Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Sáng thế ký 49:10; Luca 1:33: "Từ Giacốp Đến Chúa Jêsus"


Từ Giacốp đến Chúa Jêsus
– Sáng thế ký 49:10; Luca 1:33
Phần nghiên cứu của chúng ta về cuộc đời của Giacốp rất khác biệt đối với các phần khác. Khi chúng ta bắt đầu, ông vẫn còn ở trong lòng mẹ. Khi Sáng thế ký đưa câu chuyện của ông đến chỗ kết thúc, ông được chôn cất trong hang đá Mặcbêla, cùng với cha và ông nội của mình. Ở phần giữa, con người có đức tin nầy không hề thôi di chuyển — từ Bêe Sêba đến Bêtên đến Charan đến Galaát đến rạch Giabốc đến Sucốt đến Sichem đến Bêtên một lần nữa đến Éphata đến Tháp Êđe đến Mamrê đến Bêe Sêba một lần nữa đến Aicập rồi sau cùng trở về lại Đất Hứa, ở đó ông được chôn cất trong Hang Đá Mặcbêla — và đấy đúng là những lần di chuyển mà chúng ta biết rõ. Trong 147 năm, Giacốp chưa bao giờ để cho cỏ mọc dưới chân ông.
Nhưng giờ đây câu chuyện đã qua rồi, và ông chuyển vào trong bảng danh sách các nhân vật nổi tiếng của Kinh thánh. Đem sánh với Ápraham, đức tin của ông không phải là lớn lao cho lắm. Đem sánh với Giôsép, mọi thành tựu đời nầy của ông chẳng thấm vào đâu cả. Đem sánh với Ysác, Giacốp đã làm rất tốt cho bản thân mình. Ông không phải là nhân vật lỗi lạc nhất trong Cựu Ước, nhưng ông đứng trụ không xa đối với đỉnh cao của bảng danh sách. Nhiều người khác đã làm việc nhiều hơn, có lẽ thế, song chẳng có ai để lại dấu ấn không thể xóa nhòa được như vậy. Trong gần 4.000 năm kể từ lúc ông qua đời, mỗi lần có người nhắc lại về dân tộc Israel, họ đã nộp thuế vô danh cho Giacốp.
Mục đích của chúng ta trong phần nghiên cứu sau cùng nầy là đặt Giacốp vào phạm trù rộng lớn hơn trong khải thị của Kinh thánh. Một dòng sông lịch sử nối tiếp chảy từ Sáng thế ký cho đến sách Khải huyền, trải ra hàng ngàn năm và hàng trăm thế hệ. Người nào tin theo Kinh thánh từ lâu đã luận rằng mặc dù Kinh thánh chứa 66 sách do nhiều người khác nhau viết ra qua 1500 năm, song chỉ có một sứ điệp: chương trình của Đức Chúa Trời là đem ơn cứu rỗi đến cho thế gian qua Đức Chúa Jêsus Christ. Dầu là thế nào, mọi sự trong Kinh thánh rất thích ứng với đề tài lớn lao đó.
Cựu Ước — Dự kiến
Các sách Tin Lành — Sự hóa thân thành nhục thể
Công Vụ các Sứ Đồ — Công bố
Các thư tín — Giải thích
Khải huyền — Hoàn thành
Cựu Ước chép: “Ngài sẽ đến!” Các sách Tin Lành chép: “Ngài đang hiện diện ở đây!” Sách Công Vụ các Sứ Đồ chép: “Ngài đã đến!” Các thư tín chép: “Ngài là Chúa!” Sách Khải huyền chép: “Ngài sẽ tái lâm!”
Thế thì lịch sử [History], là câu chuyện của Ngài [His Story]. Mọi sự trong Kinh thánh, một là dẫn tới sự đến của Ngài hay giải thích ý nghĩa sự đến của Ngài hoặc những lời hứa hẹn rằng Ngài sẽ đến một lần nữa. Cách đây mấy năm, Norm Geisler đã viết một quyển sách có đề tựa là Tìm Hiểu Kinh Thánh, Tìm Kiếm Đấng Christ. Trong quyển sách nầy, ông trình bày cho thấy thể nào Đấng Christ được thấy có trong tất cả 66 sách của Kinh thánh. Trong Sáng thế ký, Ngài là Dòng Dõi Của Người Nữ, trong sách Xuất Êdíptôký Ngài là Chiên Con Lễ Vượt Qua, trong sách Lêvi ký Ngài là Đấng Chuộc Tội Bằng Huyết, Trong sách Dân số ký Ngài là Ngôi Sao của Giacốp, và cứ thế. Quan sát một cách chính xác, Kinh thánh là Christocentric — nghĩa là Kinh thánh có Đấng Christ làm trung tâm điểm của nó.
Trong phần nghiên cứu nầy, chúng ta muốn khám phá thể nào Giacốp lại phù hợp với chương trình rộng lớn hơn của Đức Chúa Trời khi đem Đức Chúa Jêsus Christ vào thế gian. Bạn tiếp thu thế nào từ Giacốp đến Chúa Jêsus? Đâu là sự kết nối giữa Kẻ Nắm Gót Chơn và Con của Đức Chúa Trời? Phải chăng, có một sợi dây nối dài từ Bêtên đến Bếtlêhem?
Lời hứa đang mở ra
Câu chuyện của chúng ta khởi đi từ Vườn Êđen vào lúc thê thảm kia, sau khi Ađam và Êva đã ăn trái cấm. Địa đàng bị xúc phạm khi tội lỗi xen vào. Satan đã thắng, chương trình của Đức Chúa Trời bị lạc hướng, Tổ Phụ Đầu Tiên của chúng ta đã sa ngã không còn ở trong tình trạng vô tội nữa. Kể từ giờ phút tội lỗi lan rộng khắp cả đất, làm vấy bẩn mọi sự mà nó chạm đến.
Đức Chúa Trời sẽ làm gì đây? Ngài sẽ xử lý thế nào với hạng người được chọn lại xây khỏi Ngài? Liệu Ngài có tiêu diệt Ađam và Êva rồi khởi sự lại không? Không. Sự cứu rỗi bắt đầu với phần lưu ý rất đơn sơ, ấy là Đức Chúa Trời không bỏ cuộc đối với dòng giống con người. Đức Chúa Trời đã quyết định, Ngài phải làm một việc gì đó! Ngài sẽ không để cho Satan thắng trận để đoạt lấy hành tinh địa cầu nầy đâu.
Phần còn lại của Cựu Ước là sự mở ra theo cách tiệm tiến chương trình của Đức Chúa Trời để chống lại mọi điều đã xảy ra trong vườn Êđen. Vào thời điểm ấy, Đức Chúa Trời đã lập một lời hứa, tuy mơ hồ, nhưng lại là một tia sáng le lói đầu tiên của hy vọng sau Sự Sa Ngã. Lời hứa ấy người ta có thể lần theo qua nhiều thế kỷ khi Đức Chúa Trời từ từ làm sáng tỏ lời hứa bằng cách thu hẹp phạm trù của nó. Lời hứa trong hình thức thanh sạch nhất của nó là đây: Đức Chúa Trời sẽ làm một việc về tội lỗi bằng cách sai ai đó đến với thế gian. Thế nhưng ai, và bằng cách nào, rồi ở đâu và vào thời điểm nào?
Chúng ta hãy lần theo câu trả lời đang mở ra cho câu hỏi ấy:
1. Ngài sẽ là một thành viên của dòng giống con người.
“Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế ký 3:15). Câu nầy chứa một lượng thông tin đáng kinh ngạc về chương trình giải cứu dòng giống con người của Đức Chúa Trời:
1. Chương trình của Đức Chúa Trời tựu trung vào một nhân vật đặc biệt.
2. Nhân vật ấy sẽ là một con người.
3. Ngài sẽ bước vào dòng giống con người bằng cách ra đời bởi một người nữ.
4. Ngài sẽ đánh trận với Satan.
5. Satan sẽ tung cú đấm chống lại Ngài, song không đánh bại Ngài được.
6. Ngài sẽ chà nát Satan và quyền lực của hắn.
Đấng Cứu Tinh, khi Ngài đến, sẽ trở thành “dòng dõi của người nữ" — nghĩa là, Ngài không phải là một thiên sứ hay một tạo vật siêu nhiên, mà Ngài là một con người và sẽ bước vào dòng giống con người bằng cách được một người nữ sanh ra. Sáng thế ký 3:15 vì thế là manh mối đầu tiên trong chuổi xích dài dẫn chúng ta đến thành Bếtlêhem.
2. Ngài sẽ xuất thân từ giống dân Semitic.
“Đáng ngợi khen Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem thay!” (Sáng thế ký 9:26). Sau nạn lụt thời Nôê, dòng dõi bắt đầu thu hẹp lại. Nôê có ba người con trai, nhưng Đấng Cứu Tinh phải ra từ một trong số họ. Nôê công bố rằng Đấng Cứu Tinh sẽ ra từ dòng dõi của con trai ông là Sem — ông là tổ phụ của dân Semitic trên thế giới.
3. Ngài sẽ là con của Ápraham.
“Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Sáng thế ký 12:2-3). Nhiều năm về sau Đức Chúa Trời phán với Ápraham đang khi ông trú ngụ tại Urơ, xứ Canhđê, kêu gọi ông rời khỏi thành phố ấy để đến một đất mà Đức Chúa Trời sẽ chỉ cho ông sau đó. Ápraham đã vâng theo rồi kết thúc tại Đất Hứa. Điều nầy chỉ ra một sự thu hẹp quan trọng của lời hứa — từ mọi dòng giống con người để rồi chỉ còn một con người mà thôi. Đấng Cứu Tinh phải ra từ dòng dõi của Ápraham.
4. Ngài sẽ là con của Ysác.
“…các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước …” (Sáng thế ký 22:18). Lời hứa thu hẹp lại sâu xa hơn nữa khi Đức Chúa Trời giờ đây chỉ rõ rằng lời hứa sẽ đến qua Ysác — chớ không phải qua Íchmaên.
5. Ngài sẽ là con của Giacốp.
“…các chi họ thế gian sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước” (Sáng thế ký 28:14). Ysác có hai người con trai — Giacốp và Êsau. Theo thông lệ, Êsau sẽ nhận được lời hứa trong vai trò người con trưởng. Song ông đã bán quyền ấy cho Giacốp để lấy tô canh “phạn đậu”. Liệu Đức Chúa Trời có tôn cao việc chuyển giao đó không? Câu trả lời là “có”, mặc dù nơi phần Giacốp có một số bất công trong đó. Trong giấc chiêm bao mầu nhiệm về cái thang bắc lên tận trời, Đức Chúa Trời nhắc lại với Giacốp lời hứa đã lập trước đây với cha và ông nội của ông. Thế là dòng dõi bị thu hẹp lại một lần nữa.
6. Ngài sẽ ra từ chi phái Giuđa.
“Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, Kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới, và các dân vâng phục Đấng đó” (Sáng thế ký 49:10). Giacốp có 12 con trai. Người con nào sẽ được chọn để cưu mang lời hứa ấy? Theo quyền hạn, thì chắc sẽ là Rubên, là con trưởng nam. Nhưng ông ta đã phạm tội và bị gạt qua một bên. Cũng thực như thế với Simêôn và Lêvi. Khi Giacốp đến với Giuđa là con trai thứ tư, ông đã thốt ra một trong những lời tiên tri đáng kinh ngạc nhất trong cả Kinh thánh. Trong 2.000 năm, Sáng thế ký 49:8-12 đã được xem là một trong những lời tiên tri quan trọng về Đấng Mêsi trong Cựu Ước. Mặc dù Giacốp đã già và sắp qua đời, với hai con mắt đức tin ông đã nhìn thấu qua lớp sương mù đến cái ngày mà chi phái Giuđa sẽ nắm lấy quyền lãnh đạo trong xứ Israel. Dân sự Giuđa sẽ giống như sư tử đầy can đảm và năng lực. Chi phái của họ sẽ dẫn lối; còn 11 chi phái kia sẽ đi theo.
Cây phủ việt (dấu hiệu về uy quyền vua chúa) sẽ đặt nơi Giuđa cho tới chừng “Đấng Silô” hiện đến. “Silô” một là danh xưng thích hợp nói tới Đấng Mêsi hay đó là một từ Hêbơrơ rút gọn có ý nói “Ngài là Đấng mà (cây phủ việt) thuộc về”. Nếu đây là một danh xưng thích đáng, thế thì “Silô” có nghĩa là “Đấng đem lại hoà bình”. Chỉnh như thế thì cũng hay, một khi Êsai 9:6-7 gọi Đấng Mêsi là “Chúa Bình An” và Michê 5:5 chép về Đấng Mêsi “Ngài sẽ giải cứu chúng ta”. Nếu đây là sự rút gọn của từ ngữ Hybálai, Giacốp đang nói tiên tri rằng Đấng Mêsi sẽ là vị vua hợp pháp trên thế gian. Cả hai tư tưởng kia đều đúng, tất nhiên, và cái điều khả thi, ấy là cả hai tư tưởng đều được từ ngữ “Silô” nhắm đến.
Đây là phần tóm lược lời tiên tri của Giacốp liên quan tới Giuđa ở Sáng thế ký 49:8-12:
1. Giuđa sẽ là chi phái thống trị trong xứ Israel. (8)
2. Giuđa sẽ như sư tử đầy can đảm và năng lực. (9)
3. Đấng Mêsi sẽ ra từ chi phái Giuđa. (10)
4. Sự đến của Đấng Mêsi đem lại bình an, vui mừng và thịnh vượng. (11-12)
Mặc dù Giacốp nói trước quyền thống trị của Giuđa, lời tiên tri nầy chưa ứng nghiệm trong nhiều thế kỷ. Các cấp lãnh đạo đầu tiên của Israel đã xuất thân từ các chi phái khác:
Môise ra từ chi phái Lêvi
Giôsuê ra từ chi phái Épraim
Ghiđêôn ra từ chi phái Manase
Samsôn ra từ chi phái Đan
Samuên ra từ chi phái Épraim
Saulơ ra từ chi phái Bêngiamin
Nhưng sau khi Saulơ bị chối bỏ, Đức Chúa Trời đã chọn một người từ chi phái Giuđa lên làm vua.
7. Ngài sẽ là dòng dõi của David.
Ở I Samuên 16 có nhiều việc bắt đầu thay đổi. Sau khi từ bỏ Saulơ không cho làm vua nữa, Đức Chúa Trời chọn đứa con trai út của Giesê, một gã thiếu niên chăn chiên tên là David. Hiển nhiên ông trở thành vua của Israel. Đồng thời, ông được xem là vì vua lỗi lạc nhất của Israel, là chiến binh mẫu mực, là chính khách lỗi lạc, là thi sĩ có tài và là “ca sĩ ngọt ngào của Israel”. Trong một nhân vật như thế nầy, gói ghém mọi kỳ vọng, mơ ước của một dân tộc khao khát sự ứng nghiệm của mọi lời hứa xa xưa.
Nơi đỉnh cao cơ nghiệp của ông, Đức Chúa Trời đã lập một lời hứa đáng kinh ngạc với David. “…Đức Giê-hô-va phán hứa rằng Ngài sẽ dựng cho ngươi một cái nhà … thì ta sẽ lập dòng giống ngươi kế vị ngươi, … Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đổ trước mặt ngươi đời đời; ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi” (II Samuên 7:11-12, 16). Lời hứa nầy là lời hứa đặc biệt nhất. Không những Đấng Cứu Tinh sẽ ra từ dòng dõi của David, mà Ngài còn tể trị trên vương quốc của David và sẽ trị vì trên ngôi của David. Còn hơn thế nữa, “nhà”, “vương quốc”, và “ngôi” của David sẽ kéo dài cho đến đời đời.
Những lời hứa ngọt ngào nầy trổi hơn những vì vua con người nối theo sau David — Salômôn, Asa, Êxêchia, Giôsia, chỉ kể một vài tên thôi. Mặc dù những người nầy sống công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vì họ là con người, họ không thể trị vì từ ngôi của David cho đến đời đời được. Hạng người hay chết không thể làm cho lời hứa nầy cùng kiệt được. Lời hứa ấy đòi hỏi Một Vì Vua sẽ sống cho đến đời đời. Nhưng nhân vật nào có thể làm ứng nghiệm đòi hỏi ấy chứ? David vốn không thể hình dung nổi câu trả lời cho câu hỏi kia.
Lời hứa giờ đây quả thật đã trở nên rất đặc biệt. Chúng ta đã chuyển từ một thành viên trong dòng giống con người đến một dòng dõi của Sem đến Ápraham đến Ysác đến Giacốp đến Giuđa đến chi phái Giuđa đến David đến dòng dõi của David rồi hoàn toàn đến nhân vật có thể trị vì đời đời trên ngôi của David.
Ai có thể là Đấng Cứu Tinh và Ngài sẽ xuất thân từ đâu và làm sao nhìn nhận Ngài đây? Hai lời hứa kế đó bắt đầu trả lời cho câu hỏi nầy.
8. Ngài sẽ do một nữ đồng trinh sanh ra.
Nhiều năm trôi qua khi dân sự của Đức Chúa Trời trông đợi Đấng Cứu Tinh đến từ trời. Khi ấy, vào thời vua Acha, Đức Chúa Trời một lần nữa thu hẹp lại dòng dõi ấy. Lần nầy, Ngài chỉ ra thể nào Đấng Cứu Tinh sẽ nhập thế: “…chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt tên là Em-ma-nu-ên” (Êsai 7:14). Ra đời bởi nữ đồng trinh! Tôi tự hỏi, không biết Vua Acha nghĩ gì khi ông nghe câu nói đó? Hãy suy nghĩ xem, tôi tự hỏi không biết Êsai đã nghĩ gì chứ? Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể nghĩ ra một sự kiện như thế mà thôi. Quả thực, Đấng Mêsi sẽ trở thành một thành viên trong dòng giống của con người, song cách nhập thế của Ngài sẽ chỉ ra rằng Ngài không phải là một con người bình thường. Ngài bước vào thế gian một cách siêu nhiên vì Ngài là Đấng do Đức Chúa Cha sai đến. Với sự thực sanh ra bởi nữ đồng trinh, chúng ta có một gợi ý (mặc dù còn hơn thế nữa) về lai lịch thật của Đấng Mêsi — là Đức Chúa Trời trọn vẹn (sanh ra bởi nữ đồng trinh thật là lạ lùng) và là con người trọn vẹn (do một người nữ sanh ra).
9. Ngài sẽ chào đời tại thành Bếtlêhem.
Dòng dõi thu hẹp lại một lần nữa — lần nầy chỉ ra chính xác nơi mà Đấng Mêsi sẽ chào đời. Từ các thành thị và làng mạc của Israel, Ngài sẽ chào đời tại thành Bếtlêhem. “Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta, ngươi ở trong hàng ngàn Giu-đa là nhỏ lắm, song từ nơi ngươi sẽ ra cho ta một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên; gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng” (Michê 5:1). Cụm từ “từ trước vô cùng” sát nghĩa có thể dịch là “từ những ngày của cõi đời đời” (bản Kinh thánh NIV). Điều nầy quay trực diện lại Sáng thế ký 49:10, ở đây nói tới một vì vua xuất thân từ chi phái Giuđa. Ở đây cũng nói thêm một sự kiện cụ thể rằng gốc gác của Đấng Mêsi là từ “những ngày của cõi đời đời”. Điều nầy giúp giải thích cách thức Đấng có thể trị vì trên ngôi của David cho đến đời đời. Một khi nguồn gốc của Ngài là từ cõi đời đời, Ngài sẽ có một sự trị vì cho đến đời đời.
Khi mọi lời tiên tri nầy được ghép lại với nhau, chúng ta có một bức chân dung đáng kinh ngạc về Đấng Mêsi:
1. Ngài sẽ là một người Do thái.
2. Ngài sẽ ra từ chi phái Giuđa.
3. Ngài sẽ là một dòng dõi của David.
4. Ngài sẽ chào đời tại thành Bếtlêhem.
5. Ngài sẽ do một nữ đồng trinh sanh ra.
Ai sẽ thích ứng với mọi tính cách nầy? Có nhiều người thích ứng với câu thứ nhứt, mấy người thích ứng với câu thứ hai, vài người thích ứng với câu thứ ba, rất ít người thích ứng với câu thứ tư, song chỉ có một người trong lịch sử đã từng thỏa mãn với tính cách thứ năm. Tên của Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ.
Giacốp thích ứng với mọi sự nầy ở chỗ nào? Ông thích ứng với bốn điểm quan trọng:
1. Ông là mắc xích thứ năm trong sợi dây xích — con của Ysác, cha của Giuđa.
2. Ông được nhắc tới trong bảng gia phổ của Mathiơ 1 và Luca 3.
3. Ông đã nói trước rằng Đấng Mêsi sẽ ra từ chi phái Giuđa.
4. Ông đã cung ứng tên mình cho dân tộc Israel.
Điểm sau cùng cần một sự khảo sát tỉ mỉ. Giacốp có hai tên — Giacốp (do cha mẹ đặt cho) và Israel (do Đức Chúa Trời đặt cho). Sau khi ông qua đời, dân tộc chắc chắn đã gọi mình là “Israel” để tôn kính ông — xem ông là Tổ Phụ Sáng Lập. Nhưng về sau trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời thường nói tới dân Israel là “nhà Giacốp”.
Khi thiên sứ Gápriên hiện ra cùng Mary để công bố rằng Đức Chúa Trời đã chọn nàng để Đấng Mêsi ra đời, đây là lời lẽ mô tả những gì Ngài (Đấng Mêsi) sẽ hoàn thành: “Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng …” (Luca 1:33).
Chuyện là như vậy đó! Bước sau cùng trong các chuyến hành trình của chúng ta với Giacốp. Giờ đây, chúng ta có thể thêm một chỗ sau cùng trong bảng danh sách của chúng ta:
Từ Bêe Sêba
Đến Bêtên
Đến Charan
Đến Galaát
Đến rạch Giabốc
Đến Sucốt
Đến Sichem
Đến Bêtên một lần nữa
Đến Éphata
Đến Tháp Êđe
Đến Mamrê
Đến Bêe Sêba
Đến Aicập
Đến Hang Đá Mặcbêla
Đến Bếtlêhem!
Giacốp có sống ở thành Bếtlêhem không? Có đấy, ông đã sống ở đó trong thân vị của dòng dõi trực hệ theo phần xác của ông — là Đức Chúa Jêsus Christ. Ông đã sống ở đó khi Chúa Jêsus ra đời là “con trai của Giacốp” để trị vì trên “nhà Giacốp”. Và mặc dù Giacốp và Chúa Jêsus cách nhau những 1.800 năm, Giacốp đã nói tiên tri về sự đến của Ngài và đã được nhắc tới khi Ngài ra đời.
Ở một chỗ khác. Khi Sứ đồ Giăng tìm cách mô tả Đức Chúa Jêsus Christ ở Khải huyền 5:5, ông đã gọi Ngài là “Sư Tử của chi phái Giuđa”. Bức tranh nói tới Đấng Christ chỉ ngược về Sáng thế ký 49:10. Khi Chúa chúng ta đến lần thứ nhứt, Ngài đến như “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29). Khi Ngài tái lâm trên đất, Ngài vẫn đến trong vai trò “Sư Tử của chi phái Giuđa”. Cho nên, câu chuyện nói tới sự cứu chuộc trải dài từ những trang đầu tiên của Kinh thánh cho đến các trang cuối cùng của Kinh thánh. Lịch sử [History] là câu chuyện của Ngài [His Story]!
Khi chúng ta kỷ niệm Lễ Giáng Sinh, chúng ta không chỉ kỷ niệm những gì đã xảy ra tại thành Bếtlêhem. Chúng ta kỷ niệm chương trình của Đức Chúa Trời đã khởi sự trong Vườn Êđen và cứ tiếp tục cho đến phần cuối cùng của lịch sử.
Giacốp và Êsau — Một cái nhìn sau cùng
Câu chuyện của chúng ta chưa hoàn tất đâu. Chúng ta hãy đi ngược lại rồi nhìn vào Giacốp và Êsau lần sau cùng đi. Nếu chúng ta xoay cuộn băng chạy ngược lại ở phần đầu, chúng ta khám phá ra hai cậu thiếu niên nầy khác biệt hoàn toàn ngay từ lúc họ ra đời. Êsau ra trước, còn Giacốp ra sau nắm lấy gót chơn của Êsau. Sự việc nầy đề ra một khuôn mẫu không hề thay đổi trải qua nhiều năm tháng — Êsau là lãnh đạo còn Giacốp là kẻ nắm gót chơn.
Tôi nghĩ hoàn toàn là công bằng khi nói rằng Êsau có nhiều đức tính ở bên ngoài mà chúng ta thường gắn với sự thành công. Về mặt thuộc thể, ông rất mạnh mẽ, lực lưỡng, sống ngoài trời, và thích săn bắn ở ngoài đồng. Ngược lại, Giacốp thì yên lặng, hướng nội, nhút nhát và là một người hay suy nghĩ. Với Êsau, mọi sự đều nằm ở bề mặt — cái gì thấy được đều là thứ mà mình nhận được. Khi nổi giận, bạn biết rồi đó; khi vui vẻ, bạn biết rồi đó. Êsau mau nổi giận, nhưng rồi lại mau tha thứ. Anh ta có khả năng hủy diệt rất lớn — và cũng có khả năng tỏ ra những hành động tha thứ và phục hòa thật rời rộng.
Với Giacốp, thực sự không thể biết rõ được đâu. Chàng ta tinh ranh hơn Êsau, một người lanh lợi hơn, một người biết suy nghĩ sâu sắc, một kẻ hay nằm chiêm bao và là một nhà kế hoạch — luôn luôn tìm cách nắm lấy lợi thế trong sự tranh cạnh. Nếu anh ta nổi giận, bạn không luôn luôn nhận ra điều đó vì Giacốp biết cách điều khiển mọi cảm xúc của mình.
Ai là nhà lãnh đạo giỏi hơn? Êsau.
Ai là nhà suy tưởng giỏi hơn? Giacốp.
Bạn chọn ai lãnh đạo công ty của bạn? Êsau.
Bạn chọn ai kết thúc một vấn đề lớn của mình? Giacốp.
Ai có nhiều khả năng tập họp quần chúng? Êsau.
Ai sẽ lo liệu để cứu một công ty khỏi phá sản? Giacốp.
Hai anh em song sinh — có cùng cha cùng mẹ, thế mà về mặt cơ bản, họ lại là hai con người khác nhau.
Điều gì xảy đến cho Êsau?
Một trong những quan điểm mà chúng ta cho qua trong phần nghiên cứu của chúng ta về đời sống của Giacốp là những gì đã xảy đến cho Êsau. Chúng ta biết rõ ông đã chuyển qua khu vực Núi Sêirơ rồi trở thành nhà sáng lập dân Êđôm. Sáng thế ký 36 ghi rõ phần còn lại của câu chuyện. Ở cái nhìn đầu tiên, đây là bảng gia phổ rất nhàm chán — nhưng còn hơn thế nữa. Câu 1 chép: “Đây là dòng dõi của Ê-sau”. Câu 2 thuật lại về mấy người vợ của ông, câu 10 nói tới các con trai của ông, câu 15 chỉ ra dòng dõi ông, câu 31 nói tới các vị vua về sau của xứ Êđôm. Bảng danh sách còn dài và rất ấn tượng, cho thấy rằng Êsau đã sáng lập ra một vương quốc rộng lớn phát triển rất mạnh trước khi Israel ra khỏi Aicập. Câu sau cùng của Sáng thế ký 36 chép: “Tổ phụ của dân Ê-đôm là Ê-sau”. Đâu là mục đích chứ? Sáng thế ký 36 đang thuật lại cho chúng ta biết về sự thành công vượt bực theo đời nầy của Êsau. Ông không phải là một người thất bại từ quan điểm hoàn thành việc gì đó với cuộc sống của mình. Hàng tá những cái tên trong chương nầy lý giải cho sự cao trọng của ông, cho khả năng của ông khi xây dựng một nước lớn, để tập họp cánh đàn ông cho lý tưởng của ông, để thiết lập một quốc gia kéo dài khoảng 2.000 năm sau khi ông qua đời.
Êsau nhận lấy thế gian, còn Giacốp nhận lấy Đức Giêhôva! Ông là con của Ápraham.
Mặc dù sự thể không rõ ràng lắm trong quyển Kinh thánh Anh ngữ, Sáng thế ký 37:1 là phần chuyển tiếp của Sáng thế ký 36. Nghĩa là, một câu ngắn gọn nghịch lại 43 câu rất chi tiết kia. Sáng thế ký 37:1 chép như sau: “Gia-cốp, tại xứ của cha mình đã kiều ngụ, là xứ Ca-na-an”. Sao chứ? Câu ấy muốn nói lên điều chi vậy? Môise đang đối chiếu sự thành công theo đời nầy của Êsau trong Sáng thế ký 36 với những lần vật vã của Giacốp trong Sáng thế ký 37. Trong phần lớn cuộc đời ông, Giacốp thì lắm vật vã trong khi Êsau dấy lên đến chỗ nổi bật. Tại sao lại như thế chứ? Vì Giacốp đã chọn đồng đi với Đức Chúa Trời và lo tìm kiếm ơn phước của mình, trong khi Êsau (dù có nhiều ưu điểm) đã chọn bất chấp quyền con trưởng và tìm kiếm các ơn phước của đời nầy. Đức Chúa Trời đã ban cho Êsau được thịnh vượng về đời nầy vì đấy là mọi sự mà anh ta sẽ nhận lấy!
Êsau nhận lấy thế gian!
Còn Giacốp nhận lấy Đức Giêhôva!
Alan Ross đặt phần tương phản ấy như sau:
Ngược lại với Êsau đang mở mang, đầy quyền lực, Giacốp đang kiều ngụ trong vùng đất tạm trú của cha mình … Ông chẳng có vua chúa gì hết, chưa phải là một bộ tộc trọn vẹn, chẳng có đất đai để cai quản. Ông cũng còn là một lữ khách. Delitzsch lưu ý một cách thấm thía rằng “nói chung sự cao trọng đời nầy dấy lên nhanh hơn sự cao trọng thuộc linh”. … Ơn phước thuộc linh được hứa cho đòi hỏi sự kiên nhẫn trong đức tin, và nhấn mạnh sự chờ đợi kia trong khi nhiều người khác thịnh vượng là một thử nghiệm về sự trung tín và sự bền đỗ (Creation and Blessing, p. 588).
Từ lúc ban đầu, Êsau được ơn với khả năng sống tốt trong thế gian. Mượn cách nói ngày hôm nay, ông đã nhận được toàn là “thứ tốt đẹp”. Tuy nhiên, Giacốp là người Đức Chúa Trời lựa chọn để đứng trong dòng dõi của lời hứa. Trong cả cuộc đời của ông, Giacốp dường như đứng hàng thứ nhì khi được sánh với người anh cả đầy thành công của mình. Lúc ông qua đời — và trong nhiều thế hệ sau đó — các con trai của Êsau tỏ ra sáng sủa hơn các con trai của Giacốp.
“Ngươi chẳng được qua đâu”
Nhiều thế kỷ trôi qua và các con trai của Giacốp đã trở thành một dân lớn ở Aicập. Cùng thời điểm ấy, các con trai của Êsau thịnh vượng trong xứ Êđôm. Hiển nhiên là Môise dấy lên lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời ra khỏi Aicập rồi trở lại Đất Hứa. Nhưng để đến được đó một cách mau chóng, họ cần phải đi ngang qua xứ Êđôm. Dân số ký 20 ghi lại lúc họ xin phép đi ngang qua — và Êđôm đáp rằng: “Ngươi chớ khá đi ngang ranh ta; bằng cượng, ta sẽ cầm gươm ra đón ngươi” (18). Khi Israel hỏi lần thứ hai, câu đáp vẫn như cũ: “Ngươi chẳng được qua đâu” (20). Khi ấy, Êđôm đi ra nghịch cùng Israel với một đội quân đông đảo và mạnh mẽ, đe dọa chiến tranh nếu dân Israel đi ngang qua xứ của họ. “Ấy vậy, Ê-đôm không cho phép Y-sơ-ra-ên đi ngang bờ cõi mình; Y-sơ-ra-ên trở đi khỏi người” (21).
Tình trạng thù địch nầy — dẫn tới sự cạnh tranh tồn tại giữa Giacốp và Êsau — tiếp tục qua nhiều năm tháng. Khi Israel đã vào trong xứ, Êđôm đã trở thành một trong những cừu thù của Israel. Hai quốc gia đã đánh nhau rất nhiều lần — và khi họ không đánh nhau, họ nhìn nhau với sự nghi ngờ. Có sự xung đột thường xuyên, đổ máu, tranh chiến, ghét bỏ và thù nghịch. Các con trai của Giacốp và các con trai của Êsau không bao giờ đi cạnh nhau, không bao giờ tin cậy nhau, thậm chí còn không ưa thích nhau nữa.
Giờ đây, chúng ta đến với phần cuối của kỷ nguyên Cựu Ước. Êđôm chắc chắn đã bị chinh phục và quân Lamã đã thêm một vùng lãnh thổ cho mình rồi đặt tên cho toàn bộ khu vực là Yđumê. Khi ấy họ chỉ định một nhân vật lên làm vua xứ Yđumê. Dòng dõi của ông ta lên ngôi tự xem mình là người Do thái, nhưng người Do thái không bao giờ chấp nhận họ — một phần vì sự gắn bó của họ với Rome, nhưng phần lớn là vì sự gắn bó của họ với Êđôm. Đối với người Do thái, các vua người Yđumê nầy là những kẻ mạo danh nửa vời.
Câu chuyện kể lại về hai vị vua
Thế rồi một buổi tối trời kia, tại thành Jerusalem, hai vị vua gặp nhau mặt đối mặt. Một người ngồi trên ngai vàng, kế thừa một di sản to lớn, trị vì xứ, có nhiều tay sai bao quanh, các triều thần, những tên hầu cận, và binh lính của ông ta. Còn vì vua kia đứng trước mặt ông ta, mình khoác lấy áo choàng đơn sơ của một người đến từ xứ Galilê. Nhà vua ngồi trên ngai vàng đang trị vì cả đế quốc của đời nầy. Vị vua kia xưng mình trị vì trên tấm lòng của nhân loại. Vị vua nầy có thể búng tay rồi gọi cả đạo binh đến. Vị vua kia chẳng có quân lính nào hết, trừ ra một tốp người Galilê thất học — hầu hết là ngư phủ và nông dân. Ông chỉ là vua trên danh nghĩa mà thôi.
Ông chẳng có mão triều thiên, nhưng chẳng bao lâu nữa ông sẽ được cấp cho mão triều thiên.
Ông chẳng có ngai vàng, trừ ra những tiếng ngợi khen của dân sự mình.
Ông chẳng có cây phủ việt, trừ ra cây phủ việt của sự công bình mình.
Ông chẳng có áo choàng, trừ ra những tên lính luôn nhiếc móc chẳng mấy chốc sẽ nhìn thấy cái áo choàng đó.
Một người là Vua của dân Yđumê.
Còn người kia xưng mình là Vua của dân Giuđa.
Nhiều câu hỏi lắm, song chẳng có câu trả lời
Một đêm dài cuối cùng Chúa Jêsus, con trai của Giacốp đã đứng trước mặt Hêrốt, con trai của Êsau. Thời điểm duy nhứt họ gặp gỡ là buổi tối trước khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên cây thập tự. Rất nhiều lần trong quá khứ, con trai của Êsau dường có tay trên trong khi con trai của Giacốp dường như chẳng có chút lợi thế nào cả. Người ngồi trên ngai vàng đã mĩm cười vì ông ta đã nghe đồn về vị rabi lưu động nầy xuất thân từ thành Nazarét. Giờ đây, chính ông ta sẽ nghe vị rabi nầy nói. Ông ta hy vọng nhìn thấy người nầy làm ra một vài phép lạ.
Nhưng Chúa Jêsus chẳng làm một phép lạ nào cho Hêrốt xem. Ngài biết rõ, con trai của Êsau sẽ thấy ấn tượng bởi sự tỏ ra rực rỡ của quyền phép; Ngài cũng biết rõ tấm lòng của ông ta — giống như tấm lòng của Êsau — vốn trống không. Khi Hêrốt đưa ra nhiều thắc mắc, Chúa Jêsus chẳng đáp một lời vì Ngài biết rõ rằng Hêrốt — giống như Êsau — chẳng có ý thức gì về mọi giá trị sự sống. Ông ta tò mò lắm, song ông ta chẳng khao khát gì về lẽ thật. Giống như Êsau, Hêrốt chỉ biết khát khao về những thứ thuộc về đời nầy mà thôi.
Sau một vài phút đồng hồ, Hêrốt chịu thua rồi hiệp với binh lính mình chế giễu Chúa Jêsus. khoác lấy cho Ngài một chiếc áo choàng sang trọng, họ đưa Ngài trở lại với Philát … và Philát đưa Ngài đến chỗ phải chịu chết. Ngày ấy Hêrốt và Philát đã trở thành bạn bè — trước buổi tối nầy họ là kẻ thù của nhau. Mỉa mai làm sao. Con trai của Êsau hiệp lực với người đến từ Rome để kết án tử hình con trai nầy của Giacốp.
Qua ngày sau, Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá, và sự thể cho thấy Hêrốt đã đúng về Chúa Jêsus. Có lẽ các con trai của Êsau sau cùng đã đánh bại các con trai của Giacốp. Đấy là ngày thứ Sáu. Ngày Chúa nhật đến, và thế gian bị úp đổ xuống. Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết rồi thăng thiên về trời. Nhóm môn đồ khố rách áo ôm kia đã lãnh lấy sứ điệp của Ngài rồi lan truyền nó đi cho đến các đầu cùng đất.
Còn Hêrốt thì sao? Ông ta kết thúc giống như một ghi chú trong phần lịch sử, một người bị bỏ quên với tiếng tăm đáng xưng hô duy nhứt, ấy là ông ta đã dự vào phiên xử án Đức Chúa Jêsus Christ. Sau 2.000 năm, chúng ta không bao giờ nói tới Hêrốt trừ phi nhắc tới buổi tối định mệnh kia tại thành Jerusalem. Và Chúa Jêsus đã trở thành trọng tâm của lịch sử — quan trọng đến nỗi chúng ta đánh dấu những năm tháng trôi qua bằng thời điểm Ngài đến trên đất — T.C. hay S.C.
Bốn năm sau buổi tối đó, Hêrốt bị truất phế, bị hất ra khỏi ngai vàng rồi bị lưu đày. Ông ta ngã chết như một người bị quên lãng. Cho tới hôm nay, Chúa Jêsus đang trị vì trong vai trò Vua các vua và Chúa các chúa. Ngài đang chờ đợi trên thiên đàng về sự tái lâm của Ngài trên đất trong vai trò Sư Tử của Chi Phái Giuđa.
Có phải bạn là con cái của Giacốp không?
Trải suốt lịch sử, dòng giống con người bị chia ra làm hai phạm trù — con cái của Êsau và con cái của Giacốp. Con cái của Êsau là hạng người thành công của đời nầy, họ có mọi sự ở bên họ, song lại trống vắng ở bên trong. Con cái của Giacốp là những người không giàu có về đời nầy, nhưng họ đã quì gối xuống trước mặt Vua Jêsus và đã tôn Ngài làm Chúa Tể muôn vật.
Bạn đang ở trong dòng dõi nào vậy? Có phải bạn ở trong dòng của Êsau hay dòng của Giacốp?
Có thể bạn thành công lắm — song bấy nhiều chưa đủ đâu.
Có thể bạn có nhận thức về mặt thuộc linh — song bấy nhiều chưa đủ đâu.
Có thể bạn tò mò về Đức Chúa Trời — song bấy nhiều chưa đủ đâu.
Bạn hiện vẫn còn ở trong dòng dõi của Êsau cho tới chừng nào bạn sấp mình xuống trước mặt Chúa Jêsus và tôn Ngài làm Chúa của đời sống bạn. Đây là sự kỳ diệu của ơn cứu rỗi: mặc dù có thể bạn là con cái của Êsau trong giây phút nầy, bạn có thể trở thành con cái của Giacốp ngay giờ nầy đây. Mọi sự có cần, ấy là bạn hãy mở lòng ra với Đức Chúa Jêsus Christ. Hãy nói “vâng” với Chúa Jêsus. Hãy tôn Ngài làm Vua của đời sống bạn.
Lạy Cha ở trên trời, chúng con cảm tạ Ngài vì chương trình của Ngài trải ra bao thế kỷ rồi. Chúng con cảm tạ Ngài vì lịch sử [history] quả thực là Câu Chuyện Của Ngài [His Story]. Xin ban cho chúng con đức tin để tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã làm đủ rồi — và mọi sự khác được chừa lại cho chúng con là chỉ tin mà thôi. Nguyện các con cái của Êsau trở thành con cái Giacốp nhơn đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Amen.

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

Sáng thế ký 48-50: "Cách Một Người Nhơn Đức Qua Đời"


Cách Một Người Nhơn Đức Qua Đời
– Sáng thế ký 48-50
“Đừng sợ sự sống của bạn sẽ đi đến chỗ kết thúc, mà hãy sợ nó sẽ không có một khởi đầu kìa”. John Henry Newman.
Giả sử bạn có ba phút để sống và những người thân của bạn nhóm lại chung quanh bạn chờ đợi để nghe mọi lời nói sau cùng của bạn. Bạn sẽ nói gì đây?
Có lẽ bạn đang ở trong bịnh viện hấp hối vì một căn bịnh đáng sợ nào đó. Bạn biết rõ sự cuối cùng đã gần kề rồi. Khi bạn dò xét trong trí để tìm cho ra những điều phải nói, cả ngàn tư tưởng tràn ngập trong lý trí của bạn. Bạn sẽ nói gì trong khoảnh khắc hấp hối, những điều ấy sẽ tóm tắt cả cuộc đời của bạn? Làm thế nào bạn nén 60 hay 70 hoặc 80 năm sống thành một vài câu ngắn ngủi đây?
Nhưng sẽ ra sao nếu bạn không có đến ba phút đồng hồ? Sẽ ra sao nếu bạn dính dáng đến một tai nạn ghê khiếp trong khi du lịch trên các tiểu bang? Sẽ ra sao nếu bạn chỉ có 30 giây thôi? Bạn sẽ nói gì với mọi người thân của mình?
Đây là một trong những câu hỏi luôn luôn có tính cách lý thuyết … cho tới khi khoảnh khắc đến và bạn thực sự chỉ có 30 giây để sống. Trước đó, đây là một câu hỏi mà bạn xoay vòng vòng với mấy người bạn bên tách cà phê khuya.
Nếu bạn có 30 giây để sống, bạn sẽ tóm tắt mọi sự gì là quan trọng nhất đối với bạn như thế nào?
Không có nhiều bối cảnh hấp hối đâu
Một khi Kinh thánh là quyển sách nói tới sự sống, nó không làm cho chúng ta phải ngạc nhiên vì chỉ có một vài bối cảnh hấp hối đã được ghi lại. Thường thì hầu hết chúng ta được thuật cho biết rằng ông ấy đã sống như thế đó nhiều năm trời và rồi ông ấy qua đời. Nói chung, chúng ta không biết khi nào hay ở đâu hoặc làm thể nào sự chết diễn ra, vì vậy trong hầu hết các trường hợp chúng ta không biết rõ về lời lẽ sau cùng nào đã được thốt ra. Chúng ta không biết là họ có được 30 giây (hay 3 phút) tóm tắt trước cái chết của họ không nữa.
Trong Tân Ước, chúng ta thậm chí có rất ít thông tin. Kinh thánh không thuật cho chúng ta biết hầu hết các nhân vật chủ chốt — kể cả sứ đồ vĩ đại Phaolô — đã qua đời như thế nào!?! Đấy là điều dễ hiểu một khi Tin Lành là sứ điệp nói tới sự sống. Các trước giả đều không lấy làm ưa thích gì trong việc thuật lại người ta chết như thế nào!?! Chúng ta biết rõ cách Chúa Jêsus gục chết, và Giuđa, rồi Êtiên, cùng một hay hai người khác nữa, nhưng chỉ bấy nhiêu đó thôi. Tân Ước nói rất ít về sự chết và chuyên xử lý về sự sống.
Trong ánh sáng của mọi sự đó, thật là lý thú khi lưu ý có nhiều chỗ được cung ứng cho trong sách Sáng thế ký nói tới cái chết của Giacốp. Cái chết của Ápraham được mô tả trong 7 câu (25:5-11), cái chết của Ysác trong ba câu (35:27-29) và cái chết của Giôsép trong 5 câu (50:22-26). Bằng cách đối chiếu, cái chết của Giacốp bao phủ khoảng 73 câu. Câu chuyện bắt đầu ở phần cuối của chương 47, bao phủ tất cả các chương 48 và 49 và phân nửa đầu của chương 50.
Cái chết của Giacốp được ghi lại trong bốn bối cảnh: thứ nhứt, ông gặp gỡ Giôsép rồi khiến Giôsép phải hứa chôn ông trong Đất Hứa (47:28-31). Thứ nhì, Giacốp chúc phước cho hai con trai của Giôsép — Épraim và Manase (48). Thứ ba, ông chúc phước cho con cái của ông (49:1-28). Thứ tư, một lần nửa ông xin được chôn tại Đất Hứa và rồi ông qua đời (49:29-33).
Đây là một câu chuyện thật tuyệt vời, cảm động và ai đó chẳng làm sao khác hơn là suy nghĩ: “Đấy là cách thức tôi muốn chết một ngày kia — sau khi đã sống nhiều năm, vẫn còn trong lý trí tôi, đầy dẫy đức tin nơi Đức Chúa Trời, với gia đình tôi nhóm lại ở chung quanh tôi”. Mặc dù mọi hoàn cảnh có thể chỉ ra sự việc là bất khả, đây là cách thức mà tôi mong muốn khi qua đời. Nhưng chúng ta có thể có cùng đức tin khi chúng ta qua đời như Giacốp đã có.
Đức tin chết
Có một việc, ấy là đức tin chết. Tôi giả sử hết thảy chúng ta đều đang hoạch định để sống một thời gian dài, nhưng ở Chicago những ngày nầy bạn không thể dám chắc được. Đạn lạc, tài xế mất khả năng điều khiển, thành viên băng đảng phản bội, ai biết được? Bất kỳ ai trong chúng ta đều có thể bị đánh hạ bất kỳ giờ phút nào.
Giả sử bạn biết mình sẽ qua đời trong 24 giờ tới? Bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ đi đâu? Và bạn sẽ nói gì với những người mà bạn yêu dấu?
Cách đây mấy tháng tôi đã suy nghĩ về vấn đề nầy, và tôi quyết định rằng nếu tôi chỉ còn có 30 giây để sống, tôi sẽ nhóm mấy đứa con trai tôi lại quanh tôi và nói với chúng bốn việc:
1. Hãy chăm sóc mẹ các con
2. Hãy yêu thương nhau
3. Hãy cưới một thiếu nữ Cơ đốc làm vợ
4. Hãy hầu việc Đức Chúa Jêsus Christ cho đến đời đời
Chỉ bấy nhiêu thôi. Ba mươi giây đồng hồ và tôi ra đi ngay. Bốn việc ấy tóm tắt mọi sự mà tôi rất mong muốn mấy đứa con trai tôi phải biết. Sau đó, tôi sẵn sàng ra đi.
Cảnh #1: Giacốp và Giôsép (47:28-31)
Giacốp giờ đây là một cụ già, 147 tuổi, và những năm tháng dài đã rung lên tiếng chuông báo tử của chúng trên thân thể ông. Ông đi đứng rất khó, người run rẩy luôn, chỉ nương mình vào đầu cây gậy. Ông biết rõ lắm rằng mình đang có cuộc hẹn với cái chết. Kinh thánh chép: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hêbơrơ 9:27).
Chết là điều không thể tránh được. Đây là cuộc hẹn mà bạn phải giữ lấy. George Lawson đã viết ra mấy lời nầy:
Ngày nay chúng ta có 24 giờ gần với kỳ cuối cùng của mình hơn ngày hôm qua, và 365 ngày gần với kỳ ấy hơn chúng ta có cách đây một năm. Có nhiều lần chúng ta không thể dung thứ cho những ai được cảnh báo bởi sự suy giảm sức lực cho thấy sự chết đang đến gần, nếu họ trục xuất điều đó ra khỏi tư tưởng của họ, khi họ phải mau mau lo liệu mọi sự chuẩn bị để gặp gỡ nó với sự chắc chắn (Lectures on the History of Joseph, cited in Boice, Genesis, III, p. 242).
Giacốp vốn không sợ chết. Ông đã nhìn thấy giờ phút hầu đến và đã lo liệu mọi sự chuẩn bị cho sự chôn cất chính bản thân mình. Ông chỉ có một yêu cầu cần phải xử lý với Giôsép, là con trai của ông — "Xin đừng chôn cha ở đất Êdíptô, hãy chôn cha cùng với các tổ phụ của cha”. Nói như thế thì có ý nghĩa gì chứ? Có phải đây là một lời yêu cầu về mặt tình cảm xin được chôn cất cùng với cha và ông nội mình không?
“Cha ơi, cha muốn được chôn ở đâu?”
Tôi có thể hiểu được điều đó. Mặc dù tôi chỉ mới 40 tuổi, tôi thấy mình đang guy gẫm về cái chết của chính mình từng hồi từng lúc. Thật là tự nhiên khi bạn lớn tuổi thêm phải suy nghĩ về chỗ mà mình sẽ được chôn cất. Hầu hết chúng ta đều muốn được chôn cất gần những người thân của mình, nếu có thể được. Mùa hè vừa qua, vào ngày đầu tiên trong kỳ nghỉ của chúng tôi, chúng tôi lên đường về phía Nam đi từ Chicago, hướng đến Mississippi và rồi đến tại Florida. Ngày thứ nhứt trên đường đi, chúng tôi có thời gian rỗi rãnh, ca hát, cười đùa, kể chuyện tếu, chúng tôi dừng xe lại để ăn trưa ở phía Nam Illinois, trở lại trong xe, thêm nhiều chuyện vui, cười đùa thêm nữa, thế rồi Mark (mới có 10 tuổi), đột nhiên con tôi hỏi: “Cha ơi, khi cha qua đời, cha muốn được chôn ở đâu?”
Hãy nói về việc ngắt quãng một chút. Bạn trả lời một câu hỏi giống như thế bằng cách nào? Sau khi suy nghĩ vài phút đồng hồ, tôi đáp: “Dưới đất”. Nhưng Mark muốn nghiêm trọng hơn, vì vậy chúng tôi đã bàn bạc về câu hỏi trong một vài phút nữa. Biết rõ câu trả lời là điều quan trọng đối với nó.
Giacốp nói: “Đừng chôn cha trong xứ Êdíptô. Hãy chôn cha trong Đất Hứa với cha và ông nội của cha”. Đây là một câu nói rất tuyệt vời của đức tin mà Giacốp có nơi Đức Chúa Trời. Hai thế hệ trước, Đức Chúa Trời đã hứa ban xứ Canaan cho Ápraham và các dòng dõi của ông. Trong đức tin, Ápraham đã tin theo Đức Chúa Trời và đã đến định cư ở đó. Trong đức tin, Ysác đã tin theo Đức Chúa Trời và đến sống ở đó. Giờ đây, Giacốp đang hấp hối trong một xứ ngoại bang. Song ông tin rằng không lâu đâu, một ngày kia — dù ông sẽ không sống để nhìn thấy việc ấy — dân tộc ông, gia đình ông, các dòng dõi của ông sẽ trở về chiếm lấy Đất Hứa. Hêbơrơ 11:9 đưa ra luận điểm cho thấy rằng Ápraham, Ysác và Giacốp hết thảy đều sống trong lều trại ở Canaan, “như trên đất ngoại quốc”. Nghĩa là, Đức Chúa Trời đã hứa với họ đất đai, nhưng họ chưa hề chiếm lấy làm của riêng cho mình bao giờ. Sự việc sẽ không xảy đến trong hằng mấy trăm năm cho tới khi Giôsuê dẫn dân Israel vào trong một chiến dịch chinh phục thật đắc thắng.
Mọi lời hứa của Đức Chúa Trời cứ sống mãi
Giacốp đã sống và đã chết mà không nghe nói về Môise và Giôsuê. Ông chẳng biết gì về mọi việc làm đầy năng quyền của họ. Song trong lúc tuổi già của ông, Đức Chúa Trời đã ban cho ông đức tin để tin rằng mặc dù ông sắp qua đời trong xứ Aicập, tương lai của ông thuộc về Đất Hứa. James Montgomery Boice giải thích vấn đề theo cách nầy:
Khi Giacốp yêu cầu Giôsép lo chôn cất thi thể ông trong Đất Hứa, thì giống như ông đang nói rằng ông tiếp tục đứng trên mọi lời hứa của Đức Chúa Trời. Ông muốn thi thể của ông phải nằm trong vùng đất mà Đức Chúa Trời, một lần nữa, một ngày kia sẽ đem dân Do thái về và ở đó chắc chắn Đấng Mêsi sẽ chào đời và hoàn thành công tác cứu chuộc (Genesis, III, p. 242).
Giacốp đang nói: “Ta sắp qua đời, nhưng ta tin rằng một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ giữ mọi lời hứa của Ngài. Ta muốn được chôn ở đó khi lời hứa ứng nghiệm, vì vậy đừng chôn ta trong xứ Aicập. Hãy chôn ta trong Đất Hứa”. Đây là cách nói: “Nơi chôn cất ta sẽ là một chứng cớ cho thấy rằng mọi lời hứa của Đức Chúa Trời vẫn là chơn thật”.
Đấy là một tư tưởng quan trọng, có phải không? Có người đã nói: “Không có điều gì thuộc về Đức Chúa Trời gục chết khi một người của Đức Chúa Trời qua đời”. Chúng ta chết, nhưng mọi lời hứa của Đức Chúa Trời cứ sống mãi. Họ chôn cất chúng ta, song họ không chôn cất mọi lời hứa của Đức Chúa Trời cùng với chúng ta. Sự chết của bạn không thể gây vô hiệu cho sự thành tín của Đức Chúa Trời.
Cảnh #2: Giacốp và con cháu của ông (48)
Giờ phút qua đời của ông giờ đây đã đến trên ông. Lấy hết sức lực, ông ngồi dậy trên giường bệnh của mình. Ở đó ông gặp gỡ Giôsép cùng hai con trai của Giôsép — Manase và Épraim. Mọi sự nối theo sau là bối cảnh rất cảm động khi Giacốp nói với Giôsép: “Trước cha tưởng chẳng còn thấy được mặt con, nhưng bây giờ Đức Chúa Trời lại làm cho cha thấy được đến dòng dõi con nữa”.
Tôi không thể đọc phân đoạn nầy mà không suy nghĩ câu nói ấy có nghĩa gì theo cách riêng. Tôi chỉ có vài kỷ niệm đối với ông bà của tôi. Những ký ức mơ hồ đầy dẫy lý trí tôi khi gặp gỡ bố của cha tôi — Papa Pritchard — trên nông trại của ông ở Mississippi. Tôi nhớ rõ ông ấy nhai thuốc lá, có mái tóc rối và mặc quần áo lao động. Thế rồi, tôi nhớ có gặp ông khi tôi còn trẻ tại bịnh viện ở Memphis. Khi ấy, ông qua đời. Bố của mẹ tôi — Ông ngoại Poduska — đã sống đến ngoài 80. Hai lần chúng tôi đi từ Alabama đến Marshalltown, Iowa, để gặp ông và bà ngoại Poduska. Ông thì thấp người và những hình ảnh gia đình xưa kia có những tấm ảnh chúng tôi đang ngồi trên hông của ông, đang cười, chơi đùa và đang xỏ chân vào chiếc giày ống của ông.
Đến năm 1974, cha tôi qua đời chỉ một vài tuần lễ sau khi chúng tôi thành hôn. Giây phút khó chịu nhất đối với tôi đã đến khi chúng tôi lái xe ngược từ Birmingham đến Dallas. Khi chúng tôi băng qua lằn ranh bang Alabama, tôi đã khởi sự khóc và chẳng thể dừng lại được. Trong nhiều năm trời, tôi đã cưu mang một nổi sâu sắc kín đáo ở trong lòng — nổi sâu sắc mà tôi không bao giờ chia sẻ với bất cứ ai. Mơ ước của tôi là một ngày kia tôi có con trai và đặt tên nó theo tên của bố tôi, tên của ông là Tyrus Raymond Pritchard. Hai hàng nước mắt lăn dài trên gương mặt khi tôi nhận ra bố tôi không bao giờ nhìn thấy cháu nội của mình. Năm năm sau, đứa con đầu tiên của chúng tôi ra đời. Chúng tôi đặt tên cho nó là Joshua Tyrus Pritchard theo tên ông nội mà nó chưa hề biết. Cho tới ngày hôm nay, có một nổi đau sâu sắc trong lòng tôi vì cha tôi không bao giờ biết cháu nội của mình và các con trai tôi không bao giờ biết ông nội của chúng.
Đứa nhỏ hơn đứa lớn — một lần nữa!
Vì vậy, tôi hiểu được những điều Giacốp nói: “Trước cha tưởng chẳng còn thấy được mặt con, nhưng bây giờ Đức Chúa Trời lại làm cho cha thấy được đến dòng dõi con nữa”. Nhưng có nhiều việc hơn là chỉ thấy mặt cháu nội. Bây giờ Giacốp đang chúc phước cho hai đứa trẻ. Theo thói tục của thời đại, sự chúc phước chủ yếu là nhắm vào đứa con lớn kìa — là Manase. Nhưng đấy chẳng phải là cách thức đã xảy ra. Khi Giôsép đẩy hai đứa trẻ ra phía trước, ông đẩy Manase đến trước tay hữu của Giacốp và Épraim đến phía trước tay tả của ông. Nhưng Giacốp đã bắt chéo tay mình, đặt hay hữu mình trên Épraim còn tay tả ông trên Manase. Thế là đứa nhỏ tiếp lấy phước hạnh chính và đứa lớn nhận lãnh phước hạnh phụ.
Ở một cấp độ, đây là sự tể trị của Đức Chúa Trời đang hành động. Ngài đã chọn Épraim hơn Manase và mặc dù Giôsép có phản kháng, Giôsép không thể làm thay đổi chương trình của Đức Chúa Trời được. Ở cấp độ khác, Giacốp đứa nhỏ hơn đang noi theo cung cách đời sống của ông. Ông, đứa nhỏ đã được chọn hơn hẳn Êsau là đứa lớn. Về sau, ông ưa thích cô em Rachên hơn cô chị Lêa. Bây giờ, ông chúc phước cho đứa nhỏ phải hơn đứa lớn.
Một số người trong chúng ta, ai là con trai, con gái nhỏ hơn có thể rút tỉa được sự khích lệ lớn từ câu chuyện nầy. Có nhiều lần những người con trưởng được ưu ái và con cái đến sau đó sẽ được chiếu cố. Nhưng Kinh thánh có đầy hy vọng cho những người con nhỏ hơn. Ysác là người con nhỏ hơn. Giacốp cũng vậy. Giôsép cũng thế. Môise cũng vậy. Ghiđêôn cũng thế. David cũng vậy.
Trong việc chúc phước cho đứa nhỏ hơn đứa lớn, Giacốp dạy chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời chẳng có thiên vị ai hết. Ngài tôn cao người nào biết tôn vinh Ngài bất chấp lai lịch sanh trước hay sau của họ. Thường thì qua hạng người “chẳng ai chú ý tới” trong thế gian, Đức Chúa Trời đang thi hành công việc lớn lao của Ngài.
Cảnh #3: Giacốp và con cháu của ông (49:1-28)
Tiếp đến Giacốp yêu cầu các con trai mình nhóm lại quanh ông để chào tạm biệt lúc sau cùng. Bắt đầu với Rubên người con trưởng, ông tuyên bố một phước hạnh hay một lời tiên tri giáng trên từng người theo cách riêng. Lời lẽ rất quyết định vì chúng mô tả không những mọi điều sẽ xảy ra cho từng người con mà còn cho các chi phái chắc chắn sẽ ra từ mỗi người con nữa. Câu 28 giải thích điều đó theo cách nầy: “Các người đó là đầu trưởng của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên; và đó là lời của cha họ nói đang khi chúc phước cho, chúc một lời phước riêng cho mỗi người vậy”. Cụm từ sau cùng đó bắt lấy sự chú ý của chúng ta. Sau ngần ấy tháng năm, Giacốp biết rõ các con trai mình cả trong lẫn ngoài, biết rõ tình trạng yếu đuối của họ, thói tật của họ, xu hướng của họ, và mọi tham vọng của họ nữa. Với mọi sự ấy trong trí, và nói ra dưới sự cảm thúc của Đức Thánh Linh, ông công bố ơn phước trên từng người con. Một số ơn phước nổi bật:
Rubên là người đã phạm tội sẽ mất địa vị lãnh đạo của mình.
Simêôn và Lêvi sẽ bị tan rải khắp xứ Israel
Từ Giuđa sẽ ra Đấng Mêsi.
Sêbulôn sẽ kiều ngụ cạnh bờ biển
Ase sẽ sản xuất mùa màng cho các vì vua.
Và còn nhiều nữa, mỗi người con nhận lãnh một phước hạnh hay lời tiên tri thích ứng trọn vẹn cho mình. Hằng trăm năm sau các chi phái sẽ nổi bật lên, vẫn mang lấy những dấu vít riêng tư của người sáng lập ra họ.
Phước hạnh
Ở cái nhìn đầu tiên, Sáng thế ký 49 dường như xa vời với tình huống của chúng ta ngày nay. Rốt lại, nó chẳng chứa điều gì khác hơn những phước hạnh mà Giacốp đã ban cho các con trai mình lúc trên giường hấp hối. Chúng ta có thể nghĩ mọi sự ấy chẳng có ích gì cho chúng ta, trừ phi đấy là một sự tò mò về mặt lịch sử hay một trường hợp nói tới thói tục xa xưa. Nhưng tuần lễ nầy tôi có đọc một quyển sách rất hay có đề tựa là “The Blessing” (Phước hạnh) do Gary Smalley và John Trent viết. Đề tài của quyển sách, ấy là bậc cha mẹ có một nghĩa vụ thánh phải chuyển giao một ơn phước cho con cái họ. Họ chỉ ra rằng con cái nào không nhận lãnh một ơn phước từ cha mẹ, chúng nếm trải cuộc sống đang ra sức tìm kiếm sự tán thưởng và giá trị của mình từ những chỗ khác. Một số người quay sang rượu chè và ma túy, nhiều người khác quay sang cung cách tham công tiếc việc, còn nhiều người khác nữa thì đang nếm trải một loạt quan hệ thất bại, nhưng họ luôn luôn tìm kiếm sự khẳng định mà họ không bao giờ nhận được ở tại gia đình.
Nếu bạn là người làm cha hay làm mẹ, học biết về ơn phước gia đình có thể giúp bạn cung ứng cho đứa con hay bầy con một thứ công cụ có tính cách bảo hộ. Cách biện minh tốt nhứt chống lại ao ước của đứa con về sự chấp nhận có tính cách tưởng tượng là cung ứng cho nó sự tán thưởng chơn thành. Bằng cách cung ứng cho đứa con với sự tán thưởng chân thành và khẳng định tại gia đình, bạn có thể làm giảm thiểu khả năng đứa con ấy (trai hay gái) sẽ tìm kiếm sự tán thưởng trong vòng tay của một kẻ thờ lạy hình tượng hay với ai đó trong mối quan hệ phi luân. Tán thưởng chân thành chiếu ra từ ý tưởng phước hạnh (The Blessing, p. 18).
Tự quyển sách rất dễ đọc và tôi rất vui khi giới thiệu quyển sách ấy cho bạn. Bạn nghĩ họ tiếp lấy cơ sở theo Kinh thánh về phước hạnh gia đình ở chỗ nào? Họ tiếp thu cơ sở đó từ đời sống của Giacốp — từ ơn phước mà ông nhận lãnh từ Ysác và các phước hạnh mà ông đã ban cho các con trai mình.
Theo Smalley và Trent, chúc phước cho người khác bao gồm năm yếu tố chính:
— Cái chạm có ý nghĩa
— Một sứ điệp được thốt ra
— Kèm theo “giá trị cao” cho người được chúc phước
— Phác họa ra một tương lai đặc biệt cho người người chúc phước
— Một sự cam kết năng động làm phu phỉ ơn phước
Khi bạn nghiên cứu Sáng thế ký 48-49, rõ ràng là Giacốp đang thực hiện mọi sự nầy cho các con cháu của mình. Ông đang làm tròn trách nhiệm tối hậu của mình — ông đang nhơn danh Chúa chúc phước cho gia đình mình. Giacốp đúng là một tấm gương tích cực cho hết thảy chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta hãy đi và làm theo như thế cho những người thân của mình.
Cảnh #4: Cái chết của Giacốp (49:29-50:14)
Giờ đây câu chuyện nhanh chóng đi đến phần kết cuộc. Khi ông đã chúc phước xong cho các con trai mình, một lần nữa ông yêu cầu được chôn cất trong Đất Hứa. Rõ ràng, đây chẳng phải là vấn đề nhỏ đối với ông. Theo một ý nghĩa, chôn ông ở đâu thì chẳng nhằm nhò gì vì Giacốp thuộc về Đức Chúa Trời bất chấp thi thể ông được đặt ngơi nghỉ ở chỗ nào. Nhưng đối với ông vấn đề thì to tát hơn thế nhiều. Ông muốn nơi chôn cất ông phải là một bằng chứng cho sự thực là ông không hề thôi không tin tưởng nơi Đức Chúa Trời.
Đây là lần thứ hai Giacốp đã yêu cầu được chôn trong Đất Hứa. Khi Giôsép đã thề làm theo như thế, Sáng thế ký 47:31 thêm vào mệnh đề nầy: “Đoạn, Y-sơ-ra-ên quì lạy nơi đầu giường mình”. Nghĩa là, Giacốp đã ngợi khen Đức Chúa Trời khi ông sắp chết. Thú vị thay, đấy là những gì khiến Giacốp được khen ngợi trong sách Hêbơrơ. Khi trước giả xem xét mọi việc làm của Giacốp trải qua dòng đời dài lâu của ông, ông bật ra sự kiện nầy và nói về Giacốp như sau: “Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần chết, chúc phước cho hai con của Giô-sép, và nương trên gậy mình mà lạy” (Hêbơrơ 11:21).
Ngợi khen Đức Chúa Trời luôn luôn là một việc tốt lành, nhưng đặc biệt sự khen ngợi ấy có ý nghĩa khi đứng ở cuối cuộc đời lâu dài rồi nói: “Đức Chúa Trời đã nhơn lành đối với tôi”. Đấy là một bằng chứng rất quan trọng. Đây là một trong những lợi ích chủ yếu trong lúc tuổi già.
Fred Stettler
Tuần lễ nầy chúng tôi nhận được bức thư cầu nguyện về truyền giáo của Fred Stettler. Phần nhiều người trong các bạn đều biết rõ là Hội thánh nầy đã sai phái ông đi ra trong vai trò giáo sĩ vào năm 1926. Trong 66 năm, ông đã hầu việc Chúa ở châu Âu và Hội thánh Calvary đã yễm trợ cho ông suốt thời gian đó. Mới đây, ông đã qua ngày sinh nhật thứ 90 của mình, nhưng ông vẫn còn đang phục vụ Chúa.
Fred biết sự cuối cùng đang đến gần. Hãy lắng nghe lời lẽ của ông. Hãy xem đi, bức thư nầy nghe chẳng giống với cụ Giacốp sao:
Giờ đây, đã 90 năm và 5 tháng tuổi, sức khỏe tôi không còn sung mãn nữa. Lý trí tôi không còn minh mẫn nữa. Sự yếu ớt theo phần xác khiến tôi phải hủy bỏ nhiều lời mời và Chúa nhật tới sẽ là một trong những buổi thờ phượng sau cùng mà tôi sẽ tổ chức. Nhưng trong suốt 60-70 năm, tôi đã được phước bởi sự vùa giúp của Ngài. Nhơn đó tôi có nhiều điều để ngợi khen Chúa. Giờ đây, tôi có một nghĩa vụ cao cả phải hiến nhiều thì giờ cho sự cầu nguyện và cảm tạ Chúa vì mọi năm tháng được ơn của Ngài.
Khi tôi đọc những dòng chữ ấy, tôi nhũ thầm: “Fred Stettler là một con người đáng nể, và ông đang hầu việc một Đức Chúa Trời cao cả”.
Phần còn lại của câu chuyện hoàn toàn đơn sơ. Giacốp qua đời với các con trai mình nhóm lại ở quanh ông. Kinh thánh chép ông “gọi các con trai mình lại”, một tham khảo không phải chỉ để chết, mà còn hội hiệp những người thân của mình trong cuộc sống sau khi chết. Với sự cho phép của Pharaôn, Giôsép cùng các anh em mình đã dẫn dầu một đám rước tang thật lớn từ Aicập đến xứ Canaan, ở đó họ đã chôn cất Giacốp trong hang đá Mặcbêla bên cạnh Ysác cha ông và Ápraham, ông nội của ông. Thế là câu chuyện nói tới Giacốp đi đến chỗ kết cuộc.
I. Đời sống của Giacốp trong viễn cảnh
Cho phép tôi tóm tắt lại — không có một lời bình lý giải nào hết — một số quan sát chính yếu từ đời sống dài lâu của Giacốp:
A. Đời sống của ông là một câu chuyện nói tới phấn đấu và khó nhọc.
B. Hai cái tên của ông phản ảnh sự phấn đấu bên trong tấm lòng ông:
Giacốp — kẻ dối gạt
Israel — người từng đấu vật với Đức Chúa Trời
C. Giacốp ra từ một gia đình rất khác thường, tạo ra đủ thứ điều.
D. Nhưng Giacốp là một con người có đức tin, ông có một lòng khao khát không thể dập tắt được về phước hạnh của Đức Chúa Trời.
E. Phần nhiều lầm lỗi của ông phạm phải vì cớ lòng tự tín quá mấu. Đến cuối cùng, tình trạng yếu đuối quan trọng nhất của ông đã trở thành sức mạnh to tát nhất khi ông đem tham vọng của mình phục theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
F. Ông đã chết trong đức tin, một môn đồ của Đức Chúa Trời, và một người xứng đáng thêm vào bảng danh sách quan trọng nói tới bậc anh hào đức tin trong Hêbơrơ 11.
II. Sứ điệp của Giacốp cho chúng ta
Trong cùng một cách thức — và một lần nữa chẳng có một lời bình nào hết — đây là một trong những bài học mà chúng ta có thể tiếp thu từ các chuyến hành trình của chúng ta với Giacốp.
A. Tội lỗi dù ở hình thức nầy hay hình thức khác sẽ bám sát các bước chân của chúng ta bao lâu chúng ta còn sống. Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên vì chúng ta phấn đấu với một số tội lỗi cho tới ngày chúng ta chết.
B. Đức Chúa Trời sẽ làm bất cứ điều chi để phá vỡ lòng tin cậy của chúng ta nơi xác thịt để rồi Ngài sẽ thay thế nó với lòng tin cậy nơi một mình Đức Chúa Trời.
C. Mặc dù chúng ta có thể không tin điều đó, những thử thách trong cuộc sống không có ý định hủy diệt chúng ta, song để dạy dỗ chúng ta những bài học mà chúng ta không thể tiếp thu ở đâu khác được.
D. Khi Đức Chúa Trời xét đoán đời sống của một người, Ngài nhìn vào đức tin, chớ không nhìn vào lầm lỗi của người ấy.
Bất chấp mọi thiếu sót của mình, về mặt cơ bản Giacốp là một người có đức tin. Câu chuyện của ông sẽ khích lệ chúng ta vì có một chút Giacốp trong hết thảy chúng ta! Nếu Đức Chúa Trời có thể sử dụng Giacốp, Ngài có thể sử dụng bất cứ ai.
Hãy dạn dĩ lên. Câu chuyện nói tới Giacốp có trong Kinh thánh dành cho hạng người giống như bạn và tôi. Cách đây mấy tháng, tôi có giảng cho một hội nghị của công nhân tại Trại Nathanael ở Emmalena, bang Kentucky. Trong suốt tuần lễ ấy, tôi đã rao ra loạt bài nầy nói tới đời sống của Giacốp. Khi tuần lễ qua đi rồi, có một người chưa bao giờ gặp tôi trước đây đến đặt tay lên vai tôi rồi nói: “Tôi đã tận hưởng các sứ điệp nầy vì tôi cảm nhận giống như ông đã rao giảng từ kinh nghiệm cá nhân về đời sống của Giacốp”. Ông ấy nói đúng là dường nào. Giacốp là một người mà tôi có thể hiểu được một cách đầy đủ. Ông ấy không cao trọng cho bằng ông nội Ápraham hay thành tựu mỹ mãn giống như con trai ông là Giôsép. Ông phạm phải nhiều lầm lỗi suốt — có khi lặp lại cùng những lỗi lầm thật nhiều lần. Nhưng ở cốt lõi cuộc đời ông, Giacốp là người của Đức Chúa Trời. Ông muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và tìm kiếm ơn phước của Ngài — thậm chí nếu ông phải vặn cong mọi luật lệ để thực hiện điều đó.
Thực sự là anh hùng
Giờ đây, chúng ta đến với phần cuối của loạt bài nghiên cứu nầy về đời sống của Giacốp. Trong phần nghiên cứu thứ nhứt, tôi đã chỉ ra rằng Giacốp không phải là vị anh hùng của câu chuyện nầy. Anh hùng của câu chuyện nầy chính là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng không hề nhượng bộ đối với Giacốp, Ngài không hề lơi đối với mục đích nguyên thủy muốn chúc phước cho ông bất chấp mọi thất bại của ông. Giacốp luôn nhọc nhằn với sự phước ấy, còn Đức Chúa Trời thì không nhượng bộ. Ngài nhìn vào Giacốp theo cùng phương thức Ngài nhìn vào hầu hết chúng ta — như một phương án trọn đời. Ở bất kỳ điểm nào của con đường, Đức Chúa Trời có thể đã phán: “Hãy quên đi. Con người nầy hết biết rồi”. Nhưng Ngài không bao giờ nói như thế, và đến cuối cùng Giacốp nổi bật lên với đức tin đắc thắng nơi Đức Chúa Trời.
Trong các thế hệ về sau, những trước giả Kinh thánh sử dụng chính cụm từ đặc biệt khi họ muốn mô tả sự thực Đức Chúa Trời luôn luôn giữ lấy mọi lời hứa của Ngài. Họ gọi Ngài là Đức Chúa Trời của Ápraham, của Ysác và của Giacốp. Hãy suy nghĩ về cách gọi ấy. Ngài không hề được gọi là Đức Chúa Trời của Giôsép — mặc dù Giôsép đã có những thành tựu vượt bực. Ngài không hề được gọi là Đức Chúa Trời của Đaniên — mặc dù Đaniên đã có lòng dạn dĩ rất lớn. Ngài không hề được gọi là Đức Chúa Trời của Môise — mặc dù Môise là một lãnh tụ có tài.
Một trước giả đã gọi đây là “minh chứng quan trọng về ơn thương xót thiêng liêng" — Đức Chúa Trời đã hiệp danh Ngài với một con người như Giacốp. Nhưng tại sao điều đó khiến cho chúng ta phải kinh ngạc chứ? Đức Chúa Trời vốn đẹp lòng khi tự mình hội hiệp với bất kỳ ai có đức tin nơi Ngài.
— Bạn không cần phải là người trọn vẹn.
— Bạn không cần phải là người mạnh mẽ.
— Bạn không cần phải đi thẳng tắp và tỉ mỉ.
Bạn là chính bạn và Đức Chúa Trời sẽ vui sướng hội hiệp với bạn … bao lâu bạn có đức tin nơi Ngài.
Ai là Đức Chúa Trời của Giacốp?
— Ngài là Đức Chúa Trời của ân điển dư dật.
— Ngài là Đức Chúa Trời của sự khôn sáng khôn lường.
Ngài là Đức Chúa Trời Đấng luôn luôn có mặt ở đó vì chúng ta
— bất chấp tội lỗi của chúng ta
— ngay lúc chúng ta thất bại
— ở giữa mọi nổi sợ hãi của chúng ta.
Đây là lời nói sau cùng của tôi. Đức Chúa Trời của Giacốp cũng là Đức Chúa Trời của chúng ta. Chính Đức Chúa Trời ấy, Đấng đã dẫn dắt Giacốp là Đức Chúa Trời Đấng đang dẫn dắt chúng ta ngày hôm nay. Bạn có biết Đức Chúa Trời đó hay chưa vậy? Ngài đã tự tỏ chính mình Ngài ra cho bạn trong Thân vị của Đức Chúa Jêsus Christ.
Bạn sẵn sàng chết chưa?
Cho phép tôi kết thúc bằng cách đưa ra một câu hỏi rất đơn giản: Bạn sẵn sàng chết chưa?
John Henry Newman đã nói: “Đừng sợ sự sống của bạn sẽ đi đến chỗ kết thúc, mà hãy sợ nó sẽ không có một khởi đầu kìa”. Hỡi Cơ đốc nhân, có phải bạn sẵn sàng để chết chưa? Hỡi người tin theo Chúa Jêsus, bạn có sẵn sàng để chết chưa?
Có phải bạn đã sống tuần lễ nầy để rồi nếu hôm nay là ngày đó, bạn sẽ không phải nhìn lại với hối tiếc chứ?
Nhưng sẽ ra sao nếu bạn chưa nhìn biết Chúa Jêsus? Bạn chưa sẵn sàng để chết cho dù bạn nghĩ mình sắp chết. Không một ai sẵn sàng để chết cho tới chừng họ nhìn biết Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa và Chúa. Có người dám nói: “Cuộc sống bắt đầu ở tuổi 40”. Họ đã sai lầm là dường nào. Sự sống bắt đầu ở đồi Gôgôtha. Sự sống bắt đầu ngay giây phút bạn đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Sự sống bắt đầu tại thập tự giá khi bạn quì gối xuống mà nói: “Lạy Chúa Jêsus, cảm tạ Ngài vì đã chịu chết thay con”. Cho tới chừng nào bạn đến với Đấng Christ, sự sống của bạn chưa có một khởi đầu nào hết. Bạn hiện tồn tại đấy song bạn không có sự sống.
Sự sống bắt đầu ngay giây phút bạn nói “Vâng” với Chúa Jêsus. Tôi khuyên bạn hãy đến với Ngài để rồi vô luận bạn sống bao lâu — thêm một ngày, thêm một tuần, thêm một tháng, thêm một năm, hay thêm 50 năm nữa — sẽ sẵn sàng để chết khi giờ phút sau cùng đến.

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Sáng thế ký 34-37: "Trường Đau Khổ"


Trường Đau Khổ
– Sáng thế ký 34-37
Đối với tôi, cảnh thấm thía nhất trong chiến dịch bầu cử Tổng thống mới đây đã diễn ra vào ngày thứ Hai vừa qua ở Houston, ở đó George Bush đang phát biểu về sự nghiệp chính trị của ông. Suốt cả ngày ở New Jersey, ông đã băng qua lằn ranh ở giữa nước Mỹ, gom lại mọi bộ phận cần thiết cho lần băng qua mức đến sau cùng. Không hề lo những lần bỏ phiếu cho ông thấy tình trạng vô vọng đang ở sau lưng, không hề lo đa số dân chúng đã quyết rồi họ sẽ bỏ phiếu ra sao, không hề màng tới việc ông đã 68 tuổi, sắp hưu hạ rồi, và đang chạy adrenalin.
Giờ đây mức đến đang ở trước mặt, một đám đông cổ vũ đang ở trong sảnh đường. Thứ nhứt, có những vận động viên và những người giúp vui — Arnold Palmer là một, và ngôi sao nhạc dân ca Ricky Skaggs, và chính Moses do Charlton Heston thủ vai, mọi sự dẫn đến lần xuất hiện ngắn ngủi của Bob Hope.
Khi ấy, ứng viên Tổng thống lên sân khấu. Lời lẽ của ông nói tới chiến thắng lạ lùng đến từ phía sau, nhưng thân thể ông thì nhắc tới thứ ngôn ngữ chỉ ra thất bại. Gương mặt ông đầy nếp nhăn, giọng nói ông khàn đi một ít, ánh mắt ông mệt mõi, trông ông giống như một chiến binh từng trải phần kết chịu thua ở hiệp thứ 15 trận vô địch quyền anh hạng nặng.
Ông cảm tạ nhiều người, giọng nói ông nổ ra khi ông trao đổi với vợ mình là Barbara. Sau chỉ một vài phút, ông đã phát biểu xong. Tiếp đến sự cổ vũ bắt đầu — thật tình cảm, tôi nghĩ, nhưng không phải là niềm hân hoan vang dội của căn phòng phấn khích của người chiến thắng. Xây sang Barbara, ông ôm lấy bà rồi nói ra một câu. Mặc dù chúng ta không thể nghe được rõ, cả nước đều có thể đọc được trên đôi môi ông — "Mọi sự xong rồi”.
Trông ông yên tâm khi ông thốt ra câu nói ấy — giống như một người đã nhìn nhận sự thực vào lúc sau cùng. Trong vòng 24 giờ đồng hồ, mọi chuyện thực sự cho thấy là đã xong rồi.
Lý do và bài học
Chuyện gì đã xảy ra? Tại sao ông lại thua cuộc? Cần phải nói rõ rằng “thành công có cả ngàn người cha, song thất bại lại là một đứa trẻ mồ côi”. Khi chiến thắng đến, chúng ta mau mắn lắm với đủ thứ việc. Còn thất bại? Đấy là một câu chuyện khác. Chẳng có ai muốn đứng dậy rồi nói: “Phải chịu thôi”. Thật là dễ dàng chỉ ngón tay rồi chơi trò đổ thừa. Khi cuộc sống bắt đầu lần theo đường chỉ may, chúng ta bắt đầu tìm kiếm kẻ giơ đầu chịu báng … hay ít nhất tìm một lý do. Và nếu không phải vì một lý do, thì phải tìm cho ra một bài học.
Đấy là những gì chúng ta nghe thấy vào tuần lễ nầy. Những lý do và các bài học. “Đây là lý do tại sao sự việc đã xảy ra và đây là điều chúng ta cần phải tiếp thu từ sự việc ấy”. Không có việc trù tính bất kỳ một hàm ý chính trị nào cả, tôi có khuynh hướng nghĩ con voi mệt nhọc kia đã học được nhiều hơn con lừa chiến thắng vào tuần lễ nầy.
Cuộc sống có một cách thức đánh hạ chúng ta xuống, có phải không? Giống như chúng ta nghĩ chúng ta đang cỡi một làn sóng thành công, đột nhiên làn sóng ấy vỡ đi, bó đưa chúng ta vào những rặng đá lởm chởm bên bờ biển thực tại đầy khó khăn. Một số bài học kéo dài, được lặp đi lặp lại từ thế hệ nầy đến thế hệ kia:
Cuộc sống rất khó khăn.
Không một ai trụ lại trên đỉnh cao cho đến đời đời.
Mưa sẽ sa xuống trên từng đời sống.
Có lẽ phần lưu ý quan trọng nhất là đây: Chúng ta tiếp thu rất ít từ sự thành công, song thất bại lại là một vị giáo sư rất tuyệt vời. Hãy hỏi bất cứ ai từng lâm vào sự phá sản xem … hay bất cứ ai đã nếm trải nổi đau ly dị … hoặc đã kinh nghiệm nổi đau của việc mất sở làm … hay đứng nhìn người thân yêu từ từ qua đời. Trong những giây phút tăm tối của cuộc đời, khi thời gian từ từ lê bước, khi chúng ta ngồi trong phòng đợi lúc những giây phút biến thành nhiều giờ, khi ấy chúng ta bắt đầu học được những gì cuộc sống muốn nói tới. Phần còn lại chỉ là vui mừng và nhiều trò chơi.
I. Những rối rắm của Giacốp
Giacốp đã tiếp thu được qua nhiều lá bài. Không phải một lần … hay hai lần thậm chí hoặc ba lần … mà là sáu lần, ông đã đối diện với nổi đau khổ trầm trọng theo cách riêng. Mỗi trường hợp đều đến chẳng báo trước, không lường được và rất là bất ngờ. Mỗi lần đều có sự khác biệt và nổi đau sâu sắc riêng. Qua mọi sự ấy, Giacốp đã giữ được đức tin của mình. Ông đã minh chứng trong chính kinh nghiệm của ông bằng những lời lẽ nổi tiếng của Gióp: “Nhưng Chúa biết con đường tôi đi; Khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng” (Gióp 23:10).
Mọi con cái của Đức Chúa Trời đều ghi danh vào Trường Đau Khổ.
Không một ai được miễn trừ.
Không một người nào có thể tránh được “cuộc thử nghiệm”.
Không một người nào chuyển sang trường khác được.
Khi cuộc đời ông tiến tới đỉnh cao của nó, chúng ta thấy Giacốp đang đối diện với một loạt thật dài những khủng hoảng riêng tư — hết đợt nầy tới đợt khác. Trong phần nghiên cứu những cơn khủng hoảng nầy, có một sự thực áp đảo từng cá nhân, ấy là gia đình của người ấy sẽ liên quan đến — con gái, cha ruột, vợ, đứa con lớn nhất, và hoàn toàn là đứa con được cưng chìu nhất của mình. Giacốp vốn nổi bật là một người trụ cột của gia đình, và những nổi buồn riêng tư của ông toàn bộ là từ gia đình của ông mà ra cả.
A. Khủng hoảng gia đình (34)
Đợt khủng hoảng đầu tiên đã khởi sự khi Giacốp quyết định cho gia đình mình định cư gần thành Sichem của dân Canaan. Đina là đứa con gái duy nhứt của Giacốp; Sichem là con trai của Hêmô, vua của người Hêvít. Sáng thế ký 34:1 chép rằng Đina quyết định đi thăm những thiếu nữ trong xứ. Khi Sichem nhìn thấy Đina, chàng ta đã ngủ với nàng. Phân đoạn Kinh thánh chép, chàng ta đem lòng yêu nàng và muốn lấy nàng làm vợ. Đây có thể là vụ cưỡng hiếp đầu tiên xảy ra trong Kinh thánh. Trong sự ăn miếng trả miếng, các con trai của Giacốp đã lừa những người nam Hêvít chịu phép cắt bì và trong khi họ chờ phục hồi lại, Simêôn và Lêvi đã đột nhập vào thành phố rồi tàn sát từng người nam một, cướp lấy bất cứ gì họ đi ngang qua, rồi bắt lấy những người nữ và trẻ con.
Phản ứng của Giacốp đáng khâm phục: “bây xui cho tao bối rối”. Mối quan tâm duy nhứt của ông, ấy là nếu người xứ Canaan nghe nói về việc tàn sát người Hêvít, họ sẽ trả đủa bằng cách tấn công gia đình ông rồi quét sạch nó đi. Các anh em đáp lại với nổi lo đó: “Chúng tôi nỡ chịu người ta đãi em gái chúng tôi như con đĩ sao?”
Thành thực mà nói, chẳng ai trông hiền lành trong câu chuyện đáng buồn nầy. Nhưng chúng ta hãy lưu ý một điểm: Sự việc đã xảy ra vì Giacốp đã sống quá gần gũi với người Hêvít trong chỗ thứ nhứt. Đina bị lôi cuốn bởi những người nữ Hêvít, đây là lý do tại sao Sichem đã để ý đến nàng trong chỗ thứ nhứt. Đây là một bức tranh nói tới sự việc xảy ra bất cứ khi nào những người tin Chúa bắt đầu “yêu mến thế gian”. Sự kêu gọi của chúng ta là ở trong thế gian song không thuộc về thế gian.
Khi chúng ta sống trong thế gian — thế là tốt đấy.
Khi thế gian ở trong chúng ta — thế là xấu đấy.
Gia đình của Giacốp giờ đây đang ở trong cơn khủng hoảng vì ông đã bất chấp nguyên tắc đơn giản ấy.
B. Ba cái chết (35)
Giờ đây Giacốp đang quay về lại Đất Hứa. Hành động đầu tiên của ông là trở lại Bêtên, dựng lên một bàn thờ rồi truyền cho các thành viên trong gia đình phải từ bỏ hết các thần tượng ngoại bang của họ. Đức Chúa Trời phán với ông một lần nữa và tái khẳng định rằng ông sẽ là tổ phụ của một dân lớn và “các vua sẽ do nơi mình ngươi mà ra”. Ông cũng được hứa rằng ông sẽ hưởng đất mà Đức Chúa Trời đã hứa với tổ phụ ông là Ápraham và cha ông là Ysác. Mọi sự nầy là cách nói của Đức Chúa Trời: “Hỡi Giacốp, ngươi không trọn vẹn, nhưng ngươi vẫn là người của ta. Ta đã chọn ngươi vì một mục đích và ta sẽ không qua khỏi ngươi đâu”.
Ở chỗ nầy — giây phút đắc thắng thuộc linh cao độ — chính giây phút Đức Chúa Trời một lần nữa phán cùng Giacốp, thảm kích đang ụp đến:
Trước tiên, Đêbôra, nàng hầu của Rêbeca, qua đời và được chôn cất ở Bêtên (35:8).
Thứ hai, Rachên qua đời khi sanh con. Với hơi thở sau cùng, bà đã đặt tên cho con là “Bênôni” có nghĩa là “đứa con của rối rắm” nhưng Giacốp đặt tên cho nó là “Bêngiamin" — "đứa con bên tay hữu ta”. Giacốp đã chôn bà không xa thành Bếtlêhem lắm, rồi dựng lên một cây trụ làm bia trên nấm mộ của bà (35:16-19).
Thứ ba, cha của Giacốp là Ysác qua đời ở tuổi 180. Ông đã sống gần Hếprôn và đấy là chỗ mà Giacốp và Êsau lo chôn cất ông. Kinh thánh chép rằng khi ông qua đời, ông đã “tuổi cao tác lớn, thỏa mãn về đời mình”. Tư tưởng về việc “tuổi cao tác lớn” là một gợi ý về sự sống sau khi chết. Tình cờ, đây là lần ghi lại sau cùng cho thấy Giacốp và Êsau gặp nhau. Nhiều năm về trước, họ đã phân cách nhau vì cớ cha của họ; giờ đây họ nhóm lại với nhau đặng lo chôn cất ông (35:27-29).
Chẳng có gì đáng nhớ trong mọi chuyện nầy, là một nhắc nhớ long trọng rằng nếu bạn sống thọ đủ bạn sẽ tham dự nhiều đám tang. Không một ai sống đời đời đâu. Nếu bạn sống đến 80 hay đến 90, bạn sẽ kết thúc trong việc chôn cất phần lớn những người mà bạn quen biết.
C. Tội lỗi của Rubên (35:21-22)
Câu chuyện nầy được thuật lại bằng thứ thuật ngữ rất đơn sơ: “Kế đó, Y-sơ-ra-ên đi, đóng trại ở ngoài nơi tháp Ê-đe. Vả, nhầm khi Y-sơ-ra-ên ngụ tại xứ nầy, thì Ru-bên có đến nằm cùng Bi-la, vợ lẽ của cha mình; Y-sơ-ra-ên hay được việc đó”. Ở đây, chúng ta có một cú sốc về mặt giá trị gia đình. Người con trai lớn nhất ngủ với hầu của cha mình. Đúng là một phút rối rắm với toàn bộ đề tài đa thê. Đức Chúa Trời đã cho phép sự việc ấy mặc dù đấy chẳng phải là ý muốn của Ngài dành cho nhân loại. Bất cứ đâu bạn thấy tình trạng đa thê, chắc chắn là bạn nhìn thấy chứng đau đầu và tình trạng buồn rầu.
Đừng phiền về việc ấy. Hãy tập trung vào chuyện người con cả của Giacốp đã làm. Anh ta đã ngủ với một người đàn bà đã thuộc về cha mình. Còn hơn thế nữa, anh ta đã ngủ với mẹ hai người em của mình. Chúng ta muốn biết nhiều hơn nữa … nhưng Kinh thánh dè dặt trước mọi bối cảnh. Ở cái nhìn thoáng qua lần đầu tiên, Rubên đã lờ đi trong câu chuyện ấy. Kinh thánh thuật lại cho chúng ta biết mọi sự là: “Israel hay được việc đó”.
Người cha nhìn biết con trai mình đã làm gì rồi. Ông không thể quên điều bất kính mà người con cả của mình đã tỏ ra với ông. Nhiều năm trôi qua, rồi thêm nhiều năm nữa, và sự việc rơi vào quên lãng. Chẳng có ai muốn nhớ lại chuyện đó. Giờ đây, Giacốp đang nằm trên giường chờ chết. Trong những giây phút hấp hối, ông gọi các con trai đến bên cạnh rồi chúc phước cho họ từng người một — những phước hạnh sẽ chỉ ra cơ nghiệp của họ và địa vị của họ trong chương trình của Đức Chúa Trời qua nhiều thế hệ. Ông bắt đầu với Rubên người con cả — là người sẽ nhận lãnh một phần cơ nghiệp gấp bằng hai. Hãy lắng nghe lời lẽ của ông (Sáng thế ký 49:3-4):
Hỡi Ru-bên! con là trưởng nam của cha,
Sức lực cha, và đầu tiên sự mạnh mẽ cha;
Vốn có sự tôn trọng và quyền năng tột đỉnh.
Con sôi trào như nước, nên sẽ chẳng phần hơn ai!
Vì con đã lên giường cha.
Con lên giường cha bèn làm ô làm dơ đó!
Bấy nhiêu đó thôi! Ông đã không quên. Ông biết rõ con trai mình … biết rõ sức lực, yêu thương Rubên là con trưởng, biết rõ bản chất ngỗ nghịch, không tiết độ, không kềm chế được của nó. Một con người sống hoang dã, vô kỷ luật, không làm chủ được sự thôi thúc của riêng mình. Bất chấp tình trạng mình là anh cả, sức mạnh, và mọi đức tính đáng khen, Rubên đã chẳng tôn kính cha mình. Giacốp không bao giờ quên mọi điều mà Rubên đã làm. Trên giường hấp hối, Giacốp tước bỏ quyền trưởng nam của Rubên và chẳng chừa lại cho ông một điều gì trừ ra xấu hổ và sỉ nhục.
D. Mất mát Giôsép (37:1-11)
Câu chuyện ai cũng biết rõ, chẳng cần phải nhắc lại nhiều mà chi. Nhiều năm tháng trôi qua và Giacốp đã ổn định trong Đất Hứa. Mọi sự đều suông sẻ và sau cùng Giacốp dường như nghiệm thấy sự bình an rồi. Những năm tháng dài khó khăn đã nhường đường cho sự thịnh vượng và một lượng hạnh phúc nào đó. Mặc dù Rachên yêu dấu của ông đã qua đời rồi, Giacốp có thể tự an ủi mình ở chỗ Đức Chúa Trời đã ban cho ông 12 người con trai tốt đẹp.
Thế rồi một ngày kia, có rối rắm ở ngoài đồng, mà Giacốp chẳng biết chi hết. Những gì bắt đầu với tình trạng thiên vị của bậc làm cha mẹ và tình trạng kình chống của anh em ruột mau chóng leo thang thành ganh tỵ và công khai thù hận. Các anh của Giôsép trước tiên âm mưu giết chàng và kế đó bán chàng đi làm nô lệ. Chuyện đã xảy ra, họ âm mưu cách dối gạt cha mình vào suy tưởng rằng Giôsép yêu dấu của ông đã chết rồi. Họ làm thế bằng cách lấy “chiếc áo choàng nhiều màu sắc” rồi nhúng nó vào huyết của con dê đực. Khi Giacốp nhìn thấy chiếc áo đẩm máu, ông kết luận rằng Giôsép đã bị thú dữ ăn thịt rồi. Không một người con nào chịu bước tới để nói cho ông biết sự thật hết.
(Có một sự trớ trêu đáng buồn trong mọi chuyện nầy. Nhiều năm trước đây, Giacốp đã dối gạt cha mình là Ysác bằng cách dâng cho cha mình bữa ăn thịt dê. Giờ đây, các con trai ông dối gạt ông với huyết của một con dê — tuy nhiên, trường hợp khác về bàn tay của Đức Chúa Trời đang hành động qua nhiều năm tháng. “Cánh tay của vũ trụ dài lắm, song nó cong hướng về công lý").
Giacốp không được yên ủi. Thực sự ông đã tin con trai mình đã chết. “Hết thảy con trai, con gái hiệp lại an ủi người, nhưng không chịu; bèn nói rằng: Ta để tang luôn xuống chốn âm phủ cùng con ta!” Chỉ có bậc cha mẹ nào mất mát đứa con mới có thể hiểu được câu kế tiếp: “Ấy đó, cha Giô-sép khóc than chàng như vậy”.
Giờ đây, Giacốp đã ở mức thấp nhất trong cuộc đời của mình.
Trước tiên, con gái ông ngủ với một kẻ theo tà giáo.
Kế đó, các con trai ông tàn sát toàn bộ thành phố.
Tiếp đến, nàng hầu của mẹ ông qua đời.
Rồi chính Rachên qua đời.
Kế đó, cha ông qua đời.
Tiếp đến, Rubên con trai ông tỏ thái độ bất kính đối với ông.
Giờ đây, Giôsép đã chết mất (hay ông nghĩ như vậy).
Nổi đau không thể mang nổi. Sao Đức Chúa Trời lại làm thế đối với ông chứ? Sao Đức Chúa Trời lại cất Giôsép đi? Chàng ta chỉ mới có 17 tuổi thôi mà. Chàng còn trẻ lắm, đầy nghị lực, vui vẻ và trọn vẹn trong cuộc sống, là giải đáp cho mọi lời cầu nguyện, là con trai đầu lòng sanh ra cho Rachên. Vì vậy, nhiều kỳ vọng và mơ ước gói ghém trong chàng thanh niên ấy. Bây giờ, chàng ngã chết và Giacốp không được yên ủi.
Nhiều năm về sau, ông mới khám phá ra Giôsép hãy còn sống … song đấy là một câu chuyện khác.
Trong một khoảnh khắc, khi Giacốp ngước nhìn lên mặt của Đức Chúa Trời, ông chỉ nhìn thấy những áng mây đen đánh dấu con đường của một người bị cuốn đi trong Trường Đau Khổ.
II. Sự yên ủi của chúng ta
Chúng ta có thể nói gì về một kinh nghiệm giống như kinh nghiệm nầy? Phải chăng Giacốp là có một không hai, giống như Gióp, một người được Đức Chúa Trời lựa chọn để chịu khổ theo những phương thức thật phi thường? Tôi nghĩ hầu hết chúng ta sẽ không thấy thỏa mãn với đề xuất đó. Nếu có việc gì đáng kể, chúng ta đã nhìn thấy Giacốp là một người có những phấn đấu giống như của chúng ta. Không giống với các bậc anh hào trong Kinh thánh, ông ấy quả là một con người. Ở nhiều điểm, chúng ta thấy ông đang phấn đấu với cùng những sự việc mà chúng ta đối diện với mỗi ngày.
Những bài học nào chúng ta rút tỉa được từ mọi rối rắm của Giacốp? Cho phép tôi đề nghị 5 bài học.
A. Không ai được miễn trừ khỏi sự chịu khổ.
Hết thảy chúng ta đều đã học biết cách đây nhiều năm khi chúng ta được dạy dỗ “mưa sẽ sa xuống trên từng đời sống”. Nhưng Kinh thánh chép cùng một việc ấy bằng lời lẽ có khác: “Nhưng loài người sanh ra để bị khốn khó, như lằn lửa bay chớp lên không” (Gióp 5:7). “Chúng ta phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời” (Công Vụ các Sứ Đồ 14:22). Bài thánh ca nổi tiếng của Isaac Watt “Amazing Grace” nhắc cho chúng ta nhớ rằng “qua nhiều hiểm nguy, cực nhọc và bẫy lưới, tôi đã đến rồi”.
Làm một Cơ đốc nhân, mang lấy nhiều phước hạnh, nhưng nó chẳng mang lại cho bạn một sự miễn trừ đối với Trường Đau Khổ. Hết thảy con cái của Đức Chúa Trời phải có một thời gian ở trong Trường Đau Khổ — dù chúng ta có thích hay là không.
B. Đức Chúa Trời sử dụng khổ đau để dạy cho bạn nhiều bài học mà bạn không thể học ở đâu khác được.
Ba việc tích cực xảy ra khi bạn nếm trải sự khó nhọc — bất luận điều chi gây ra:
Bạn đi chậm lại … rồi bắt đầu suy nghĩ.
Bạn trầm tỉnh lại … rồi bắt đầu lắng nghe.
Bạn nhìn lên … rồi bắt đầu tiếp thu.
Tại sao việc ấy không xảy ra mỗi ngày chứ? Vì chúng ta đi quá nhanh đến nỗi chúng ta không có thì giờ để suy nghĩ về những gì mình đã làm. Đức Chúa Trời phải buộc chúng ta đi chậm lại, và thứ công cụ Ngài có thường là đau khổ. Ấy chẳng phải Đức Chúa Trời không bằng lòng phán cùng chúng ta ở giữa cuộc đời đâu; chúng ta thường quá bận rộn không để ý đấy thôi.
C. Đức Chúa Trời đang vận hành trong sự chịu khổ của bạn để tạo ra bổn tánh Cơ đốc ở trong bạn.
Khi những người xưa muốn phân rẻ lúa mì với rơm rạ, họ đã sử dụng một công cụ gọi là tribulum. Bằng cách dùng tribulum đập vào lúa mì, hạt lúa nặng hơn sẽ bị tách ra khỏi rơm nhẹ hơn. Từ ngữ tiếng Anh “tribulation” (hoạn nạn) ra từ chữ nầy. Những cơn hoạn nạn thực sự tách lúa mì ra khỏi rơm rạ trong bổn tánh của con người. Đấy là những gì Phaolô muốn nói khi ông nói rằng “hoạn nạn sanh sự nhịn nhục; sự nhịn nhục sanh sự rèn tập, sự rèn tập sanh sự trông cậy” (Rôma 5:3)
Một vị Mục sư từng đến viếng qua xí nghiệp đồ sứ nổi tiếng ở Derby, Anh quốc. Trong khi có mặt ở đó, ông nhìn thấy những người thợ thủ công dùng nhiều bức tranh màu sắc khác nhau để sơn trên món đồ sứ — màu vàng nâu, màu xanh đen và màu đỏ đậm. Họ khoanh tròn phần rìa của đồ sứ với mày đen. Kết quả sau cùng của việc sơn nầy là một hỗn hợp không mấy lôi cuốn của màu tối. Thế nhưng khi món đồ sứ kia được đem đặt vào lò nung, ngọn lửa sẽ làm công việc biến đổi thật lạ lùng. Trước sự kinh ngạc của vị Mục sư, khi các thứ không cần thiết bị cất bỏ đi, chúng hiện ra thật là xinh đẹp. Màu đen đã trở thành màu vàng rực rỡ. Màu xanh và màu đỏ đã trở nên rực sáng hẳn lên.
Trong sự khôn ngoan không sai sót của Đức Chúa Trời, một số thánh đồ chọn lọc nhất của Ngài được đưa vào lò thử thách nghiệt ngã của cuộc sống. Điều chi dường như ở mặt nầy là màu sắc tăm tối một ngày kia sẽ rực lên những màu sắc sáng quắc của chiếc cầu vồng. Và người nào đang chịu khổ trong lò nung chắc chắn sẽ trở thành chính hình ảnh của Đức Chúa Jêsus Christ.
D. Sự chịu khổ của bạn không bao giờ tách bạn ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời.
Không một thắc mắc nào hành hại lý trí cho bằng thắc mắc nầy: “nếu Đức Chúa Trời yêu tôi, sao Ngài lại để cho việc nầy xảy ra chứ?” Trong những giờ phút đau khổ dữ dằn lắm, chúng ta có khuynh hướng suy nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã bỏ quên chúng ta rồi. Song chẳng phải như vậy đâu.
Có phải Đức Chúa Trời yêu thương bạn khi hôn nhân của bạn tan vỡ không?
Có phải Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn khi sự nghiệp của bạn chuyển hướng sai lầm không?
Có phải Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn khi bạn kết thúc ở trong tù không?
Có phải Đức Chúa Trời hãy còn yêu thương bạn khi vợ của bạn có vấn đề không?
Có phải Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn khi bác sĩ nói: “rất tiếc. Chúng tôi không thể làm sao khác hơn"?
Nếu bạn là một người cha hay người mẹ, bạn vốn biết câu trả lời rồi. Có phải bạn vẫn yêu thương con cái của mình khi chúng lâm vào cảnh rối reng không? Có phải bạn yêu thương con gái mình khi nó nằm trên giường rên rỉ trong đau đớn? Có phải bạn yêu thương con trai mình khi nó mất sở làm không? Từng người mẹ người cha đều biết rõ câu trả lời. Tất nhiên là bạn biết rõ rồi đấy. Nếu có thể được, bạn yêu thương con cái của bạn nhiều hơn khi chúng lâm vào chỗ rối reng.
Hãy để cho Phaolô hỏi và trả lời câu nầy: “Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? … Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần” (Rôma 8:35, 37)
E. Đức Chúa Trời dự trù rằng người nào ghi danh Trường Đau Khổ một ngày kia sẽ tốt nghiệp với Summa Cum Lause: bằng Danh Dự Cao Nhất.
Hầu hết các trường đại học hiến các phần thưởng đặc biệt cho người nào trải qua khóa học với sự xuất chúng: Có thể bạn tốt nghiệp cum laude, magna cum laude, hay summa cum laude. Nghĩa là:
Bằng Danh Dự
Bằng Danh Dự Nhất Hạng
Bằng Danh Dự Ưu Hạng.
Bạn tôi ơi, Đức Chúa Trời có một mơ ước về bạn. Ước mơ của Ngài là một ngày kia nhìn thấy bạn tốt nghiệp từ Trường Đau Khổ với bằng Danh Dự Ưu Hạng — "summa cum laude”.
Các khóa học đều rất khó, những vị giáo sư đôi khi rất nghiệt ngã và mọi sự phân công ngày càng rất khó. Không phải mọi người đều lo liệu với phần ấy đâu. Có người lãnh hội, song lại không chịu nổi. Nhiều người khác giận dữ rồi bỏ cuộc. Nhưng đối với người nào biết trụ lại, có một phần thưởng lớn lắm.
“Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
Bối cảnh là căn phòng có ngai ở trên trời. Thì giờ là đâu đó bên kia ngày mai. Nhiều đám dân đông tụ lại để chờ phần mở đầu các bài tập. Quí bạn hữu và các thành viên trong gia đình sốt sắng chờ đợi nghi thức bắt đầu. Ca đoàn thiên sứ cất tiếng hát: “Vinh hiển cho Đức Chúa Trời rất cao”. Một ca đoàn đông đảo gồm 500.000 người nam người nữ cất tiếng hát bài “Gia Quang Tôn Ngài”. Nhiều vị chức sắc cùng đến — Ápraham và Ysác đang dẫn đường với Giacốp khập khiễng đi ở phía sau họ, Môise, Giôsuê, David, Êsai, Giêrêmi, Đaniên, các sứ đồ Giacơ và Giăng, và Phierơ là người bị đóng đinh ngược đầu xuống. Theo sau họ là những người tuận đạo trải qua nhiều thế kỷ — những người nam người nữ đã trả cái giá tối hậu cho đức tin của họ. Hãy nhìn đi! Có Jan Hus là người đã bị thiêu trên giàn hỏa. Và bên kia là Jim Elliot, người bị bộ tộc da đỏ Auca giết. Hàng trăm hàng ngàn người mạnh mẽ, họ diễu hành thành từng hàng một.
Khi ấy, sau cùng hết, một giọng nói cất lên: “hết thảy hãy đứng lên”. Đức Chúa Jêsus Christ ngự đến — mặc áo toàn trắng, chói lòa đẹp đẽ. Hãy nhìn kìa! Ngài đang mĩm cười. Đây là ngày mà Ngài hằng trông đợi. Giờ đây, nhiều tên tuổi được xướng lên:
"Shirley Banta. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
"Skip Olson. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
"Milt Seifert. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
"Louise Lavenau. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
"Della Renecker. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
"Robert Bruce. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
"Gene Kammerling. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
Có sự ngừng nghỉ một lúc khi Chúa Jêsus chờ đợi trước khi xướng lên tên kế tiếp. Khi ấy, Ngài mĩm miệng cười. Trong góc, một cụ già ngồi trong xao động. Trông ông đã được 90 tuổi rồi. Ông bước đi chậm chạp, cẩn thận, run rẩy.
"Fred Stettler. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”
Hết người nầy đến người khác, họ bước lên phía trước — những thánh đồ chói sáng của Đức Chúa Trời, đang bước vào sự vui mừng của Chúa. Ở trên đất nầy, họ đã chịu khổ bằng nhiều cách thức. Không một ai có được con đường thoải mái đến với thiên đàng cả. Có người trải qua bịnh tật, nhiều người khác ước mơ tan vỡ và nhiều người khác nữa bị bỏ rơi và bị quên lãng. Song Chúa biết những gì họ đã làm cho Ngài. Và Ngài không bao giờ quên họ. Không, không cho dù một giây phút thôi. Giờ đây, họ đang bước vào lãnh lấy phần thưởng đời đời của họ.
Ồ, tôi muốn mình có mặt ở đó trong ngày ấy. Tôi muốn cổ vũ cho bạn bè tôi và tìm chỗ đứng tung hô dành cho những người thân của tôi. Và còn hơn bất cứ điều chi khác nữa, tôi muốn sống để khi giờ phút ấy đến, tôi có thể nghe Ngài phán: “Ray Pritchard. Bằng Danh Dự Ưu Hạng”.
Việc ấy có khả thi không chứ? Có đấy, Đức Chúa Trời dự trù rằng hết thảy chúng ta đều sẽ trải qua Trường Đau Khổ. Nhưng cảm tạ sự nhơn từ, ngôi trường không kéo dài cho đến đời đời. Người nào ở lại trường và học những bài học của họ, một ngày kia sẽ được ban thưởng dư dật. Đến cuối cùng, không một người nào sẽ hối tiếc về những khổ đau trong đời nầy. Những giây phút đen tối nhất sẽ được biến thành sáng láng đời đời và chúng ta sẽ chiếu sáng giống như mặt trời cho đến đời đời.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Sáng thế ký 32-33: "Chữa Lành Những Thương Tổn Trong Quá khứ"


Chữa Lành Những Thương Tổn Trong Quá Khứ

– Sáng thế ký 32-33
Cái nào khó hơn? Tha thứ hay được tha thứ? Bạn có thể bàn bạc xem.
Nếu bạn nói tha thứ là khó hơn, bạn nói đúng đấy. Khi bạn tha thứ cho ai đó, bạn đang làm ít nhất hai việc:
1. Bạn đang chọn bỏ qua nổi đau của quá khứ.
2. Bạn đang chọn cung ứng cho kẻ vi phạm một cơ hội khác.
Vì thế, bạn đã nói đúng. Tha thứ thì khó khăn hơn nhiều lắm.
Tất nhiên, trừ phi bạn nói được tha là khó khăn hơn. Trong trường hợp đó, rõ ràng bạn nói đúng vì bất cứ khi nào bạn quyết định mình đã được tha thứ, bạn đang làm ít nhất ba việc:
1. Bạn đang nhìn nhận lỗi lầm của mình.
2. Bạn đang nhận lãnh sự tha thứ.
3. Bạn đang mặc nhiên nhất trí với một chuỗi hành động mới.
Cái nào là khó khăn hơn — tha thứ hay được tha thứ? Mọi sự ấy đều nương vào nhận định của bạn — và trong trường hợp bạn là kẻ phạm lỗi hoặc bạn là nạn nhân.
Sự thực là, về mặt con người thì cả hai đều rất khó. Hầu hết chúng ta đều thấy khó mà tha thứ lắm. Phần nhiều người trong chúng ta thậm chí đều thấy được tha thứ là khó hơn. Thực sự, đấy là sứ điệp của Sáng thế ký 32-33. Tha thứ là khó rồi, còn được tha cũng khó như thế thôi. Kỳ thực, đôi lúc thật là dễ dàng cho chúng ta tha thứ ai đó hơn là để mình được ai đó tha thứ cho.
Một điều mà chúng ta có thể đồng ý luôn: Dù bạn đang tha thứ hay đang được tha thứ, mục tiêu luôn luôn là như nhau — Chữa lành … Hòa giải … Hội hiệp lại … Phục hồi … Phá đổ các bức tường phân cách chúng ta.
20 năm suy gẫm
Vậy, làm cách nào bạn chữa lành loại tổn thương rất đau đớn trong quá khứ? Sáng thế ký 32-33 cung ứng giải đáp cho câu hỏi đó. Đây là câu chuyện nói tới sự hội hiệp lại của Giacốp với người anh xa lạ của mình là Êsau. Qua kinh nghiệm khó nhọc, Giacốp đã khám phá ra sự hòa giải là khả thi, song rất … rất khó và rất … rất đắt giá.
Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi Giacốp gặp Êsau lần cuối cùng. Trong suốt những năm tháng dài lâu ở tại Charan, tôi tự hỏi Giacốp đã suy nghĩ những gì. Có phải ông nhớ lại cái ngày mà ông đã gài bẫy Êsau để lấy quyền trưởng nam bằng tô canh phạn đậu không? Có phải hai gò má của ông bừng lên với nổi xấu hổ khi ông nhớ lại việc đội lốt để giống như Êsau chăng? Có phải ông cảm thấy hối tiếc vì đã nói dối với cha mình? Có phải ông hối hận vì đã hôn Ysác rồi giả vờ mình là Êsau không? Có phải ông không biết điều gì sẽ xảy ra nếu như ông biết chờ đợi nơi Đức Chúa Trời? Có phải ông hối tiếc về các xử sự bốc đồng của mình khi về lại Bêe Sêba chăng?
Nhưng giờ đây, chỉ có một thắc mắc đang bám chặt lấy lý trí ông: Êsau sẽ phản ứng thế nào đây? Trong bài học vừa qua, Giacốp đã sai các sứ giả đi gặp Êsau, hy vọng tìm được ơn của Êsau. Các sứ giả trở về với lới lẽ rằng Êsau đang đi ra đón Giacốp — có 400 người kèm theo!
400 người!
Giacốp hoảng sợ — và với lý do đúng đắn. Trong lý trí của ông, chỉ có một việc mà thôi: Êsau đang tới đến để lấy mạng ông. Ông ấy vẫn còn giận dữ sau những năm tháng dài ấy. Vì vậy Giacốp nắm lấy ba bước dè chừng như thế nầy:
A. Ông chia dân sự mình ra thành nhiều tốp (Sáng thế ký 32:7-8).
Lối lý luận của ông rất dễ hiểu: “Nếu Êsau đến rồi tấn công một tốp, thì tốp còn lại có thể trốn thoát”. Cách chia nầy rất hay về mặt quân sự, và nó cho thấy rằng dù tình huống có tuyệt vọng từ quan điểm của Giacốp. Ông đang sẵn sàng hy sinh phân nửa gia đình mình để cứu lấy phân nửa kia.
B. Ông cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu (Sáng thế ký 32:9-12).
Lần đầu tiên lời cầu nguyện nầy được ghi lại cho Giacốp — và đấy đúng là một lời cầu nguyện rất quan trọng. Thứ nhứt, ông gợi lại lời hứa của Đức Chúa Trời đã lập với Ysác và với Ápraham (9). Thứ hai, ông xưng ra tình trạng bất xứng của mình (10). Thứ ba, ông công bố sự nhơn từ Đức Chúa Trời dành cho mà ông không đáng được (10). Thứ tư, ông cầu xin được giải cứu khỏi Êsau (11). Thứ năm, ông bày ra nổi sợ hãi của mình về mấy bà mẹ và con trẻ sẽ bị tấn công (11). Thứ sáu, ông nhắc cho Đức Chúa Trời nhớ lại lời hứa chúc phước của Ngài dành cho ông (12).
Mặc dù đây là bốn câu nói rất dài, lời cầu nguyện nầy chứa mọi yếu tố của lời cầu nguyện theo Kinh thánh. Giacốp đang thốt ra những việc đúng đắn. Lời cầu xin ấy hà ra một tâm thần hạ mình chơn thật và tin cậy sâu sắc nơi Đức Chúa Trời. Hay hơn hết, lời cầu nguyện thì ngắn ngủi và nhắm vào mục đích, chính xác là những điều tôi sẽ cầu xin nếu tôi nghĩ gia đình tôi đang bị đe dọa.
C. Ông dâng các lễ vật cho Êsau để xây cơn giận của ông ấy đi (Sáng thế ký 32:13-21).
Đây là một trường hợp làm nguôi giận rất xa xưa — nghĩa là “xua cơn giận đi bằng cách dâng một lễ vật”. Những người làm chồng làm việc ấy suốt, khi họ ngừng xe lại để mua bó hoa lúc họ từ sở làm về nhà trễ. Nhưng Giacốp đang dâng tặng còn nhiều hơn bó hoa đó. Phân đoạn Kinh thánh liệt kê ra quà tặng của ông như sau đây:
200 dê cái
20 dê đực
200 chiên cái
20 chiên đực
30 lạc đà cái (có con của chúng nữa)
40 bò cái
10 bò đực
20 lừa cái
10 lừa đực
Rõ ràng, Giacốp đang gửi đi vài sứ điệp bằng cách dâng một số lễ vật khá lớn về thú vật:
1. cho thấy rằng ông rất giàu
2. cho thấy rằng ông thực sự muốn tương giao với Êsau
3. cho thấy rằng ông công nhận tình trạng to lớn của tội lỗi mình khi nghịch lại với anh mình.
4. cho thấy rằng ông công nhận tình trạng vĩ đại của Êsau bằng cách dâng một lễ vật to lớn cho ông ấy.
Mọi yếu tố nầy đang được thể hiện. Giacốp không những chọn lọc lễ vật cho Êsau, mà ông còn cung ứng những huấn thị đặc biệt cho những người sẽ dẫn bầy gia súc ấy đến cho Êsau. Khi Êsau hỏi điều nầy có nghĩa gì, họ cần phải đáp như sau: “Chúng thuộc về Giacốp tôi tớ của ông. Chúng là lễ vật được gửi cho chúa tôi là Êsau và ông ấy đang đi ở đàng sau chúng tôi”.
Bạn không thể mua được sự tha thứ
Mọi động cơ của Giacốp rất là trong sáng. Ông hy vọng áp đảo anh ruột mình và xua cơn giận của Êsau đi. Thực vậy, câu 20 chỉ ra sự thực ấy rất cụ thể: “Mình đem lễ nầy dâng trước cho Ê-sau nguôi giận đã, rồi mình sẽ giáp mặt sau; có lẽ người tiếp rước mình một cách thuận hiệp đó”.
Có gì sai với sự việc nầy không? Thực sự là chẳng có gì sai trật hết. Toàn bộ ý tưởng về việc tặng một món quà để xua cơn giận đi đều là theo Kinh thánh cả. “Làm nguôi giận” là một trong những từ Hylạp được sử dụng để mô tả sự chết của Đấng Christ (Rôma 3:24-25; I Giăng 2:2). Bởi sự chết có tính cách hy sinh của Ngài trên thập tự giá, Chúa Jêsus đã “làm nguôi cơn giận” của Đức Chúa Trời đi. Theo một cấp độ quan hệ, Châm ngôn 18:16 chép: “Của lễ của người nào dẹp đường cho người, và dẫn người đến trước mặt kẻ sang trọng”. Đây đúng là điều mà Giacốp đang trông mong.
Nhưng có một vấn đề ở đây. Giacốp vẫn còn suy nghĩ luôn về mức độ báo thù và xoa dịu trong sạch về mặt con người. Ông đang ra sức “mua” ơn tha thứ bằng lễ vật xa hoa của mình. Ông tưởng ông có thể chuộc lấy mọi tội lỗi của mình bằng cách hiến một số dê, lạc đà và bò. Sự việc không tác động theo cách nầy đâu — ở trên đất hay trên trời. Đức Chúa Trời không muốn huyết của loài thú; Ngài muốn dân sự Ngài phải đến với Ngài bằng tấm lòng đau thương thống hối kìa. Cũng thực như thế đối với Êsau. Việc sau cùng ông muốn còn hơn vài trăm con thú ấy. Ngay cả như nếu ông chấp nhận bầy thú kia, cũng không chuộc được những gì Giacốp đã làm.
Giacốp tại rạch Giabốc
Nhưng Giacốp không hình dung nổi điều đó, vì vậy ông sai bầy thú đi trước ông. Đấy đúng là việc cần làm để ông có thể qua đêm bên rạch Giabốc. Lời lẽ nào sẽ mô tả tình trạng cảm xúc của ông?
Sợ hãi
Lo âu
Tội lỗi đang xâu xé
Bất ổn trong lòng
Đắn đo
Báo động
Đấy là lúc mà người khách lạ huyền nhiệm kia xuất hiện rồi bắt đầu vật lộn với ông. Đến sáng hôm sau, Giacốp có ba việc mới:
Một cái tên mới
Một thói tật mới (đi khập khiễng)
Một sự tin cậy mới nơi Đức Chúa Trời
Trong mấy giờ đồng hồ bên rạch Giabốc, tình trạng tự tín ngoan cố của ông đã bị tan vỡ. Đến khi mặt trời mọc lên, Giacốp đã tiếp thu được hai bài học có giá trị:
1. Khi bạn đồng đi với Đức Chúa Trời, bạn không cần phải sợ hãi.
2. Khi bạn đồng đi với Đức Chúa Trời, bạn không cần phải tham dự vào những trò chơi.
Một khi ông hoàn toàn đầu phục Đức Chúa Trời, nổi sợ hãi của ông tan biến đi và ông đã sẵn sàng gặp gỡ Êsau. Lưu ý: Ông không biết chắc Êsau sẽ đáp ứng như thế nào, nhưng sau khi vật lộn với thiên sứ của Đức Giêhôva, nổi sợ kia không còn là vấn đề nữa.
Không dám chắc, nhưng tin cậy
Đúng là một sự thực rất to lớn. Câu trả lời của Đức Chúa Trời cho nổi sợ hãi là không dám chắc, nhưng tin cậy. Sự vắng mặt của sợ hãi không xứng với tính chắc chắn của sự giải cứu. Bạn còn nhớ lời lẽ của ba bạn Hêbơrơ khi họ bị ném vào lò lửa hực chăng? (Đaniên 3). “Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực, dầu chẳng vậy, hỡi vua, xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua, và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng”. Đấy là sự tin cậy chơn thật theo Kinh thánh. Có thể bạn sẽ được cứu; có thể bạn không được cứu. Nhưng nếu bạn nhìn biết Đức Chúa Trời, lò lửa hực không thành vấn đề. Ngài có thể cứu bạn ra khỏi lò lửa hực hoặc Ngài có thể cứu bạn trong lò lửa hực. Hay Ngài chẳng cứu bạn về phần xác, nhưng dù cho như thế, Đức Chúa Trời đã hứa không bao giờ lìa khỏi bạn dù hoàn cảnh của bạn có tồi tệ như thế nào đi nữa.
Vì thế, Giacốp chẳng có ý kiến về những gì ông gặp gỡ khi đối mặt với Êsau. Nhưng lần nầy, thì chẳng có gì là vấn đề nữa hết. Không còn trò chơi nữa. Không còn có lễ vật xa hoa nữa. Không còn thương lượng gì nữa hết. Chỉ có người anh đang đi ra để đón người em mà thôi. Những gì xảy ra kế đó đều qui hết về cho Đức Chúa Trời.
Giacốp gặp gỡ Êsau — Sau cùng!
Gia-cốp nhướng mắt lên và nhìn, kìa, Ê-sau dẫn bốn trăm người đi đến. Khoảnh khắc của sự thực đã đến rồi. Bất cứ lúc nào nan đề phát sinh, bạn luôn luôn có hai ý tưởng: Bạn có thể chạy trốn nó hay bạn có thể đối đầu với nó. Giacốp quyết định mặt đối mặt với Êsau. “Còn người, thì đi trước họ và sấp mình xuống đất bảy lần cho đến khi tới gần anh mình”. Đây là cách thích ứng để chào đón một vị vua Đông phương. Bạn có nhớ Giacốp đã gọi Êsau là gì khi ông gửi tặng phẩm cho Êsau không? Giacốp đã gọi Êsau là “chúa tôi” và ông tự gọi mình là “tôi tớ ông”. Đây là lời lẽ của một con người phạm tội! Bằng cách sấp mình xuống đất, ông đang nhìn nhận tội lỗi và nài xin ơn tha thứ.
Êsau phản ứng thế nào? Với chỉ một lời, ông có thể truyền cho binh sĩ của mình giết Giacốp ngay tại chỗ! Ông đã làm gì chứ? Nếu ông muốn lấy mạng Giacốp, thì đây là cơ hội lớn nhất của ông.
“Nhưng Ê-sau chạy đến trước mặt người, ôm choàng cổ mà hôn, rồi hai anh em đều khóc”. Đúng là một khoảnh khắc hiếm có. Trong khi Giacốp đang sấp mình xuống, Êsau đã chạy đến ôm lấy em mình. Giống như tình trạng thù địch trong 20 đã bị cuốn trôi đi rồi vậy.
Rêbeca đã nói đúng. Bà đã nói cho Giacốp biết khi ông rời khỏi Bêe Sêba rằng cơn giận của Êsau chắc chắn sẽ nguôi đi. Bà biết rõ hai đứa con trai của bà, có phải không? Giống như một quả núi lửa sau khi đã phun rồi, Êsau đã nguội dần đi, rồi tự lo liệu cuộc sống cho chính mình, và theo sáng kiến của riêng mình, ông đã quyết định tha thứ cho Giacốp.
Thật là trớ trêu! Trong suốt những năm tháng Giacốp sống trong nổi sợ chết chóc khi gặp gỡ anh mình. Cũng thời gian đó, Đức Chúa Trời đã làm việc trong tấm lòng của Êsau, dẫn đưa ông tới chỗ tha thứ. Trong khi Giacốp lo sợ anh mình, Êsau không thể chờ đợi để gặp gỡ Giacốp.
Ơn tha thứ được ban ra — chớ không phải kiếm được đâu
Sau khi Giacốp trình gia đình mình với Êsau (5-7), Êsau hỏi lý do tại sao Giacốp lại gửi bầy thú vật cho ông. Câu trả lời của Giacốp là chơn thật: “Ấy để nhờ ơn trước mặt chúa tôi” (8). Nhưng, Êsau nói: “Hỡi em! anh đã được đủ rồi; vậy, hãy lấy lại vật chi của em đi” (9). Câu đáp của Giacốp có tính cách thông báo: “Xin anh, không. Nếu em được ơn trước mặt anh, hãy nhận lấy lễ vật bởi tay em làm ra đi; vì em thấy được mặt anh khác nào người ta thấy được mặt Đức Chúa Trời, và anh đã đẹp lòng tiếp rước em. Xin anh hãy nhận lấy lễ vật em đã dâng cho anh, vì Đức Chúa Trời cho em đầy dẫy ân huệ, và em có đủ hết. Người nài xin Ê-sau quá đến đỗi phải chịu nhận lấy” (10-11). Phân đoạn Kinh thánh nói thêm rằng Êsau đã tiếp nhận lễ vật chỉ vì Giacốp đã khăng khăng.
Bạn có thấy sự khác biệt giữa Giacốp và Êsau không? Ở một mức độ nào đó, Giacốp vẫn ra sức tìm kiếm ơn tha thứ. Ông gửi các bầy gia súc để “được ơn” trước mắt Êsau. Nhưng giờ đây, ông nhìn biết rằng bạn không dâng một lễ vật để kiếm được ơn tha thứ, nhưng là một phần đáp ứng với ơn tha thứ rời rộng đã được ban cho bạn. Điều đó nghe giống như là trò chơi chữ, nhưng sự khác biệt rất là quan trọng. Trong một trường hợp, bạn dâng để được nhận lãnh. Nói khác đi, bạn dâng vì bạn trước tiên đã nhận lãnh.
Ơn tha thứ luôn luôn là một ơn rời rộng. Nếu ơn ấy không rời rộng, thì đấy chẳng là ơn tha thứ nữa.
Tôi dừng lại để đưa ra một lời lưu ý. Trong chương nầy, Êsau trông tốt đẹp hơn Giacốp. Đấy là cú sốc trong câu chuyện nầy. Ở từng điểm một, Êsau dường như sẵn sàng để tha thứ hơn là Giacốp sẽ được tha thứ. Giacốp trông và hành động giống như một người có tội vậy. Trong khi Giacốp sấp mình xuống đất, Êsau là người chạy đến gặp ông. Trong khi Giacốp gọi ông là: “chúa tôi”, Êsau vòng hai cánh tay mình qua cổ ông. Trong khi Giacốp đẩy các lễ vật dúi vào ông, Êsau mời mọc Giacốp đến nhà của ông ấy.
Người nào là con trai của lời hứa? Giacốp.
Ai là người được Đức Chúa Trời lựa chọn? Giacốp.
Người nào nhìn biết Đức Chúa Trời? Giacốp.
Thế mà chính Êsau — người con của thế gian — là người sẵn sàng, bằng lòng và sốt sắng tha thứ. Ông bằng lòng tha thứ cho Giacốp hơn là Giacốp muốn được tha thứ nữa. Trong trường hợp nầy, kẻ bị xúc phạm đã bằng lòng tha thứ cho tội nhân hơn là tội nhân muốn được tha thứ nữa.
Một lời nói dối sau cùng
Suốt cả đêm, Êsau đáng phải sôi giận lên. Nhưng ông không giận như thế. Còn Giacốp đã có một thời gian khó xử với sự việc thể ấy. Khi bạn đến với phần cuối của câu chuyện (33:12-17), Êsau nài xin Giacốp đến với ông tại nhà riêng ở Sê-i-rơ. Giacốp ngần ngại đồng ý và hứa đi theo Êsau đến đó. Nhưng khi thời điểm đến, Giacốp đi về hướng Tây đến Sucốt trong khi Êsau đi về phía Nam đến Sê-i-rơ.
Điều chi đang diễn tiến ở đây vậy? Bản chất cũ của Giacốp lại xuất hiện ra ngoài mặt và khiến ông phải nói dối Êsau thêm một lần nữa. Hãy suy nghĩ về việc ấy. Ngay sau khi được tha thứ … và sau khi hoà giải rồi … sau khi lễ vật được nhậm … rồi những cái ôm hôn và những giọt nước mắt … ngay sau khi mọi chuyện đều được xếp lại … sau hết mọi sự ấy, và với động lực tốt nhứt trong mọi động lực, Giacốp vẫn không thể tin rằng mọi sự đều suông sẻ giữa ông và anh mình. Vì vậy, ông thốt ra lời nói dối sau cùng, rồi đi đường riêng mình.
Hòa giải rất là khó
Có phải điều nầy làm giảm sút sự hòa giải ở giữa họ không? Không dám đâu. Đơn thuần thì hiển nhiên sự hòa giải vốn khó khăn là dường nào trong cái thế giới thực nầy. 20 năm phân cách đã tước đi nhiều điều nơi họ, và đã tạo ra những dị biệt về văn hóa cùng khoảng cách tình cảm không thể một sớm một chiều mà vượt qua được. Có lẽ Giacốp sợ rằng khi đi đến nhà của Êsau, ông sẽ rơi vào chỗ phục hồi lại sự đối đầu của họ. Có lẽ ông sẽ bị thổi bay đi bởi sự rời rộng của Êsau và chắc là không biết phải xử lý thế nào với việc ấy. Thực ra, có một số người chúng ta có thể làm bạn với tốt hơn nếu chúng ta không thường xuyên gặp gỡ họ. Và có một số thành viên trong gia đình chúng ta sẽ yêu thương nhiều hơn nếu chúng ta không gặp họ cả năm một lần.
Nói như thế không phải là biện minh cho việc nói dối, nhưng nó đặt mọi hành động của Giacốp vào viễn cảnh thích ứng. Hòa giải là có thật, tha thứ đã được ban ra và đã được nhận lãnh, quan hệ được phục hồi, nhưng trong bản chất của những sự việc, Giacốp và Êsau không thể cho đồng hồ chạy ngược giống như thể chẳng có việc gì đã xảy ra được.
Minh chứng sau cùng nói tới sự thành thực của Giacốp là cái bàn thờ mà ông dựng lên khi ông đến tại Sucốt (33:18-20). Ở đó ông thờ lạy Đức Chúa Trời, ngợi khen Ngài vì sự nhơn từ Ngài khi đưa ông về lại quê nhà vào lúc sau cùng và phục hồi lại mối quan hệ của ông với Êsau.
Bốn bài học sau cùng về ơn tha thứ
Chúng ta hãy tóm tắt bốn trong những bài học chính về ơn tha thứ trong Sáng thế ký 32-33:
1. Đôi khi được tha thứ còn khó hơn là tha thứ.
2. Nhận lãnh ơn tha thứ đòi hỏi sự hạ mình sâu sắc và lòng dạn dĩ to lớn.
3. Bao lâu chúng ta còn sống trong sợ hãi, chúng ta không thể tha thứ hay đáng được tha thứ.
4. Chữa lành bắt đầu khi chúng ta xưng ra tội lỗi mình và nhận lãnh ơn tha thứ của Đức Chúa Trời.
Sự chữa lành có khả thi không? Có đấy.
Có khó không? Có đấy.
Liệu nó sẽ làm thay đổi quá khứ? Không.
Sự tha thứ sẽ làm gì? Nó buông tha chúng ta ra khỏi quá khứ để chúng ta có thể chuyển hướng vào tương lai.
Đâu là phần khó nhất liên quan đến việc được tha thứ? Tin chắc rằng sự tha thứ là khả thi.
“Cột tấm vải trắng vào thân cây sồi”
Có lẽ bạn đã nghe kể về chàng thanh niên kia đã phạm tội trọng, và giống như Người Con Trai Hoang Đàng, đã rời khỏi nhà mà đi xa xứ. Trong nhiều tháng trời, chàng thanh niên ấy đã chạy theo con đường tội lỗi bất cứ đâu nó dẫn anh ta đi tới. Không một việc tà ác nào mà anh ta chẳng phạm. Anh ta đã phạm từng tội lỗi ghi trong sách và đã phá vỡ 10 Điều Răn. Anh ta chưa hề viết một lá thư nào về cho bố mẹ mình. Họ không biết là anh ta còn sống hay đã chết nữa.
Ngày đến, khi anh ta nhận ra mình là kẻ dại dột. Với ao ước muốn được tha thứ, anh ta đã viết một lá thư gửi cho cha mình, rằng: “Cha ơi, nếu cha muốn con quay về, con sẵn sàng về đến nhà nhưng con sợ cha không tiếp đón con. Con sẽ ngồi trên xe lửa ngày thứ Ba tới đây. Nếu cha bằng lòng tha thứ con, khi xe lửa chạy ngang qua nhà mình, hãy cột mảnh vải màu trắng trên cây sồi ở trước sân. Khi con nhìn thấy mảnh vải trắng, con sẽ biết cha bằng lòng muốn con trở về. Nếu con không nhìn thấy nó, con sẽ ngồi luôn trên xe lửa rồi cứ đi tới mãi”. Người cha hồi báo: “Kìa con, hãy trở về đi Ta sẽ chờ đợi con”. Nhưng người con không tin cha mình.
Khi thứ Ba đến, anh ta lên xe lửa, đầy dẫy với nổi sợ, tự hỏi rằng cha mình sẽ làm gì chứ? Khi xe lửa đến gần, anh ta nói với người ngồi kế bên: “Tôi không thể với nhìn ra cửa sổ được. Khi chúng ta đến gần ngôi nhà màu trắng cạnh khúc cua kia, hãy nói cho tôi biết ông có nhìn thấy mảnh vải trắng treo trên cây sồi đó không nhé!” Người con cúi đầu xuống rồi chờ đợi. Khi xe lửa đi ngang qua ngôi nhà, người con ngẩn đầu lên và nói: “Ông ơi, ông có thấy gì không? Có mảnh vải trắng treo trên cây không?” Người kia đáp: “Tôi không nhìn thấy cây nào hết. Nó hoàn toàn bị phủ lấy với tấm vải màu trắng kìa”.
Thường thì người khác bằng lòng tha thứ hơn là chúng ta cần được tha thứ. Nhiều người sống nhiều năm trời trong các mối quan hệ tan vỡ vì họ không thể tin rằng tha thứ là khả thi. Việc khó nhất bạn từng phải làm là đến với ai đó rồi nói: “Tôi đã sai rồi. Ông có tha thứ cho tôi không?” Không có gì phải lo sợ cả, vì — giống như Giacốp — chúng ta lo sợ những gì người khác sẽ nói hay làm. Chúng ta sợ rằng nếu chúng ta đi ra khập khiễng, những người chúng ta gây tổn thương sẽ không tha thứ cho chúng ta. Bức tường tẻ tách chúng ta — thường xuyên là vậy — là thái độ chúng ta không bằng lòng được tha thứ.
Nhu cần lớn lao nhất của bạn
Tôi kết thúc với một lời của Tin Lành. Nhu cần lớn lao nhất của bạn là sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Tôi vui sướng nói cho bạn biết rằng cây cối trên thiên đàng được khoác lấy bằng tấm vải trắng kia kìa. Đức Chúa Trời phán: “Nếu ngươi sẵn sàng, ngươi có thể về quê nhà. Nếu ngươi thấm mệt vì cớ tội lỗi, ngươi có thể để tha. Nếu ngươi thấm mệt vì ăn thức ăn thừa của ma quỉ, có một chỗ cho ngươi nơi bàn ăn tối của ta kìa”.
Có rất nhiều người bị xiềng xích với quá khứ, và tên của gã cai ngục là Sợ Hãi. Còn Những Tin Tức Tốt Lành! Chúa Jêsus có chiếc chìa khóa mở cửa vào trong sự tự do. Nếu bạn bằng lòng muốn được tha thứ, Chúa Jêsus có thể buông tha cho bạn được tự do.
Câu hỏi: Có phải bạn bằng lòng muốn được tha thứ không? Cho tới chừng nào câu trả lời là Muốn, bạn sẽ còn bị xiềng xích với quá khứ. Nhưng khi nào bạn bằng lòng với cả hai: tha thứ và được tha thứ, sự chữa lành mới có thể khởi sự.
Lạy Cha ở trên trời, chúng ta cần chức vụ của Thánh Linh Ngài dường bao ngay lúc bây giờ. Một số người trong chúng con mãi lo ơn tha thứ không còn nữa — quá lo mình không được tha, quá tội lỗi không đáng được tha thứ. Thay vì liều bị chối bỏ thêm một lần nữa, chúng con cứ mãi bám trụ. Thay vì thế chúng con lại phạm tội nhiều hơn là đáng được tha thứ. Nguyện Đức Chúa Trời tha thứ cho chúng con vì chọn sống xiềng xích với quá khứ. Xin ban cho chúng con lòng can đảm và sự hạ mình sâu sắc cả hai: tha thứ và muốn được tha thứ. Nguyện các bức tường phân cách chúng ta sẽ bị hạ xuống bởi quyền phép yêu thương của Chúa Jêsus. Amen.