng xã hội. Từng chi tiết đều là sự thực cả. Khi Chúa Jêsus vào trong làng, những người nầy đứng xa xa kêu la xin Ngài thương xót  cùng. Làm sao họ nhận biết Ngài là ai chứ? Không nghi ngờ chi nữa, họ đã nghe nhiều tiếng đồn đại trên khắp vùng nông thôn trơ trụi ấy — "Người nầy có thể chữa lành cho người phung”. Chắc chắn là họ đã bàn bạc sự ấy và rồi dự tính cứ như thế. Ngay cả nếu Ngài có thể làm một việc như vậy, biết đâu đấy lại là những cơ hội khi Ngài đến với ngôi làng của họ?
            Nhưng giờ đây lời đồn cứ lan đi — "Ngài đang có mặt ở đây” “Ai đang ở đây chứ?” “Chúa Jêsus người Naxarét” “Tôi không tin việc đó” “Thật đấy. Ngài đang có mặt ở đây” “Ông có nghĩ là Ngài sẽ chữa lành cho chúng ta không?” “Tôi không biết. Chúng ta hãy chờ coi”.
            Họ còn đứng đó, ca đoàn rách rưới nhất trong xứ Israel, 10 người phung đang kêu gào xin Chúa Jêsus thương xót  cho. Không một âm thanh nào đáng thương hơn đã lọt vào hai lỗ tai của Chúa chúng ta. “Xin thương xót  chúng tôi cùng. Xin thương xót  chúng tôi cùng”, tiếng kêu gào ấy đã toát ra từ những môi miệng đã nhìn thấy quá ít sự thương xót và quá nhiều sự xét đoán.

Khi họ đang đi, họ được chữa lành

            Chúa Jêsus sẽ làm gì chứ? Liệu Ngài có chữa lành cho họ ngay khi ấy và ở đó chăng? Sự ấy chắc chắn nằm trong quyền phép của Ngài và nhất định đấy là điều mà mấy người phung đã trông mong. Thay vì thế, Chúa Jêsus đã phán một câu mà thoạt nghe rất ngạc nhiên đối với chúng ta.
            Khi Ngài nhìn thấy họ, Ngài phán cùng họ: Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ (14). Ở cái nhìn đầu tiên, bạn sẽ nghĩ rằng Chúa Jêsus thiệt đang xua họ đi. Thậm chí bạn có thể kết luận rằng Ngài chẳng có dự tính chữa lành cho họ chi hết. Và nếu bạn đã đến với phần kết luận đó, bạn sẽ suy ra rằng Chúa Jêsus có ý định gây ấn tượng trên họ so với tình trạng vô vọng trong hoàn cảnh của họ. Song mọi luận suy ấy đều không chính xác. Thực ra, Chúa Jêsus đã dự tính chữa lành cho họ và (điều nầy rất quan trọng) Ngài đã dự tính làm việc ấy trong sự tuân giữ mọi đòi hỏi của luật pháp Môise. Lêvi ký 14 nói rõ rằng thầy tế lễ phải xác định bất kỳ sự “lành” nào từ bịnh phung. ("Lành” ở trong dấu ngoặc kép vì trong thực tế chẳng có ai từng được “lành” về chứng bịnh phung. Sau nhiều năm trời (15-20 năm trong phần lớn các trường hợp) sự lan nhiễm đã không còn nữa và người bệnh — đang mang dấu ấn tàn phá của căn bịnh — sẽ tái hòa nhập lại với xã hội). Nếu Chúa Jêsus không bảo mấy người phung đến khán ở thầy tế lễ, không một người nào sẽ dám tin nơi phép lạ thực sự đã xảy ra.
            Song đấy chẳng phải là toàn bộ câu chuyện. Phần sau cùng của câu 14 chép rằng Họ đang đi thì phung lành hết thảy”. Họ đã được chữa lành khi họ ra đi. Không phải trước khi đi đâu. Không phải sau khi nữa. Nói như thế có nghĩa là khi họ rời đi để đến gặp thầy tế lễ, họ vẫn còn chứng bịnh phung.
            Bạn nghĩ họ cảm nhận thế nào khi Chúa Jêsus phán: Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ?” Đi tỏ cái gì cho thầy tế lễ chứ? Họ vẫn còn là những người phung. Họ chẳng có cái gì để tỏ ra rằng thầy tế lễ sẽ muốn nhìn thấy. Thực vậy, việc sau cùng thầy tế lễ mong muốn thấy là 10 người phung bốc mùi, te tua, biến dạng, khốn khổ. Tôi tự hỏi không biết có ai nói: “Bận tâm mà chi chứ?” Rốt lại: “Từng bị phung, luôn luôn là người phung”. Đã có nhiều vết loét khắp chỗ, hai cánh tay và mấy ngón tay biến dạng do bị sinh vật gậm nhấm. Bạn có thể ngửi thấy người bịnh cách ¼ dặm đường.
            Họ cứ đi, cứ hồ nghi, tốp người đau khổ lộn xộn nầy cứ đi đến gặp thầy tế lễ.
            Họ bước một bước … và họ vẫn còn là những người phung.
            Họ bước hai bước … và chẳng có việc gì xảy ra.
            Họ bước bước thứ ba … và bịnh phung bám chặt lấy tứ chi của họ.
            Nhưng ở bước thứ tư … có việc gì đó kỳ diệu, việc gì đó khó tin, việc gì đó mà họ từng dám mơ ước, đã xảy ra. Với bước thứ tư ấy, họ đã được chữa lành.
            Ngay lập tức. Thật lạ lùng. Hết thảy 10 người ngay tức khắc.

Sự rủa sả của tôn giáo thụ động

            Họ đã được lành khi họ chịu bước đi. Không phải trước. Không phải sau. Mà trong hành động bước đi, họ đã được chữa lành. Tại sao chứ? Vì hành động bước đi chính là hành động của đức tin. Họ cảm nhận ra sao thì không phải là vấn đề. Đức Chúa Trời đã tôn cao việc bước đi của họ bất chấp mọi hồ nghi của họ.
            Điều đó đưa chúng ta đến với một sự hiểu biết sâu sắc hơn. Đức tin của chúng ta dời núi khi đức tin cảm động chúng ta. Khi Chúa Jêsus phán: “Hãy đi tỏ mình cùng thầy tế lễ” thực sự Ngài đang phán: “Hãy hành động giống như thể các ngươi đã được chữa lành rồi vậy”. Đúng là một lời khuyên long trọng đấy. Có nhiều lần chúng ta cầu nguyện, rồi cầu nguyện mà chẳng có một việc gì dường xảy ra. Nhưng khi đức tin chúng ta – dù nó có thể lay động – sau cùng cảm động chúng ta phải hành động, Đức Chúa Trời tôn cao đức tin ấy và câu trả lời bắt đầu tới đến. Tại sao chứ? Vì đức tin là tin theo cộng với sự vô tín rồi hành động theo phần tin tưởng.
            Có nhiều người trong chúng ta bị bẫy bởi sự rủa sả của tôn giáo thụ động. Bạn biết đấy là gì rồi, có phải không? Đó là quan điểm cho rằng nói tin cậy Đức Chúa Trời có nghĩa là để cho Ngài làm hết mọi sự. Vì vậy chúng ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, con cần tiền bạc”, nhưng chúng ta từ chối không chịu bước ra rồi tìm kiếm một việc làm. Chúng ta cầu xin: “Lạy Chúa, xin giúp con giảm cân” nhưng chúng ta từ chối không chịu tập luyện. Tôn giáo thụ động sử dụng Đức Chúa Trời như một lời cáo lỗi chẳng làm một việc gì hết.
            Hãy nghe đây, nếu tên của bạn là Nôê và Đức Chúa Trời bảo bạn trời sắp mưa, thì cầu xin cho có một chiếc tàu là đúng khi bạn cầu nguyện, song hãy đi ra rồi đốn một số gỗ gôphe đi.
            Nếu tên của bạn là David, và bạn thấy mình đang ở trong trũng đối diện với Gôliát, thì cầu nguyện xin chiến thắng là đúng, nhưng khi bạn cầu nguyện, hãy nhặt lên mấy hòn đá, tra chúng vào cái trành rồi nhắm ngay vào cái trán của Gôliát.
            Tin tưởng nơi Đức Chúa Trời không tương xứng với chỗ không làm gì hết. Hãy nhớ, mười người phung đã được chữa lành khi họ bước đi. Đức tin của chúng ta dời núi khi đức tin cảm động chúng ta bước đi.

III. Một mặc khải gây sốc

            Vậy, mười người phung đã được chữa lành. Đây là một phép lạ kỳ diệu, nhưng đấy chưa phải là phần cuối cùng của câu chuyện. Thực vậy, thậm chí đấy chưa phải là trọng tâm của câu chuyện nữa là. Phép lạ khác sắp sửa xảy ra.
            “Có một người trong bọn họ thấy mình đã được sạch, bèn trở lại, lớn tiếng khen ngợi Đức Chúa Trời; lại đến sấp mặt xuống đất, nơi chân Đức Chúa Jêsus, mà tạ ơn Ngài. Vả, người đó là người Sa-ma-ri (15-16).
            Bạn biết rõ câu chuyện rồi. Mười người đã được lành và chỉ có một người quay trở lại để dâng lên lời cảm tạ. Luca nói người nầy sấp mặt xuống đất trước mặt Chúa. Ông ta có cái điều mà các anh chị em thuộc hệ phái Ngũ Tuần gọi là “Shouting Session”. Và tại sao không chứ? Ông ta đã được chữa lành bịnh phung. Trong hai mươi năm, người là kẻ phung sinh sống trong một nơi thuộc vùng sâu vùng xa như thế nầy, bị cách ly đối với gia đình, bị bạn bè quên lãng, bị cắt đứt đối với chính dân tộc mình. Thình lình, căn bịnh biến mất và tứ chi bị vặn cong, mấy ngón tay xoắn lại, cơ bắp bị teo hết cũng biến mất theo với nó. Trong một thời gian ngắn có cần để kể lại một mẫu chuyện, chứng bịnh và mọi triệu chứng xấu xí bẩn thỉu của nó đã bị dời ra khỏi thân thể của ông ta, chẳng để lại một dấu vết nào ở đàng sau chúng. Ông ta giơ cao hai cánh tay mình lên phía trên đầu rồi nhặt lên một hòn đá xem coi ông ta sẽ ném nó đi được bao xa. Ông ta bắt đầu bước đi và rồi chạy và sau cùng nhảy tung lên trên khoảng không kia.
            Ông ta đã được lành trở lại rồi. Khỏe mạnh lại rồi. Sạch sẽ lại rồi. Không còn là kẻ bị ruồng bỏ nữa.
            Ông ta gào to lên, chẳng có gì phải kinh ngạc hết. Tôi cũng sẽ la lên nữa đấy.
            Khi Luca nói thêm: Vả, người đó là người Sa-ma-ri, cú sốc có ngay. Chúng ta có thể đọc câu ấy theo cách nầy: “Hãy suy nghĩ một chút xem. Một người Samari”.
            Hãy nhớ, Chúa Jêsus là người Do thái và người Do thái nghĩ người Samari là những kẻ phản bội, dân tạp. Để làm cho vấn đề ra tệ hại hơn, người ấy là một người phung Samari. Đối với người Do thái, không nên nhìn vào một sự kết hợp gớm ghiếc. Ông ta xuất thân từ một dòng giống sai trật, ông ta có thứ tôn giáo không đúng, và ông ta mắc phải một chứng bịnh tệ hại nhất khả thi. Trong các vấn đề tôn giáo, người Samari nầy hầu như chẳng biết gì hết và thứ ông ta biết đều là sai trật cả đấy thôi! Nhưng ông ta đã nhìn biết Chúa Jêsus chữa lành cho ông ta và ông ta vốn biết đủ để dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời. Câu nói ấy là lý do cho thấy tại sao câu chuyện nầy lại hiện hữu trong Kinh thánh.
            Cho phép tôi đi một bước xa hơn. Luca không nói một cách trực tiếp như thế, nhưng tôi nghĩ ông ám chỉ rằng chín người kia đều là người Do thái. Nếu đấy là thực, thế thì cái điều câu chuyện nầy thực sự muốn nói tới, ấy là những kẻ đáng phải biết ơn nhất đều không tỏ ra sự ấy. Và người duy nhứt lẽ ra không quay trở lại thì đã quay trở lại.
            Toàn bộ câu chuyện nầy phác họa cuộc sống như nó vốn có thực vậy. Thứ nhứt, đây là bức tranh nói tới ân điển dư dật của Đức Chúa Trời. Đây là một sự chữa bệnh với quy mô lớn – cả một bịnh viện được chữa lành với chỉ một lời nói. Mười người một lúc. Đây là một phép lạ lớn lao. Thứ hai, đây là hình ảnh nói tới sự vô ơn đang thịnh hành. Chín trong 10 người có lẽ sẽ quên từng phước hạnh mà họ từng nhận lãnh. Thứ ba, đây là hình ảnh nói tới ân điển không  ai ngờ. Tấm lòng biết ơn thường nhảy nhót ở chỗ mà bạn ít ngờ tới.

IV. Một thắc mắc rất thấm thía

            Giờ đây, chúng ta khám phá ra Chúa Jêsus đã nói gì về mọi sự nầy:
            “Đức Chúa Jêsus bèn cất tiếng phán rằng: Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia ở đâu? Chỉ có người ngoại quốc nầy trở lại ngợi khen Đức Chúa Trời ư! Ngài lại phán rằng: Đứng dậy đi; đức tin ngươi đã cứu ngươi (17-19).
            Chúa Jêsus đưa ra ba câu hỏi.
1. Không phải mười người đều được sạch cả sao? Phải.
2. Còn chín người kia ở đâu?? Đi mất rồi.
3. Chỉ có người ngoại quốc nầy trở lại ngợi khen Đức Chúa Trời ư? Không ai hết.
            Nếu bạn nghe cho kỹ, bạn có thể nghe thấy nổi kinh ngạc, sốc và hầu hết đều là buồn rầu. Chúa Jêsus muốn biết về mấy người kia. Họ ở đâu chứ? Bộ họ không được lành sao? Tại sao họ không quay trở lại rồi nói “Cảm ơn Ngài" chứ?
            Đây là một thắc mắc rất hay. Tại sao họ không quay trở lại?
            + Có lẽ họ đang trong cơn vội vã đến gặp thầy tế lễ.
            + Có lẽ họ nghĩ Chúa Jêsus đã đi nơi khác rồi.
            + Có lẽ họ nghĩ Chúa Jêsus vốn biết họ rất biết ơn rồi.
            + Có lẽ họ quá bận rộn.
            Vậy, giờ đây họ ở đâu chứ?
            Bỏ đi với các ơn phước của họ.
            Bỏ đi để gặp thầy tế lễ.
            Bỏ đi để gặp gỡ gia đình của họ.
            Bỏ đi với chẳng một lời cảm tạ Chúa Jêsus.
            Đây là một sự thực đáng kinh ngạc. Bạn nhìn vào 10 người phung nầy và họ rất giống nhau.
            + Hết thảy đều mắc bịnh phung.
            + Hết thảy đều là hạng người bị xã hội ruồng bỏ.
            + Hết thảy đều quyết định làm một việc gì đó về sự ấy.
            + Hết thảy đều nghe nói về Chúa Jêsus và tin Ngài có thể cứu họ.
            + Hết thảy đều kêu nài nơi Ngài.
            + Hết thảy đều vâng theo Lời của Ngài.
            + Hết thảy đều được chữa lành.
            Ở bề ngoài họ giống nhau. Tuy nhiên, có một sự khác biệt.
            Một người quay trở lại. Chín người kia tiếp tục đi.
            Một người tỏ lòng biết ơn. Chín người kia thì không.
            Một người tìm được ơn tha thứ. Chín người kia thì không.
            Một người nhận được hai phép lạ. Chín người kia nhận được một phép lạ.
            Hết thảy mười người đều được chữa lành. Đấy là một phép lạ. Nhưng người Samari đã được chữa lành và được tha thứ. Đó là hai phép lạ. Và đấy là điều Chúa Jêsus muốn nói khi Ngài phán: “Đức tin ngươi đã cứu ngươi”.

Giống như con trẻ tại bàn tiệc

            Thắc mắc còn lại: Còn chín người kia ở đâu? Câu trả lời là, họ đã nhận được điều họ mong muốn và đã bỏ đi rồi. Chúa Jêsus đã làm một phép lạ cực kỳ cho họ và họ nói: “Cảm ơn Chúa, tôi có thể nhận được phép lạ ấy từ đây”. Họ sống giống như trẻ con ăn cho no bụng rồi chạy đi khỏi bàn ăn mà chẳng có một lời cảm ơn. “Chúng ta no rồi. Chúng ta hãy ra ngoài kia chơi đi”. Tôi nghĩ đây là tội lỗi đặc biệt của hạng người lớn lên trong nhà thờ. Chúng ta chẳng nhạy cảm gì nhiều đối với những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Thường thì chúng ta không yêu mến Chúa nhiều hay cảm thấy biết ơn vì các ơn phước của Ngài.
            Chúng ta sẽ nói điều đó trong hai cách khác nhau:
1. Biết ơn là nghĩa vụ cao nhất và là phẩm hạnh tối thượng của người tin Chúa, là dòng suối từ đó mọi ơn phước khác tuôn tràn ra.
2. Vô ơn là căn bịnh phung của linh hồn. Sự vô ơn gậm nhấm từ bên trong, hủy diệt hạnh phúc của chúng ta, làm què quặt sự vui mừng của chúng ta, làm cho lòng thương xót của chúng ta bị teo đi, làm tê đi sự ngợi khen của chúng ta và làm cho chúng ta liệt đi trước mọi ơn phước của Đức Chúa Trời.

Tony Snow

            Nhiều người trong chúng ta đã xúc động bởi các tin tức cho biết chứng ung thư ruột kết của Tony Snow đã quay trở lại. Viết về sự kiện nầy mới đây, Cal Thomas đã bắt đầu bài viết của mình (Tôi quen với  Tony Snow) theo cách nầy:
            Chẳng có ai là không thích Tony Snow. Bởi sự hoan hô, người ta biết ông là thư ký báo chí ở Nhà Trắng là người đứng đắn, tử tế và khích lệ mà họ đã từng gặp.
            Trao đổi với nhóm nhà báo vào tháng Giêng, Snow đã nói với họ: “Trong nhiều cách thức, bị ung thư là việc tốt nhứt từng xảy ra cho tôi, còn lấy vợ thì khác hơn”. Bạn tự hỏi điều chi đã khiến cho một người nói năng như thế về một chứng bịnh có thể lấy mạng của mình. Chứng ung thư ruột kết giết hàng ngàn người mỗi năm. Làm sao chứng bịnh ấy lại trở thành một loại phước hạnh cho được chứ? Câu trả lời đại loại là như thế nầy đây. Bản thân chứng ung thư chẳng phải là ơn phước chi hết, nhưng Đức Chúa Trời thường sử dụng nó như một phương tiện để dạy dỗ chúng ta những việc mà chúng ta chưa hề biết và để đào sâu đức tin của chúng ta. Bản thân căn bịnh là một phần của cái giá mà chúng ta chi trả cho việc sống trong một thế giới sa ngã, nhưng qua chứng ung thư chúng ta có thể khám phá ra điều chi là vấn đề quan trọng nhất trong cuộc sống. Tony Snow thấy rằng những lời cầu xin của ông bắt đầu thay đổi. Ông bắt đầu học biết đem đời sống  mình phục theo Đức Chúa Trời:
            Không những nói: ‘Lạy Chúa, việc ấy nằm trong tay Ngài’ nhưng việc hiểu biết bất cứ điều chi có thể đến sau đó là đừng cố gắng thúc đẩy Đức Chúa Trời làm điều chi đó cho bạn, trừ phi bỉu môi trước một số ngăn trở phân cách bạn với Đức Chúa Trời, “vì đối với mọi người trong chúng ta, chúng ta chỉ nhận được sự hư không mà thôi”.
            Giống như bao người khác đã khám phá, chứng ung thư của ông đã trở thành con đường cho một đức tin mới tìm được và là một việc mà ông đã không trông mong – ấy là sự vui mừng.
            Sau cuộc giải phẫu ung thư lần thứ nhứt của ông, Snow nói ông phải nằm lại trên giường và ông bắt đầu đọc Kinh thánh “học biết nhiều để cầu nguyện” và cầu xin Đức Chúa Trời “làm ơn kéo tôi cho càng gần, (là điều) phát triển một sự khao khát cũng là một hình thái vui mừng”.
            Từ chứng ung thư đến cầu nguyện theo Kinh thánh, đến khát khao sự vui mừng. Đây không phải là một con đường mà Tony Snow đã chọn lựa, song ông cũng nói rằng những gì ông đã khám phá đã tạo thành một chuyến hành trình đáng giá.
            Chúng ta trải qua cuộc sống nói: “Lạy Chúa, rốt lại Ngài đã làm gì cho tôi vậy?” Và Chúa đáp: “Nếu ngươi chỉ biết thôi”. Nhiều điều trong cuộc sống giúp bạn hình dung ra bạn không có thực quyền và ai mới có thực quyền.
            Ung thư đã làm việc ấy cho Tony Snow.
            Bịnh phung đã làm việc ấy cho người Samari.
            Một người được chữa lành – và dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời.
            Một người vẫn còn đánh trận với bịnh tật mình – và dâng sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
            Từng việc tốt lành trong đời sống Cơ đốc nhân tuôn tràn ra từ dòng suối mạnh mẽ nầy. Khi tôi nhận ra sự nhân từ của Đức Chúa Trời — không phải là trừu tượng hay trong lý thuyết — mà thật riêng tư, đặc biệt đối với tôi … Không phải chung chung đâu, trừ ra những gì Đức Chúa Trời đã làm cho tôi!
            Thế rồi (và chỉ khi ấy) tôi được tự do bước đi, cầu nguyện, làm chứng lại.
            + Tôi không bị cưỡng chế.
            + Tôi không bị áp lực.
            + Khi sau cùng, chúng ta nhìn và thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm …
            + Khi sau cùng, chúng ta đến mọi ơn phước của chúng ta rồi kể tên chúng từng cái một …
            + Khi sau cùng, chúng ta hiểu rõ từng sự nhân từ và sự ban cho trọn vẹn đó đến từ Cha sáng láng ở trên cao …
            + Khi sau cùng, chúng ta nhìn thấy rõ chính sự sống là một sự ban cho đến từ trên cao …
            + Khi chúng ta biết – thực sự biết rõ – mọi sự trong cuộc sống đều là một sự ban cho …
            Khi ấy, chúng ta bắt đầu ngợi khen,
            Khi ấy, chúng ta bắt đầu dâng hiến,
            Khi ấy, chúng ta bắt đầu ca hát,
            Khi ấy, chúng ta bắt đầu làm chứng,
            Khi ấy, chúng ta bắt đầu phục vụ,
            Khi ấy, chúng ta bắt đầu bước vào “sự sống  dư dật”.
            + Khi sau cùng, chúng ta học biết rằng chúng ta là những người phung khi chào đời …
            + Khi sau cùng, chúng ta nhìn thấy những gì Chúa Jêsus đã làm cho chúng ta …
            + Khi sau cùng, ân điển của Đức Chúa Trời bày tỏ ra để chúng ta có được bất cứ điều chi có giá trị…
            Chỉ khi ấy cuộc sống mới thực sự bắt đầu thay đổi!
            Ở thời điểm đó, những việc kỳ diệu bắt đầu xảy ra cho chúng ta:
            Cái gì là Nghĩa Vụ giờ đây là Đặc Ân.
            Cái gì là Luật Pháp giờ đây là Ân Điển.
            Cái gì bị Đòi Hỏi giờ đây là Tình Nguyện.
            Cái gì Bắt Buộc giờ đây là Tự Do.
            Cái gì là Cực Nhọc giờ đây là Vui Mừng.
            Cái gì bị xem là hiển nhiên giờ đây được dâng lên trong sự ngợi khen Đức Chúa Trời.
            Khi sau cùng, ân điển đầy dẫy chúng ta, khi ấy chúng ta chạy đi trong sự vui sướng!
            Mười người được chữa lành trong ngày ấy, nhưng chỉ có một người quay trở lại để dâng lên lời cảm tạ. Có phải bạn đang sống với chín người kia hay với một người nầy? Có quá nhiều người trong chúng ta xem ơn phước là hiển nhiên và than vãn về mọi nghĩa vụ. Nói như thế thì có giống như bạn chăng? Chớ để cho việc ấy xảy ra.
            Ngợi khen là một sự lựa chọn. Một tấm lòng biết ơn là một sự lựa chọn bạn đưa ra. Không một ai bị buộc vào thái độ cay đắng. Bạn chọn phương thức bạn sinh sống. Người nào quay trở lại dâng lời cảm tạ  không chọn quên những điều Chúa Jêsus đã làm cho người ấy. Bí quyết của một tấm lòng cảm tạ là một sự lựa chọn có ý thức không quên những gì Đức Chúa Trời đã làm cho bạn.




Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

Rôma 11:33-36: "Đức Chúa Trời Kỳ Diệu Của Chúng Ta"



Đức Chúa Trời

kỳ diệu của chúng ta

Rôma 11:33-36

            Thường thì đề tựa của quyển sách không thuật lại cả câu chuyện. Các tiêu đề được chọn vì chúng dễ nhớ, không phải vì chúng có tính cách thông tin. Nhưng thỉnh thoảng bạn vấp ngã ở một tiêu đề có cả hai thứ: nó bắt lấy sự chú ý của bạn và cũng nói cho bạn biết chính xác quyển sách đang đề cập tới việc gì. Cách đây một thế hệ, J. B. Phillips đã viết một quyển sách có đề tựa là Your God Is Too Small [Đức Chúa Trời của bạn nhỏ bé quá]. Vì vậy, có nhiều người trong chúng ta đã vật vã vì Đức Chúa Trời của chúng ta thì nhỏ bé quá so với Đức Chúa Trời của Kinh thánh. Chúng ta đã xác định và giữ Ngài trong một cái hộp mà chính chúng ta đã dựng nên.
            Nếu Đức Chúa Trời của bạn quá nhỏ bé, có lẽ bạn cần phải có một cái nhìn khác vào Đức Chúa Trời của Kinh thánh. Trải qua nhiều thế kỷ, các nhà thần học đã sử dụng các từ ngữ nhất định nói tới tầm quan trọng của Ngài: Chí Cao, Toàn Năng, Toàn Tri, Toàn Tại, Toàn Túc, Vô hạn, Đời đời, và Bất tử, chỉ nhắc tới một vài từ ngữ mà thôi. Nhưng chẳng có một danh sách những tỉnh từ nào có thể phác họa thích ứng tình trạng bao la của Đức Chúa Trời đâu. Ngài to lớn đến nỗi chúng ta thậm chí chẳng có một từ ngữ nào thích đáng để mô tả sự cả thể của Ngài. Ngài lớn lao hơn mọi từ ngữ to lớn của chúng ta và vĩ đại hơn mọi suy tưởng vĩ đại của chúng ta. Vì Ngài là Đức Chúa Trời, không một từ ngữ hay tư tưởng nào của những người nam người nữ hay chết có thể xác định sự cao trọng của Ngài. Ngài còn cả thể hơn là chúng ta tưởng tượng, sự hiện diện của Ngài đầy dẫy cả vũ trụ, Ngài có quyền phép hơn chúng ta nhìn biết, khôn ngoan hơn mọi sự khôn ngoan của những người nam người nữ khôn ngoan, tình yêu của Ngài trổi hơn sự hiểu biết của con người, ân điển của Ngài chẳng có giới hạn, sự thánh khiết của Ngài là vô hạn, và mọi đường lối của Ngài không thể lường được. Ngài là Đức Chúa Trời chơn thật duy nhứt. Ngài không có đầu và chẳng có rốt. Ngài đã dựng nên muôn vật và muôn vật tồn tại bởi quyền phép thiêng liêng của Ngài. Ngài chẳng có ai đồng thời. Không một người nào cung ứng lời khuyên cho Ngài. Không một ai có thể hiểu hết được Ngài. Ngài là trọn vẹn trong mọi sự trọn vẹn của Ngài. Mọi nổ lực tốt nhứt của chúng ta không thể với tới thực tại thiêng liêng của Ngài dù chúng ta tự tâng bốc, nghĩ rằng chúng ta thực sự hiểu được Ngài.
            Chúng ta cần phải xem xét ý nghĩa của những câu Kinh thánh như: Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta (Phục truyền luật lệ ký 29:29) Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu (Êsai 55:9). Có một sự khác biệt rất cơ bản giữa Đức Chúa Trời và tạo vật của Ngài. Tư tưởng của Ngài thì “cao hơn” chính vì Ngài là Đức Chúa Trời, còn chúng ta thì không phải là Đức Chúa Trời. Vì vậy, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Đức Chúa Trời làm ra nhiều việc mà chúng ta không hiểu. Hay phần lớn những thắc mắc của chúng ta về sự sống sẽ chẳng sao giải đáp được. Gióp đã khám phá ra sự việc nầy khi Đức Chúa Trời đến gặp ông với một loạt dài những câu hỏi khởi sự với Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu? (Gióp 38:4) rồi kết thúc với Ai sẽ mở cửa họng nó ra? Sự kinh khủng vây chung quanh răng nó?” (Gióp 41:5). Trả lời cho câu hỏi đầu tiên là “no” [không], trả lời cho câu thứ hai là “không phải tôi”. Và trả lời cho từng câu hỏi ở giữa cũng nằm trong chỗ tiêu cực thôi. Sự thể giống như Đức Chúa Trời đang chơi game Celestial Jeopardy và nắm chắc trong tay mọi vấn đề, còn Gióp chỉ có thể trả lời cho một câu hỏi đơn giản thôi.
            Khi xử lý với những vật vã sâu sắc nhất của chúng ta, điều đó giúp nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời thực sự Ngài là ai. Nhận định của chúng ta về Đức Chúa Trời càng lớn lao hơn, chúng ta sẽ có thêm sức lực để đối mặt với những thử thách trong cuộc sống. Tương tự vậy, nhận định của chúng ta về Đức Chúa Trời càng thấp kém, chúng ta sẽ bị thổi tung đi khi thảm họa đến.
            Với cái nền đó, chúng ta hãy nhìn vào Rôma 11:33-36. Trong mọi phân đoạn Kinh thánh nói tới sự cả thể của Đức Chúa Trời, có lẽ chẳng có phân đoạn nào chứa nhiều sự thực được dầm thấm trong bốn câu duy nhứt. Phân đoạn nầy được gọi là “bài ca tụng của thần học” và là một sự “bùng nổ của khen ngợi”. Lời lẽ thật hoành tráng, đầy hy vọng, và ngoạn mục. Không một nhà chú giải Kinh thánh nào từng cảm nhận thích đáng khi đối diện với một phân đoạn kỳ diệu như thế nầy. Phân đoạn ấy chứa chiều sâu của lẽ thật mà không một ai có thể hy vọng khui hết được, hay hiểu biết ít nhiều. Trong các mục đích của chúng ta, chúng ta có thể sắp xếp các tư tưởng chính của bốn câu nầy qua các câu nói đơn sơ.
            Trước hết, mấy câu nầy dạy chúng ta …

Ba Sự thực Về Đức Chúa Trời

1. Ngài biết mọi sự cần phải biết.

            “Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! (33a). Sứ đồ Phaolô rất quen thuộc với Đức Chúa Trời như bao người khác, tuy nhiên ông xưng mình hiểu biết chưa tới chiều sâu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sâu bao nhiêu chứ? Sâu đến nỗi Phaolô chỉ có thể đứng nơi mép của vực sâu. Khi một người lội qua đại dương, người ấy cảm thấy an toàn bao lâu người còn cảm nhận được cát ở bên dưới chơn của mình. Song hãy để cho người lội ra xa hơn, và người sẽ cảm thấy không còn có cát nữa. Chắc chắn một lượn sóng ụp đến rồi kéo người vào lượn sóng đó, ở đó người không còn nắm được phương hướng nữa. Khi làn sóng cuốn người ra ngoài sâu, người kêu lên: “Ôi, sâu quá”. Đây là điều Phaolô đã cảm thấy khi ông đến với phần cuối cùng của sự suy gẫm về vẻ tối cao của Đức Chúa Trời, tội lỗi của con người, và chương trình đời đời của Đức Chúa Trời làm cho mọi người phải câm miệng lại trong ngục tù tội lỗi hầu cho Ngài có thể tỏ ra sự thương xót  cho hết thảy mọi người. Sau cùng, ông nói: “Chúng ta hãy thôi đừng lý luận nữa, mà chỉ ngợi khen Đức Chúa Trời của chúng ta vì chương trình chuộc tội khôn tả xiết của Ngài”. Thần học chắc chắn phải trở thành bài ca tụng hay khác đi, chúng ta sẽ phạm vào chỗ suy nghĩ là chúng ta thực sự hiểu biết Đức Chúa Trời.
            Ồ, chiều sâu sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
            Ồ, chiều sâu sự công bình của Đức Chúa Trời.
            Ồ, chiều sâu ân điển của Đức Chúa Trời.
            Ồ, chiều sâu sự tha thứ của Đức Chúa Trời.
            Hãy xem bài thánh ca nầy từ ngòi viết của Samuel Francis:
            Jêsus yêu thật sâu xa, vô tận!
            Lớn rộng, mênh mông, không giới hạn!
            Cuồn cuộn như đại dương vùng trổi dậy
            Dâng trào trên tôi giống thủy triều!
            Cuốn tràn bên tôi, ôm trọn quanh tôi!
            Là dòng yêu thương Ngài tuôn chảy
            Dìu đường lên trời, dìu đường về quê hương
            Tới miền hiển vinh, nghỉ yên lặng!
            Những người nam người nữ tài ba, sáng chói nhất chắc chắn phải đi đến cùng một kết luận. Các nhà thiên văn học nhìn lên các ngôi sao đầy dẫy trên bầu trời lúc ban đêm. Giống như kính thiên văn mạnh nhất đưa chúng ta đến bờ rìa của vũ trụ, người khôn ngoan cúi đầu xuống tung hô: “Lớn Bấy Duy Ngài!” Robert Jastrow đã sáng lập Học viện Goddard của cơ quan NASA. Trong quyển sách của ông Đức Chúa Trời Và Những Nhà Vũ Trụ, ông đến với phần kết luận nầy:
            Đây là sự phát triển cực kỳ lạ lùng, bất ngờ bởi các nhà thần học. Họ luôn luôn chấp nhận Lời lẽ của Kinh thánh: Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất … [Nhưng] đối với nhà khoa học nào sống bởi niềm tin của họ vào quyền phép của lý luận, câu chuyện kết thúc như một giấc mơ tồi. Ông đã leo lên những ngọn núi của sự dốt nát; ông sắp sửa chinh phục đỉnh cao nhất; và] khi ông đặt mình lên vầng đá sau cùng, ông được nghinh tiếp bởi một nhóm các nhà thần học họ đã ngồi ở đó hằng bao thế kỷ.
            Mặc dù Jastrow chẳng phải là nhà sáng tạo, lời lẽ của ông nhắc cho tôi nhớ tới Thi thiên 19:1: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm”.
            Người nào biết nhiều phải xưng nhận là họ biết rất ít. Nếu một người xưng nhận mình hiểu biết cặn kẻ về Đức Chúa Trời, chúng ta phải e rằng bản thân người ấy chẳng biết được bao nhiêu. Vì Đức Chúa Trời còn sâu thẳm hơn lý trí của chúng ta có thể dò tìm được. Không những sự khôn ngoan và sự hiểu biết của Ngài còn sâu thẳm hơn chúng ta biết, sự khôn ngoan và sự hiểu biết ấy còn sâu thẳm hơn là chúng ta có thể tưởng tượng được nữa. Chúng ta không có một loại lý trí nào để dò chiều sâu bổn tánh của Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ biết rằng chúng ta chẳng biết chi hết về bổn tánh ấy trừ phi những điều mà Đức Chúa Trời đã chọn bày tỏ ra. Tìm cách hiểu biết Đức Chúa Trời giống như tìm cách làm trống đại dương với một cái sô nước nhỏ. Nhúng cái sô ấy hàng ngàn lần trong nước thì bạn không tạo ra được một chỗ lõm nào của đại dương. Cái sô của bạn quá nhỏ bé, cánh tay của bạn quá yếu ớt, và đại dương thì quá mênh mông, quá rộng lớn, quá thẳm sâu. Cũng một thể ấy với Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể hiểu rõ được chiều sâu của hiện hữu Ngài. Khi tôi đến giảng ở Kentucky cách đây mấy năm, tôi có nghe một bài ca Tin Lành phát trên radio. Bài hát ấy đại loại như thế nầy đây: “Chẳng có gì xảy ra với bạn từng xảy ra với Đức Chúa Trời?” Ban đầu thì âm thanh ấy nghe kỳ lạ lắm, vì có những việc xảy ra cho chúng ta suốt, nhưng đó là sự thực: Chẳng có điều chi từng “xảy ra” với Đức Chúa Trời. Ngài không hề tỉnh giấc rồi nói: “Một ý hay vừa xảy ra cho ta”. Trong chỗ thứ nhứt, Ngài không hề ngủ, vì vậy Ngài không hề thức giấc. Ở chỗ thứ hai, tất cả mọi ý tưởng của Ngài đều quan trọng cả. Ở chỗ thứ ba, chẳng có gì từng xảy ra với Ngài. Ngài biết mọi ý tưởng quan trọng suốt từ lúc ban đầu có thời gian.
            Phân đoạn Kinh thánh của chúng ta cho thấy rằng Ngài biết rõ mọi sự từng được nhìn biết. Không những tri thức Ngài thật sâu thẳm, mà tri thức ấy còn rộng rãi nữa. Ngài biết rõ mọi sự đã hiện hữu, mọi sự đang hiện hữu, và mọi sự sẽ hiện hữu nữa. Thậm chí Ngài còn biết rõ mọi sự sẽ xảy đến, hay sẽ trở thành, hoặc rồi đây sẽ trở thành nữa. Không những Ngài biết rõ sự ấy, mà Ngài còn biết rõ sự ấy từ buổi ban đầu có thời gian nữa.
            Cách đây mấy năm, tôi có đọc một bài viết về “ân điển ngăn ngừa của Đức Chúa Trời”. Cụm từ – là mới mẻ đối với tôi – đề cập tới “ân điển đi trước”. Đây là phần định nghĩa rõ ràng: “Trong từng hoàn cảnh của cuộc sống, Đức Chúa Trời đã vận hành rồi trước khi tôi đến tại đó. Ngài đang hành động rất sáng tạo, có chiến lược và cứu chuộc vì ích cho tôi và vì sự vinh hiển của Ngài”. Wow! Có nhiều lần tôi hạn chế suy nghĩ của mình trước sự thực sự hiện diện của Đức Chúa Trời cùng đi với tôi khi tôi trải qua cuộc sống. Đó là sự thực, song đấy chỉ là một phần của câu chuyện mà thôi. Không những Ngài ở với tôi trong lúc bây giờ, Ngài đã có mặt trên đường trước tôi rồi. Hãy suy nghĩ theo cách nầy. Trong khi tôi vật vã với nhiều nan đề của ngày hôm nay, Đức Chúa Trời đang hành động cung ứng các giải pháp cho những vụ việc mà tôi sẽ đối diện vào ngày mai. Ngài có mặt ở đó rồi, hoạt động thật sáng tạo trong mọi tình huống mà tôi phải đối diện với, sửa soạn chúng cho tôi và tôi cho chúng.
            Hay nói theo cách khác: Trong khi tôi sống vào ngày thứ Ba, Ngài đang dọn đường cho tôi vào ngày thứ Sáu. Đấy là những gì Châm ngôn 3:6 muốn nói khi câu ấy hứa rằng “Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con”. Đức Chúa Trời đã hành động rồi cung ứng mọi giải pháp cho các nan đề mà thậm chí tôi chưa biết là mình sẽ gặp phải nữa! Có phải bạn lo lắng cho tuần tới không? Hãy quên việc ấy đi. Ngài đã có mặt ở đó rồi. Còn về buổi nhóm thứ Hai tới thì sao? Đừng vã mồ hôi về ngày ấy mà chi. Ngài đã có mặt ở đó rồi. Còn về cuộc phẫu thuật mà con gái lớn của bạn phải đối diện với trong mấy ngày nữa thì sao? Đừng sợ chi. Ngài đã có mặt ở đó rồi.
            Bấy nhiêu là đủ nếu Đức Chúa Trời chỉ đi với bạn qua những biến cố của cuộc sống khi chúng xảy ra. Nhưng Ngài còn làm nhiều hơn thế nữa kìa. Ngài đi trước mặt bạn, lo dọn đường, sắp xếp các chi tiết của cuộc sống hầu cho khi bạn đến tại đó, bạn có thể đầy lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã hiện diện ở đó trước bạn rồi. Đấy là ân điển ngăn ngừa của Đức Chúa Trời. Ngài đi trước dân sự Ngài. Ngài đang hành động trong thì tương lai đang khi chúng ta sinh sống trong thì hiện tại. Ngài có thể làm như thế vì Ngài biết rõ mọi sự cần phải biết.

2. Ngài lập ra những chương trình mà chúng ta không thể hiểu được.

            Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được!” (33b). Các bản dịch khác sử dụng từ “bí hiểm”, nghĩa là “trổi hơn mọi suy tưởng của con người”. Eugene Peterson đưa ra cách dịch nầy về câu 33: “Có bao giờ bạn biết được việc gì hoàn toàn giống như sự rời rộng cực kỳ của Đức Chúa Trời, sự khôn ngoan sâu sắc, thật sâu sắc như vầy chưa? Sự khôn ngoan ấy vượt khỏi lý trí của chúng ta. Chúng ta không thể hình dung ra được sự khôn ngoan ấy”. Tôi thích cụm từ đó "Sự khôn ngoan ấy vượt khỏi lý trí của chúng ta”. Không những Đức Chúa Trời lập ra những chương trình mà chúng ta không biết tới, ngay cả nếu chúng ta có biết đi nữa, chúng ta không thể hiểu được chúng. Điều đó giải thích lý do tại sao có một số việc chừa lại không sao giải thích được. Ấy chẳng phải là Đức Chúa Trời không bằng lòng lý giải đâu, sở dĩ như thế là vì lý trí nhỏ bé của chúng ta không thể hiểu được các ý đồ vô hạn của Đức Chúa Trời. John Wesley đã trình bày việc ấy theo cách nầy: “Xin chỉ cho tôi một con sâu nào có thể hiểu được một con người, thì tôi sẽ chỉ cho bạn thấy một con người có thể hiểu được Đức Chúa Trời”. Điều đó không sao chỉ ra được cả.

3. Chỉ một mình Ngài biết lý do tại sao mọi sự đang xảy ra.

            đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được! (33c). Matthew Henry có một lời rất hay về việc nầy. Những vụ việc chính yếu mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhìn biết đều rõ ràng và đơn giản cả. Ông nói, chúng giống như một xa lộ rộng mở cho hết thảy mọi người đi qua. Nhưng những sự xét đoán của tay Ngài đều lắc léo và kín nhiệm cả. Con đường đó bị đóng lại cho đến đời đời đối với chúng ta. Chúng ta không được dính dáng vào những lẽ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, thay vì thế hãy sấp mình xuống trước mặt Ngài với lòng tôn kính về những điều mà chúng ta không hiểu nổi. Khi ấy, ông thêm một câu nầy: “Đức Chúa Trời chẳng để lại dấu tay nào ở sau lưng Ngài”. Bạn không thể nói Ngài đang ở đâu hoặc Đấng Toàn năng sẽ đi đâu. Ngài chẳng để lại một dấu vết nào để chúng ta có thể lần theo. Nói như thế có nghĩa là trong cuộc sống có nhiều việc sẽ xảy ra mà chúng ta không hiểu nổi. Bệnh tật, tai họa, tội ác bạo lực, suy sụp tài chính thình lình, ly dị, mơ ước vụn nát, ung thư, cuồng phong, bão tố, động đất, lũ lụt, đói kém, chiến tranh, mọi lời hứa bị phá vỡ, điều ác lấn lướt điều thiện, mất việc làm, nhiều đời sống bị hủy hoại, con cái ngã chết, nhiều người khác được thăng cấp trong khi chúng ta bị thải hồi, những ý kiến của chúng ta bị tước mất và nhiều người khác lấy sử dụng, và các việc lành chúng ta làm để rồi người khác hưởng lợi lộc. Bảng danh sách còn dài vô tận và nát lòng.
            Cách đây mấy năm, Michael Gartner đã viết trên tờ USA Today về cái chết đột ngột của Christopher, là đứa con nuôi 17 tuổi của ông. “Nó chết vào ngày thứ Năm. Nó là một thiếu niên rất khỏe mạnh vào ngày thứ Ba. Nó trở bệnh vào ngày thứ Tư. Và nó ngã chết vào ngày thứ Năm”. Ông nói tiếp: “Bạn sẽ ưa thích nó. Ai nấy đều ưa thích nó”. Cha và con chẳng giống nhau chút nào. Michael Gartner cao 5’8 và cân nặng 160 pounds. Christopher cao gần 6’4 và cân nặng gần 300 pounds. “Trông nó như một tảng bêtông với một nụ cười”. Nó chết vì bị tiểu đường vị thành niên tấn công đột ngột. Bất chấp mọi nổ lực y khoa và những lời cầu nguyện bền đỗ, Christopher thình lình qua đời. “Thiệt là khủng khiếp, và buồn đau, và không một lời nào có thể yên ủi bốn ông bà của nó, anh chị em, bạn bè hay bố mẹ của nó”. Qua ngày sau khi nó qua đời, có một người bạn gọi đến và nói ra một việc duy nhứt giúp ông chịu đựng tai họa khủng khiếp đó: “Nếu Đức Chúa Trời đã đến với bạn cách đây 17 năm rồi phán: ‘Ta lập với ngươi một giao kèo. Ta sẽ ban cho ngươi một đứa trẻ xinh đẹp, tuyệt vời, vui vẻ và mạnh khỏe trong 17 năm, và rồi ta sẽ đem nó đi’ ngươi sẽ lo việc ấy trong một giây đồng hồ thôi”. “Và đấy là giao kèo. Chúng ta không biết rõ các giới hạn”, Michael Gartner đã nói. Ông đã đúng. Đấy luôn luôn là sự việc. Và chúng ta không hề biết các giới hạn ở trước mặt. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sống, sức khỏe, hạnh phúc, con cái, bạn bè, rồi phán: “Hãy tận hưởng điều đó đang khi ngươi có thể. Một ngày kia, ta sẽ trở lại để lấy chúng”. Và chúng ta không hề biết mọi giới hạn ở trước mặt.
            Chỉ có Đức Chúa Trời mới biết rõ lý do tại sao những vụ việc lại xảy ra. Phần lớn thời gian, chúng ta chỉ có thể lấy làm lạ mà thôi.
            Thứ hai, phân đoạn Kinh thánh cho chúng ta biết …

Có ba điều không ai có thể làm

            Các câu 34-35 chứa ba câu hỏi rất cường điệu, mỗi câu mong có một giải đáp tiêu cực. Hết thảy chúng đều bắt đầu với cùng hai chữ … “ai đã … ai đã  … ai đã?” Câu trả lời luôn luôn giống như nhau: “Chẳng có ai … Chẳng có ai … Chẳng có ai”.

1. Chẳng có ai giải thích được Đức Chúa Trời

            Vì, ai biết ý tưởng Chúa?” (34a). Có rất nhiều người nghĩ họ biết như thế nào là Đức Chúa Trời, nhưng việc duy nhứt chúng ta biết về Đức Chúa Trời là những việc mà Ngài đã chọn để bày tỏ ra cho chúng ta. Tôi dám chắc bạn đã nghe kể câu chuyện nói tới sáu người mù đang ra sức mô tả một con voi. Người thứ nhứt đụng tới cái ngà rồi nói: “Con voi thì nhọn hoắc, giống như ngọn giáo vậy”. Người thứ hai đụng tới cái hông to lớn rồi hô lên: “Không! Con voi giống như bức tường kìa”. Người thứ ba vuốt ve cái vòi của con voi rồi kết luận rằng con voi giống rặc con rắn. Người thứ tư tìm cách quàng hết tay mình quanh chân của con voi. Khi ông ta không thể làm được, ông ta nói: “Nó giống như một khúc cây”. Người thứ năm cảm thấy chiều rộng của cái lỗ tai thật to của con voi rồi nói: “Thiệt là dễ nhìn thấy con voi giống như một cái quạt vậy”. Người sau cùng đụng tới cái đuôi nhỏ rồi nói: “Mấy ông sai bét hết. Con voi giống như sợi dây vậy”. Ai đúng đây? Họ đều đúng cả đấy. Ai sai đây? Hết thảy họ đều sai. Hết thảy chúng ta đều giống như mấy gã mù kia khi phải đạt tới chỗ nhìn biết Đức Chúa Trời. Ai giữa vòng chúng ta có thể xưng mình hiểu trọn được Đức Chúa Trời vô hạn và Toàn Năng của vũ trụ? Không một ai biết đủ để giải thích Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn được.

2. Chẳng có ai bàn luận với Đức Chúa Trời được.

            ai là kẻ bàn luận của Ngài? (34b). Tôi thích cách Eugene Peterson trình bày: Có “ai lanh lợi đủ để nói cho Ngài biết việc phải làm” không? Ngài chẳng cần một vị tư vấn nào hết vì Ngài là khôn ngoan vô hạn. Trong các trường học, có những vị giáo sư được đào tạo đủ để gọi họ là tư vấn viên hướng dẫn. Họ giúp cho các sinh viên đưa ra những quyết định khôn ngoan về tương lai. Họ thu thập dữ liệu từ các thẻ báo cáo, điểm bài thi và những cuộc phỏng vấn chi tiết, kết hợp mọi điểm mạnh, yếu của sinh viên với các cơ hội sẵn có. Những vị tư vấn đó không thể thiếu vì cuộc sống đầy dẫy với nhiều tiềm năng. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng cần tư vấn viên hướng dẫn nào hết. Thực vậy, Ngài là Đấng Mưu Luận Hướng Dẫn trọn vẹn. Ngài hướng dẫn từng hữu thể trong cõi vũ trụ, song chẳng có ai hướng dẫn Ngài hết. Ngài mưu luận cho mọi loài thọ tạo, song chẳng có ai là mưu sĩ của Ngài cả. Vì một con người bình thường mưu luận với Đức Chúa Trời sẽ giống như một cây đèn cầy giúp cung ứng ánh sáng cho mặt trời.
            Một sinh viên đại học vật vã qua bài thi của mình về bộ môn kinh tế. Anh ta phải lo cho xong bài tập trước ngày lễ Giáng Sinh. Trong sự tuyệt vọng, anh ta viết nguệch ngoạc dưới tờ giấy: “Chỉ có Đức Chúa Trời mới biết câu trả lời cho ba câu hỏi nầy. Chúc Mừng Giáng Sinh!” Khi anh ta nhận lại bài thi đó, vị giáo sư đã phê như sau: “Đức Chúa Trời được 100 điểm. Con anh thì 0 điểm. Chúc mừng năm mới!”
            Chẳng có ai biết được nhiều như Đức Chúa Trời biết cả, chẳng có ai giải thích được Đức Chúa Trời, và chẳng có ai có thể làm mưu sĩ cho Ngài.

3. Chẳng có ai tố cáo Đức Chúa Trời về sự bất công.

            Hay là ai đã cho Chúa trước, đặng nhận lấy điều gì Ngài báo lại? (35). Câu hỏi nầy ra từ Gióp 41:2, ở đây Đức Chúa Trời hỏi Gióp: Ai ban cho ta trước đã, mà ta phải trả lại cho? Phàm vật chi ở dưới trời đều thuộc về ta. Chẳng có ai dám nói: “Hỡi Đức Chúa Trời, Ngài nợ tôi một việc” vì Chúa sẽ chẳng là con nợ của một ai hết. Chẳng có ai dám nói: “Ngài lừa đảo tôi” vì Đức Chúa Trời chẳng lừa đảo ai hết. Chẳng có ai dám nói: “Tôi đã kiếm được ơn của Ngài” vì mọi sự ở bên nầy địa ngục là sự thương xót, và mọi sự ở bên nầy thiên đàng là ân điển. Hãy xem xét mọi điều mà Đức Chúa Trời chúng ta đang làm:
1) Ngài phục hồi những kẻ loạn nghịch bằng cách ưng ban cho họ sự công bình của Ngài.
2) Ngài chuộc lấy những kẻ phạm pháp rồi cất bỏ tấm lòng loạn nghịch của họ.
3) Ngài làm cho sự vinh hiển của mình được thêm lên bằng cách cứu lấy những kẻ phải đi thẳng vào địa ngục.
            Chúng ta hãy xét kỹ về điểm nầy. Đức Chúa Trời cứu những người mà Ngài chẳng có bổn phận gì phải cứu hết. Ngài có thể hủy diệt dòng giống con người rồi khởi sự lại với thứ vật liệu thô tốt hơn. Nhưng Ngài không làm vậy. Những gì Ngài đã làm đúng hoàn toàn là không thể hiểu nổi.
            Đấng Vô Hạn trở thành hữu hạn.
            Đấng Toàn Năng trở thành một em bé.
            Thần Linh được bọc trong mấy tấm tả.
            Luther nói như vầy: “Ngài là Đấng mà thế gian không thể bảo bọc, lại nằm bên hông của Mary”. Chẳng một ai trừ ra chính mình Đức Chúa Trời từng dám nghĩ về việc ấy. Và rồi, trong sự khôn ngoan của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con đã chết một cái chết đáng thương, sỉ nhục, dữ dội trên thập tự giá của người Lamã – cái chết dành cho sự bất công, Đấng Vô Tội gánh lấy tội lỗi của cả thế gian. Để Đấng Christ trở thành Cứu Chúa của chúng ta, có ba điều kiện cần phải được thỏa:
1) Ngài phải là một con người. Một thiên sứ không thể chết vì tội lỗi chúng ta. Ngài phải thực sự dự phần vào nhân tánh của chúng ta.
2) Ngài phải là một con người vô hạn. Một kẻ hay chết không thể gánh lấy cái giá vô hạn làm giá cho tội lỗi của chúng ta.
3) Ngài phải là một con người vô tội. Một tội nhân không thể chết vì tội lỗi của nhiều người khác.
            Đức Chúa Trời đã làm ra mọi sự cần thiết cho bạn để được lên thiên đàng. Chẳng có ai dám tố cáo Đức Chúa Trời về sự bất công vì Ngài ban ơn cứu rỗi ra cho toàn thế gian. Chẳng có ai tin theo Chúa Jêsus mà bị xua đuổi đi bao giờ.
            Chẳng có ai sẽ kết thúc trong địa ngục trừ phi kẻ ấy đáng phải bị ở đó.
            Chẳng có ai sẽ kết thúc trên trên đàng trừ phi người ấy được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Trời.
            Mọi sự ở bên nầy địa ngục là sự thương xót, và mọi sự bên nầy thiên đàng là ân điển.
            Sau cùng, phân đoạn Kinh thánh cung ứng cho chúng ta …

Ba Lý Do Để Ngợi Khen Đức Chúa Trời

            Sự việc cho thấy Phaolô không còn chịu đựng được nữa. Ông muốn tỏ ra rằng Đức Chúa Trời là mọi sự trong mọi sự. Mọi sự đều đến từ Ngài, mọi sự đang tồn tại bởi quyền phép của Ngài, và mọi sự sẽ trả lời với Ngài một cách hoàn toàn. James Montgomery Boice gọi câu nầy là bí quyết của một “thế giới quan Cơ đốc” vì nó truất phế con người xuống rồi đặt Đức Chúa Trời lên ngai vàng của vũ trụ. Ông đưa ra quan điểm của mình bằng cách đặt câu hỏi: Ban nhạc Beatles đã ghi âm bài hát sau cùng nào trước khi họ tan rã? Đáp: “Ta, tôi, của tôi”. Mục sư Boice bình luận rằng bài hát sau cùng của ban Beatles cũng là bài hát đầu tiên cũng là bài hát sau cùng của tấm lòng chưa được sanh lại. Nhưng bài ca của kẻ được chuộc là Rôma 11:36!

1. Ngài là nguồn cội của muôn vật.

            “Đều là từ Ngài” (36a) Ngài là nguồn của muôn vật, ý nói rằng muôn vật đều tuôn tràn ra từ Ngài. Tôi thấy phần minh họa tuyệt vời cho lẽ thật nầy khi tôi tham dự mấy ngày kỳ trại Camp Nathanael ở Emmalena, Kentucky. Bản thân căn trại quả là một phép lạ. Có một người tên là Garland Franklin là giám đốc đầu tiên. Trở lại thập niên 1930, ông đang lái xe dọc theo con đường đầy bụi gần Khe Troublesome khi Chúa phán cùng ông như sau: “Ta muốn ngươi xây một cái trại ở đây”. Đất không được đoạn mãi ngay khi đó, nhưng ông Franklin bắt đầu cầu nguyện về việc ấy. Vài năm sau đất đai được phát mãi và hội truyền giáo gây quỹ để mua nó. Tất nhiên điều nầy nằm trong trọng tâm Cuộc Đại Suy Thoái khi tiền bạc khan hiếm ở khắp mọi nơi, nhưng chẳng có chỗ nào khan hiếm hơn xứ có mỏ than ở miền Đông Kentucky.
            Thế rồi vào năm 1936, họ quyết định đào một cái giếng ngay trên phần đất đó. Sau khi tiết kiệm được tiền bạc, họ thấy rằng họ chỉ có US$75 để trả cho cái giếng – việc đào giếng, lắp đặt thiết bị, và bất kỳ phí tổn nào khác nữa. Khi người ta đến đào giếng, Ông Franklin hỏi người ấy muốn đào ở chỗ nào!?! Người thợ ấy đáp “Thưa ông Franklin, tôi có thể nhìn thấy trong đất sâu như ông có thể thấy”. Thế nên, Garland Franklin đã chỉ một chỗ rồi nói: “Đào ngay ở đây đi”. Thế là người ấy khởi sự đào rồi đụng đến nước sau khi đào xuống chỉ có 75 feet (trong khi các giếng khác trong khu vực phải đào ít nhất là 200 feet). Sau khi đặt máy bơm vào, cùng tra lắp mọi chi tiết khác, nhà thầu tổng kết hóa đơn rồi trình lên cho Ông Franklin. Con số chính xác là US$74,99. Họ chỉ còn lại có một xu mà thôi!
            Song đấy chưa phải là kết cuộc của câu chuyện đâu. Cái giếng họ đào vào năm 1936 vẫn còn ở đó và vẫn còn bơm nước. Nhưng đấy chưa phải là việc đáng kinh ngạc nhất. Trong 70 năm, cái giếng chưa hề khô cạn. Không bao giờ. Dù chỉ một chốc lát cũng không. “Giống như giếng ấy có cả đại dương nước dưới đó” giám đốc trại cho tôi biết như thế. Cách đây mấy năm, khi có cơn hạn hán khắc nghiệt ụp vào khu vực, phần lớn các giếng địa phương đều khô cạn, song cái giếng ở trại Nathanael thì không bị cạn khô. Họ có nhiều nước đến nỗi họ để cho dân địa phương đến và đong đầy mấy cái thùng đựng nước của họ.
            Cái giếng vẫn còn bơm nước lên, và nó chẳng tỏ ra có một dấu hiệu nào về sự khô cạn cả. Có phải đấy là một phép lạ không? Phải, nhưng đàng sau cái giếng lạ lùng đó là một Đức Chúa Trời chuyên làm phép lạ, Ngài có thể phán một lời thì cả đại dương nước chảy ùa xuyên qua lòng đất. Ngài thực sự là nguồn cội của muôn vật.

2. Ngài là Đấng Nâng Đỡ cho muôn vật

            “Bởi Ngài” (36b). Không những muôn vật đều ra từ Ngài, mà Ngài còn là lý do cho sự sinh tồn liên tục của vũ trụ nữa. Một mình Ngài hiểu rõ mục đích dành cho muôn vật mà Ngài đã dựng nên. Một trong những câu chuyện ưa thích nhất của tôi có liên quan tới George Washington Carver, người đã khám phá ra 255 việc khác nhau mà bạn có thể làm với một cái hột đậu phộng. Tấn sĩ Carver được tôn kính trong nhiều năm làm việc tại Học viện Tuskegee, thuộc bang quê hương Alabama của tôi. Vì cớ ông, miền Nam bắt đầu chuyển mình từ nền kinh tế vải sợi qua nền kinh tế các vụ mùa khác. George Washington Carver là một Cơ đốc nhân tin kính, ông vốn có một sự hiểu biết sâu sắc về Đức Chúa Trời. Khi người ta hỏi ông làm sao ông đạt tới chỗ hiểu rõ được nhiều cách sử dụng dành cho đậu phộng như thế, ông thuật lại câu chuyện nầy. Ông nói rằng khi còn là một thanh niên, ông đi dạo ngoài đồng ruộng và khi có mặt ở đó, ông và Chúa đã có một cuộc trò chuyện. Khi ông yêu cầu Chúa tỏ ra cho ông biết lý do tại sao Ngài đã dựng nên vũ trụ, Chúa phán: “Nầy con, bấy nhiêu đó là quá lớn lao cho con đấy. Hãy hỏi ta điều chi con có thể hiểu được kìa”. Vì vậy, ông cố gắng một lần nữa. “Lạy Chúa, xin tỏ cho con thấy lý do tại sao Ngài đã dựng nên thế gian”. “Vẫn còn quá lớn lao cho con đấy. Hãy thử hỏi một lần nữa xem sao!” George Washington Carver cúi đầu nhìn xuống đất rồi nhìn thấy mấy cái hột đậu phộng vướng trên gốc nho. “Lạy Chúa, Ngài có thể nói cho tôi biết lý do tại sao Ngài dựng nên hột đậu phộng không?” “Đấy là một câu hỏi hay đấy. Giờ đây, chúng ta tìm ra một việc mà con có thể hiểu được rồi đó”. Chúa chỉ cho Tấn sĩ Carver các bí quyết của đậu phộng, và ông đã sử dụng mọi điều Đức Chúa Trời chỉ cho ông để làm thay đổi thế giới.
            Mọi sự đều là “bởi Ngài”. Tất cả tri thức, mọi sự khôn ngoan, mọi sự chúng ta có đều là “bởi Ngài”. Ngài là Đấng Nâng Đỡ của muôn vật – ngay cả hột đậu phộng!

3. Ngài là Mục đích tối hậu của muôn vật

            “Muôn vật hướng về Ngài” (36c). Đây là câu nói rất hay vì Phaolô gộp hết “muôn vật” vào lời công bố của ông. Không một thứ gì bị chừa lại, không một chi tiết nào trong sự sáng tạo bị trừ ra. Đức Chúa Trời là ban đầu, ở giữa, và cuối cùng của “muôn vật”. Mọi sự đều ra từ Ngài, mọi sự tiếp diễn bởi Ngài, mọi sự tìm thấy mục đích tối hậu của nó trong Ngài. Cuộc sống giống như trò chơi ghép hình khỗng lồ, và chúng ta giống như bầy trẻ tìm cách ghép các mẫu nhỏ lại với nhau sao cho giống với hình mẫu trên bìa hộp. Thế là chúng ta tìm cách ghép các mẫu nhỏ lại với nhau rồi hình dung ra bức tranh lớn cùng một lúc. Không có gì phải ngạc nhiên, chúng ta vật vã hình dung ra những gì liên quan tới sự sống. Khi nhiều năm trôi qua, chúng ta nhặt lấy những mẫu nhỏ lắp ráp kia và có nhiều việc từng làm bối rối chúng ta giờ đây dường như không còn thấy bối rối nữa. Và chúng ta có một sự tán thưởng mới mẻ về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời vì chẳng có một thứ gì là phung phí hết. Mọi sự đều “vừa khít” ở đâu đó.
            Hay chúng ta giống như bầy kiến kia đang bò trên bức tranh mà Rembrandt đã vẽ ra. Khi chúng ta đến với những màu tối, dường như toàn bộ bức tranh đều tối tăm, ảm đạm, bí ẩn. Mọi sự ở chung quanh chúng ta đều sậm tối, xanh đen hay đen như nửa đêm. Nhưng nếu chúng ta chỉ đứng lui lại từ chỗ bức tranh, chúng ta sẽ nhìn thấy rằng màu tối được bù lại bởi màu sáng hơn — màu đỏ, xanh lá cây, vàng, xanh da trời và màu cam. Chính sự mờ tối của các màu sậm làm cho màu sáng hơn nổi bật rõ nét. Cũng một thể ấy với chính sự sống. Chúng ta có thể tốn nhiều ngày hay nhiều tuần lễ hoặc nhiều năm trong tông màu đen tối của cuộc sống. Bịnh tật, đau đầu, thảm họa, ngược đãi và phản bội có thể khiến cho chúng ta nghĩ rằng chẳng có tông màu nào sáng sủa hơn. Nhưng Đức Chúa Trời đang tô vẽ một kiệt tác trong đời sống của bạn và trước khi nó hoàn tất, Ngài sẽ sử dụng từng màu sắc trên bảng màu của mình. Nếu bạn không nhìn thấy sản phẩm sau cùng trên đất, bạn sẽ nhìn thấy nó rõ ràng ở trên thiên đàng.
            Tôi được nhắc nhớ đến câu nói nổi tiếng của Augustine: “Ngài có thể dựng nên chúng tôi cho chính mình Ngài, và tấm lòng chúng tôi không yên nghỉ cho tới chừng nào chúng tìm được sự yên nghỉ trong Ngài”. Muôn vật được dựng nên từ Ngài, bởi Ngài, và vì Ngài. Ngài là nguồn cội, phương tiện, và là mục tiêu của mọi loài thọ tạo. Chúng là một phần của “muôn vật” trong Rôma 11:36.
Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Có điều gì còn chừa lại cho chúng ta trừ ra lời lẽ của Phaolô trong câu 36 không? Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng! A-men (36d). Mọi lẽ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời dẫn chúng ta tới một trong hai hướng. Một là bạn bỏ đi đức tin mình rồi trở thành kẻ hoài nghi hoặc bạn sấp mình quì gối xuống trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng quá vĩ đại, quá bao la, đáng kính sợ mà bạn không có thể hiểu biết trọn vẹn được.
            Đức Chúa Trời luôn luôn để lại cho chúng ta với một sự lựa chọn, có phải không? Bạn có thể tin theo rồi được cứu hoặc bạn có thể hồ nghi rồi bị rủa sả. Nhưng dù là cách nào đi nữa phần nhiều các thắc mắc của bạn sẽ không bao giờ được giải đáp đầy đủ. Nếu bạn chọn tin theo, khi ấy chúng ta bị để lại với lời lẽ sau cùng nầy: Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong chỗ sống và trong chỗ chết – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong sự vui cũng như buồn – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong những ngày sáng sủa và những đêm tăm tối – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong lúc bệnh tật và trong khi mạnh khỏe – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong sở làm và trong tư thất của bạn – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong cuộc hôn nhân và nơi con cái của bạn – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong lúc bạn thịnh vượng và khi nghèo khó – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong thời buổi hòa bình và trong những lúc chiến tranh – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong làn gió hiu hiu nhẹ và trong cơn bão táp – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong lớp học và trong phòng họp – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong khoảnh khắc đắc thắng và trong lúc thất bại tối tăm nhất – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong những lời cầu nguyện được nhậm và trong những lời cầu nguyện không được nhậm – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Trong nước mắt của ngày hôm qua, vui mừng của ngày hôm nay, và phiêu lưu của ngày mai – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Ở trên trời và trên đất – Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng!
            Bất cứ điều chi xảy đến, dù thảm họa hay đắc thắng, ở giữa những năm tháng, với sự thay đổi của các mùa, khi chúng ta đủ hiểu biết hay chẳng có chi hết, khi hy vọng qua đi và mọi sự chúng ta còn lại là Đức Chúa Trời, Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng! Amen!