Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Rối Rắm Ở Âu Châu


Rối Rắm Ở Âu Châu:
Đề Ra Bối Cảnh Cho Sự Ứng Nghiệm Lời Tiên Tri
Tác giả John Ross Schroeder

(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford, OH 45150)

Năm 1933, Winston Churchill đã cảnh cáo: "Không ai có thể quan sát mọi sự kiện đang diễn ra ở nước Đức mà không tăng thêm nổi lo sợ về hậu quả mà họ sẽ nhận lấy". Với một cuộc khủng hoảng kinh tế đang hành hại khu vực châu Âu, liệu lịch sử rối rắm của Bá linh tự nó lặp lại không? Đâu là số phận của nước Đức? Có phải lời tiên tri trong Kinh thánh cung ứng cho chúng ta bất kỳ một hàm ý nào về chỗ mà các biến động của châu Âu đang dẫn tới không?
Nhà văn người Anh John Stott đã tóm lược nhiều suy nghĩ như sau: "Hầu hết chúng ta đều cảm thấy mất tinh thần bởi thảm kịch đau lòng của thế giới hỗn loạn nầy. Sự tồn sinh của chúng ta đang ở trong chỗ hồ nghi. Người công dân bình thường cảm thấy mình là nạn nhân bất lực của mạng lưới chính trị đầy rắc rối, hay mình chỉ là một đơn vị vô danh trong cổ máy xã hội hiện đại" (Basic Christianity, 2008, p. 152).
Sứ đồ Phaolô đã báo trước mọi điều kiện sẽ ra như thế nầy trong những ngày sau rốt của kỷ nguyên con người nầy (II Timothê 3:1-5). Đấy là lý do tại sao mọi bài viết của chúng tôi về khu vực, về thế giới hoàn toàn tập trung vào các tin tức tốt lành được bảo đảm bởi những lời tiên tri trong Kinh thánh.
Nhưng bản thân Kinh thánh nói rõ ràng rằng những sự tàn phá rộng lớn sẽ đến trước thế giới kỳ diệu hầu đến mà dòng giống con người chưa hề nhìn thấy trước đây bao giờ (xem Mathiơ 24:21-22; Đaniên 12:1; Giêrêmi 30:7). Tình trạng thế gian sẽ khốc liệt đến nỗi sự tồn sinh của con người sẽ ở trong chỗ bị đe dọa!
Dòng tin tức tiêu đề của chúng ta chỉ ra rằng những lời tiên tri được viết ra trong Kinh thánh cách đây nhiều thế kỷ giờ đây đang sắp sửa ứng nghiệm theo một phương thức rất lớn. Không một chỗ nào thực hơn Trung Âu và Trung đông. Bài viết nầy nhắm vào châu Âu (mặc dù bạn có thể kiếm được một sự hiểu biết về vai trò có tính tiên tri của khu vực khác bằng cách đọc quyển The Middle East in Bible Prophecy và articles about Israel and the Middle East xuất hiện đều đặn trong tạp chí nầy).
Lời tiên tri trong Kinh thánh cho chúng ta biết gì về tương lai của châu Âu? Những sách trong Kinh thánh là Đaniên và Khải huyền, cả hai đều cho thấy rằng một siêu cường mới, độc tài sẽ nổi lên vào thời kỳ sau rốt, tập trung ở châu Âu. Trong bài viết nầy, chúng ta sẽ thấy sân khấu hiển nhiên đã được bày ra cho sự ứng nghiệm các lời tiên tri nầy.
Châu Âu trong vai trò một thực thể thống nhất
Châu Âu là vai chính trong nền kinh tế toàn cầu. Bất chấp mọi trao đổi về nền kinh tế của Hoa kỳ và Trung hoa, Liên Minh Châu Âu (EU) là khu vực quyền lực kinh tế giàu có nhất và rộng lớn nhất trên thế giới.
Châu Âu cũng là bãi chiến trường cho vô số cuộc chiến trong thiên niên kỷ và là điểm nóng cho hai cuộc thế chiến đầy tàn phá trong nửa đầu của thập niên 1900. Ở trọng tâm của hai cuộc thế chiến đó để kiểm soát châu Âu là nước Đức, giờ đây về mặt kinh tế và chính trị đã bị nhận chìm với các quốc gia Âu châu khác trong việc tìm kiếm một Hiệp Chủng Quốc ở Âu châu.
Cơ quan dự báo chiến lược tình báo toàn cầu, bây giờ được biết là Stratfor, được nể vì do phần phân tích của nó về các xu hướng khu vực và toàn cầu. Cách đây mấy tháng, cơ quan nầy đã lưu ý rằng "tương lai của Âu châu [được] gắn với tiến trình đưa ra quyết định ở nước Đức""Âu châu không thể hoạt động như một thực thể thống nhất trừ phi có ai đó đang nắm lấy quyền kiểm soát".
Cơ quan nầy tiếp tục giải thích rằng "trong hiện tại, Đức là nước duy nhứt với nền kinh tế rộng lớn và dân số đủ để đạt được quyền kiểm soát đó" ("Germany's Choice: Part 2," July 26, 2011). Trong mấy tháng gần đây, chúng ta đã nhìn thấy điều nầy được chứng tỏ nhiều lần khi nước Đức đã tự định vị mình — đôi khi công khai, có lúc ở đàng sau hậu trường — để đi đầu trong định hướng tương lai cho châu Âu.
Hiện nay, hai bối cảnh cơ bản tồn tại cho tương lai của châu Âu. Một kịch bản phổ biến nhất, nó nhận định rằng thế hệ người Đức hiện tại đã trở thành người bảo vệ trung thành cho quyền tự do và dân chủ, họ nhận thức đầy đủ về các mối nguy hiểm lặp lại lịch sử đầy rối rắm của Bálinh trong nửa đầu thế kỷ thứ 20 — khi mọi tham vọng của nó hai lần dẫn tới các cuộc thế chiến.
Quan điểm thứ hai, ấy là cuộc khủng hoảng đồng euro đang kéo dài, ban đầu được thôi thúc bởi trốn nợ của Hy lạp, nhưng rồi sẽ lan nhanh đến các nền kinh tế đầy rối rắm khác ở châu Âu, hiển nhiên sẽ kết quả trong sự xuất hiện của một cường quốc kinh tế có thể bước vào và giải quyết cơn khủng hoảng — một đế chế được lãnh đạo bởi nước Đức.
Những người ủng hộ sự hình thành các xu hướng trong hiện tại nầy, họ tin rằng các nước ở miền Nam Âu châu được dự kiến sẽ ở dưới ngón tay cái của Bá linh và, trong cuộc chạy đường dài đó, ngay cả những gói cứu trợ khỗng lồ của Đức sẽ phát sinh cái giá rất là lớn. Nói khác đi, nước Đức sẽ thành công trong việc đạt được qua sức mạnh kinh tế của nó những gì không thành công trong việc thâu tóm qua sức mạnh quân sự hai lần trong thế kỷ vừa qua.
Có phải lịch sử và Kinh thánh chỉ ra quan điểm nào chắc chắn sẽ thắng thế?
"Mọi chuyện đều quy về nước Đức"
Hai cuộc thế chiến được khởi sự bởi nước Đức thường chi phối những suy nghĩ đáng lo âu thời hậu chiến của các quốc gia Âu châu khác. Năm 1997, khi ấy Tổng thống Pháp Valery Giscard d'Estaing cảnh báo rằng thất bại trong mọi nổ lực để hội nhập châu Âu về mặt kinh tế (dẫn tới đồng euro ngày nay) sẽ dẫn tới "ảnh hưởng vượt trội của nước Đức" trong các vụ việc của người châu Âu (Celestine Bohlen, "Euro Unity? It's Germany That Matters," The New York Times, March 9, 2010).
Một lý do cơ bản của các quốc gia châu Âu khác trong các thập niên mới đây là bao lấy nước Đức trong Liên Minh Châu Âu để ngăn chặn xu hướng dân tộc chủ nghĩa nổi tiếng trước đây không còn đe dọa chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ nữa. Đây là một động thái mạnh mẽ nằm ở đàng sau sự lèo lái về hội nhập châu Âu thành một châu Âu thống nhất vĩnh viễn.
Nhưng chiến lược nầy có thực sự tác động y như đã được trông mong trong cuộc chạy đường dài, sau khi xem xét các dân tộc và văn hóa khác nhau của Âu châu? Với Âu châu đang đối diện với một cuộc khủng hoảng đau đớn và chia rẻ về kinh tế, liệu Bá linh có chắc nắm lấy quyền điều khiển các sinh hoạt của Liên minh châu Âu được không?
Có vẻ như giải đáp giờ đây ngày càng rõ nét hơn rồi. Bài viết được kể ra trên đây cho rằng: "Mười năm sau khi có đồng euro, mọi chuyện đều quy về nước Đức, không phải là cách thức mà nước ấy dự tính sẽ trở thành . . . Tổng thống Nicolas Sarkozy của Pháp có thể đến và cam kết mọi hổ trợ cho Hylạp mà ông mong muốn, song đến cuối cùng, chính nước Đức mới là vấn đề" (ibid).
Tạp chí Newsweek mới đây đã chỉ ra: "Ai là nước thụ hưởng lớn nhất về sự tồn tại của đồng euro? Câu trả lời là nước Đức . . . Phần còn lại của khu vực đồng euro hấp thụ 40% xuất khẩu của nước Đức. . ." (John Eatwell, "Euro Vision," Sept. 5, 2011).
Báo cáo của Stratfor trước đó cũng đã ghi nhận: "Bất chấp mọi lỗ hỗng của nó, hệ thống hiện đang quản lý châu Âu đã chấp nhận sự giàu có về kinh tế của nước Đức trong phạm vi toàn cầu mà không trả giá một sinh mạnh người Đức nào cả. So với những kinh khiếp của Đệ II Thế Chiến, đây không phải là một thứ bị xem là thừa thải. Không một quốc gia nào ở châu Âu hưởng lợi từ khu vực đồng euro hơn nước Đức. Đối với tầng lớp người Đức, khu vực đồng euro là một phương tiện dễ dàng để biến nước Đức thành một vấn đề trên sân khấu toàn cầu mà không có loại phục hưng quân sự tạo ra kinh hoàng trên khắp châu Âu và Liên Bang Sô Viết trước kia. Và nó cũng làm cho người Đức trở nên giàu có".
Chuyển sang nắm lấy quyền kiểm soát
Nước Đức rõ ràng đang tiến hành các bước để nắm lấy quyền kiểm soát trong cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay. Báo cáo Stratfor cũng lưu ý rằng nước Đức cần có một thời gian dài để nắm lấy cái ghế lãnh đạo châu Âu, không còn lâu nữa đâu.
Với cuộc khủng hoảng kinh tế đang lan rộng giữa vòng các quốc gia thuộc miền Nam châu Âu, nước Đức là quyền lực người Âu duy nhứt với cơ bắp tài chính đủ để giải cứu họ — và đã âm thầm chuyển mình ở đàng sau hậu trường để tự họ ngồi lên cái ghế có quyền lèo lái kia.
Nước Đức đã tạo ra một cơ chế cứu trợ mới, như cơ quan Strafor lưu ý: "nhận lịnh lạc từ nước Đức. Cơ chế nầy chưa được ghi nhận trong các hiệp ước của EU; thay vì thế, chính một ngân hàng tư, giám đốc của ngân hàng nầy là người Đức . . . Để nhận được tiền, là chỉ cần làm theo bất cứ điều chi người Đức — viên quản lý ngân sách — muốn. . .”
"Chấp nhận EFSF [Cơ quan hổ trợ an toàn về tài chính châu Âu] [European Financial Security Facility] tài trợ có nghĩa là chấp nhận đem quyền tự quản về tài chính phục theo các quan chức người Đức trong EFSF. Còn bây giờ, như thế có nghĩa là chấp nhận các chương trình thắt lưng buộc bụng do người Đức vạch ra, nhưng chẳng có gì buộc người Đức phải hạn chế mọi điều kiện của họ đối với tài chính/công khố”.
"Đối với các mục tiêu thực tiễn, chương kế đó của lịch sử giờ đây đã mở ra ở châu Âu. Bất kể mọi dự tính, nước Đức vừa trải qua một sự phát triển quan trọng trong khả năng ảnh hưởng các thành viên EU của nó — đặc biệt những quốc giá nào đang kinh nghiệm mọi rối rắm về tài chính. Nước Đức có thể dễ dàng chiếm đoạt lượng to lớn chủ quyền quốc gia.
"Thay vì hạn chế tiềm năng địa lý chính trị của nước Đức, Liên minh Châu Âu giờ đây lại nâng cấp nó; nước Đức đang ở trên bờ vực một lần nữa trở thành một siêu cường quan trọng. Điều nầy không có nghĩa là một sự tái sinh của [lực lượng quân sự] Wehrmacht là sắp xảy ra, nhưng sự tái nổi bật của nước Đức đang buộc người ta phải suy nghĩ lại về cấu trúc châu Âu và Á Âu".
"Một cơ hội thực sự để đạt được một liên minh chính trị ở châu Âu"
Tạp chí Anh quốc The Economist mới đây lưu ý: "Thình lình . . . Bálinh đang rộn ràng trao đổi về việc tái lập lại Liên Minh Châu Âu: phát hành mối ràng buộc đồng euro, đám phán lại các hiệp ước của EU, thậm chí tạo nên một liên bang Âu châu" ("Germany's Euro Question," Sept. 10, 2011).
Việc thiết kế lại các tổ chức Liên Minh Châu Âu thình lình trở thành cơn thạnh nộ tại nước Đức!
Về mối quan tâm đặc biệt là sự phục hồi thể chế liên bang. Tờ Economist nói tiếp: "Các nhà liên bang Đức Euro đã thức giấc sau một giấc ngủ vùi thật lâu. Cho nên, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi Joschka Fischer, nhà chính khách Hylạp cao tuổi [ông từng là bộ trưởng ngoại giao và phó Thủ tướng dưới thời Cựu Thủ tướng Đức Gerhard Schroeder], đã kêu gọi thành lập 'Hiệp Chủng Quốc Châu Âu'"
Theo một bài viết của hảng thông tấn Reuters vào ngày 4 tháng 9 năm 2011, chính ông Schroeder cũng kêu gọi việc dựng nên một “Hiệp Chủng Quốc Âu Châu", ông nói: "Cuộc khủng hoảng không ngừng nghỉ hiện nay cho thấy rõ ràng là chúng ta không thể có một khu vực tiền tệ chung mà không có một nền ngân khố chung, chính sách xã hội và kinh tế chung . . . Chúng ta sẽ phải từ bỏ chủ quyền quốc gia . . . và như thế có nghĩa là Hiệp Chủng Quốc Châu Âu ... Trong cuộc khủng hoảng đang ẩn tàng một cơ hội thực sự để đạt được một sự thống nhất về chính trị ở châu Âu".
Mạnh và yếu trong các nước sử dụng đồng euro
Theo tờ Wall Street: "Phòng thống kê Hylạp cho biết nền kinh tế sút giảm 7,3% trong quí II, tụt giảm so với ước tính ban đầu 6,9% tháng vừa qua. Nền kinh tế Hylạp đã ký hợp đồng trong ba năm" ("Greece Slips Further," Sept. 9-11, 2011).
Mới đây, Athens chỉ mới mấy tuần phát hành đồng euro thì đối mặt với một món nợ quan trọng. Trong phần đáp ứng, chính phủ Hylạp đã hứa sẽ đánh thuế tài sản hầu giải quyết tình trạng thiếu hụt 2 tỉ euro. Nhưng liệu biện pháp nầy sẽ làm cho nhiều công dân Hylạp xuống đường, bày tỏ phản kháng và nổi loạn? Một số quan sát viên vẫn cảm thấy một Hylạp thiếu hụt là không thể tránh được.
Các cuộc thảo luận với các quan chức EU và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế mới đây đã bị phá vỡ về các khoản vay nợ của Hylạp, họ cần phải tránh sự sụp đổ về kinh tế. Một vài quốc gia khác thuộc miền Nam châu Âu chỉ khá hơn một chút so với Hylạp.
Bài báo Newsweek kể ra tình trạng trên: "toàn bộ các khoản nợ công của Hylạp, Bồ đào Nha, và Ái nhĩ Lan chưa tới 5% nợ khu vực đồng euro", tuy nhiên toàn bộ khu vực đồng euro có thể bị lay động nghiêm trọng do các nan đề nợ nần của họ? Rõ ràng điều nầy chỉ ra các lỗ hỗng lớn về cấu trúc theo cách thức đồng euro được thiết kế lúc ban đầu như một loại tiền tệ mới bắt đầu vào đầu năm 1999.
Có lẽ điều nầy có một số lý do, ngay trước khi thiết lập quyền tể trị trong tương lai của Đức Chúa Jêsus Christ trên đất, Kinh thánh nói tới một siêu cường lấy châu Âu làm trung tâm, ở đó các quốc gia được mô tả theo cách biểu tượng là sắt lộn với đất sét: "nửa mạnh nửa giòn" (xem Đaniên 2:40-44).
Tương lai đầy rối rắm của Châu Âu
Chế độ Quốc Xã của Hitler (1933-1945) được hình thành khả thi là do cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở Đức trong cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930. Dưới các điều kiện kinh tế bình thường, phátxít Đức có thể không bao giờ nắm lấy được quyền lực. Tất nhiên, ngày nay các chi tiết rất khác biệt. Vì vậy, không phải Bálinh đang kinh nghiệm cuộc khủng hoảng kinh tế, mà là các quốc gia khác thuộc khu vực đồng euro, chủ yếu ở miền Nam châu Âu. Nước Đức vẫn là chủ động chính của châu Âu. Nhưng sẽ có những hậu quả về tài chính cho nước Đức.
Ngày nay, các quốc gia trong Liên minh Châu Âu đang kinh nghiệm những dị biệt trầm trọng về chính trị và một cấp độ rắc rối về tình trạng phiền hà và mất đoàn kết phù hợp với các nan đề về kinh tế. Lời tiên tri trong Kinh thánh chỉ ra rằng Liên Minh Châu Âu sẽ không tiếp tục trong hình thức hiện tại được.
Một số thành viên có thể chọn rút ra khỏi EU, hay có lẽ bị buộc phải rút ra như đã được nói trước thực thể phải hình thành trong kỳ sau rốt (thí dụ, Anh quốc thường bất hòa với Liên Minh Châu Âu hầu như từ khi thành hình vào năm 1958).
Cuối cùng thì có một châu Âu mới và đầy quyền lực, được gán nhãn theo biểu tượng là "con thú", sẽ làm kinh ngạc cả thế giới đều không ngờ. Một khối áp đặt các nước sẽ kết hợp lại như một sự phục hưng sau cùng của Đế quốc Lamã cổ đại (Khải huyền 13:1-8; 17:8-18; Đaniên 2:37-45; 7:15-27).
Mười quốc gia thành viên (hay nhóm các nước) sẽ từ bỏ chủ quyền quốc gia của họ để trở thành chi thể của siêu cường đáng kinh ngạc nầy trong kỳ tận thế. "Chúng cũng một lòng một ý trao thế lực quyền phép mình cho con thú" (Khải huyền 17:13).
Những biến cố đáng lo ngại nầy sẽ ảnh hưởng cả thế giới — kể cả việc đề ra bối cảnh cho thời kỳ nguy hiểm nhiều tàn phá, trong đó sự tiêu diệt con người sẽ xảy ra mà không có sự can thiệp của Đức Chúa Trời (Mathiơ 24:21-22). Kể từ khi mọi sự mà lời tiên tri trong Kinh thánh nói trước chắc chắn phải xảy ra, chúng ta hết thảy phải ấp ủ lời của sứ đồ Phierơ. Ông đã nói theo ánh sáng tình trạng tạm thời của thế gian ở xung quanh chúng ta: "Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tin kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào?" (II Phierơ 3:11).
Khi nhìn thấy bối cảnh đề ra cho sự ứng nghiệm các lời tiên tri trong kỳ tận thế sẽ tác động vào mỗi một người, chúng ta phải xét lại tình trạng thuộc linh của mình theo ánh sáng Lời của Đức Chúa Trời. Một sự hiểu biết lời tiên tri sẽ dẫn chúng ta đến với sự ăn năn và hiến đời sống của chúng ta vào việc tìm kiếm Đức Chúa Trời và hầu việc Ngài. Chỉ kiến thức sơ sài về Kinh thánh thì không đủ đâu!
Đức Chúa Jêsus Christ nói cho chúng ta biết ở Luca 21:36: "Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người"!
Học biết thêm…
Bài viết nầy đã đề cập đến những điểm nổi bật mà lời tiên tri trong Kinh thánh nói trước phải xảy đến ở châu Âu. Để hiểu rõ tầm quan trọng bức tranh tiên tri, hãy xin hoặc tải các quyển You Can Understand Bible Prophecy Are We Living in the Time of the End?

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Hai Nhân Vật Dũng Cảm: Vua David và Winston Churchill


Hai Nhân Vật Dũng Cảm:
Vua David và Winston Churchill
Tác giả Amanda Stiver

(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford, OH 14550)

Kinh thánh và lịch sử mới đây hiến cho nhiều bài học về lòng can đảm và chức vụ lãnh đạo khôn khéo từ hai nhân vật can đảm cách nhau ba thiên niên kỷ.

Hãy tưởng tượng một người đứng bảo vệ xứ sở mình chống lại mọi thách thức, có khi thất bại nhưng thường thì chiến thắng. Một người biết rõ mình sẽ làm vua từ tuổi niên thiếu nhưng đã trung thành phục vụ một lãnh tụ có lòng thù nghịch cho tới chừng người ấy có thể đòi lấy ngai vàng.
Bây giờ, hãy hình dung một người khác, khoảng 30 thế kỷ sau, người nầy đối mặt với sự đảo ngược rất lớn về số phận cho tới khi vai trò lãnh đạo quốc gia được dành hiến cho ông ta. Một người đã đối mặt với các nhân vật phản diện tồi tệ nhất trong lịch sử. Một người đã sử dụng lòng can đảm rất lớn của chính mình và là người lãnh đạo, ông phát triển tài năng của những người xung quanh ông trong việc tìm cách đánh thắng một trận sinh tử hầu cứu lấy xứ sở của mình.
Chúng ta biết hai nhân vật cao trọng nầy là Vua David của Israel ngày xưa và Sir Winston Churchill, Thủ tướng của Anh quốc trong suốt Đệ II Thế Chiến. Nhưng hãy cho phép tôi giới thiệu lại cho bạn biết khi chúng ta rút tỉa một số bài học mạnh mẽ từ đời sống nổi tiếng của họ. Chúng ta sẽ xem xét trước tiên về Thủ tướng Winston Churchill.
Lãnh Tụ của nhiều người
Winston Churchill chỉ huy bộ máy quân sự của người Anh gần như đã đẩy lùi cơn sóng thần sức mạnh Phátxít trong suốt những năm đầu của Đệ II Thế Chiến đe dọa nuốt chửng lấy Anh quốc cùng các đồng minh của nó. Chúng ta thường nghe thấy người ta nói tới ông, song chúng ta thực sự nhìn biết ông ở tầm cỡ nào?
Churchill chào đời trong xã hội cao cấp của người Anh vào cuối thập niên 1800. Mẹ ông là Jennie Jerome, một người Mỹ giàu có, và cha ông là Huân tước Randolph Churchill của Điện Marlborough. Chàng thanh niên Winston lớn lên với vẻ điển trai bề ngoài — và thường yếu đuối nơi người bề trong — xã hội thượng lưu của nữ hoàng Victoria, ở đó trẻ con hiếm khi gặp gỡ bố mẹ chúng, được bảo mẫu nuôi dạy trong những ngôi nhà đồ sộ với nhiều khu đất bao quanh.
Là đứa trẻ sớm phát triển, Churchill từng bị các bạn gài bẫy trên cầu trong một trò chơi đuổi bắt. Thay vì chịu thua, ông đã chọn nhảy xuống cây cầu đó, một quyết định nguy hiểm gần mất mạng sống của ông. Về sau, khi là một thanh niên, ông đã tập trung hết can đảm rồi liều mạng mình trốn khỏi một trại tù binh ở Nam Phi trong cuộc chiến tranh Boer thứ nhì (1899-1902). Sau khi an toàn, ông đã quay lại khu vực chiến tranh.
Cuối cùng, là Thủ tướng trong suốt Đệ II Thế Chiến, ông đã can đảm đối mặt với Adolf Hitler và cổ máy chiến tranh Phátxít. Các bài diễn văn chủ động đầy quyền lực rất nổi tiếng của ông với phong cách kích thích toàn bộ nước Anh và về sau các đồng minh của Anh quốc thành một lực lượng chiến đấu chống cự lại toàn bộ cảnh bạo lực mà Đức Quốc Xã đã ném vào họ.
Một lãnh tụ dưới quyền Đức Chúa Trời
Vua David là một vị vua hùng mạnh của người Do thái xưa kia, và chúng ta nhớ đến ông là sát thủ của gã khổng lồ Gôliát người Philitin. Nhưng chúng ta còn nhớ điều chi khác nữa về ông chăng?
David là con trai thứ tám của Giesê, một điền chủ giàu có từ thành Bếtlêhem trong khu vực thuộc chi phái Giuđa — Giuđa là một trong 12 chi phái của dân tộc Do thái. David đến tuổi thành niên ngay sau khi Israel chối bỏ không nhận Đức Chúa Trời đời đời là Vua tối thượng của họ. Dân sự đòi phải có một người lên làm vua (1 Samuên 8), và vì thế Đức Chúa Trời đã ban Saulơ cho họ, ông là một người đầy sai lầm, dưới quyền ông David đã gánh chịu nhiều nhọc nhằn.
Thời thanh niên, David đã chăn bầy chiên của cha mình, tiên tri Samuên đến xức dầu cho ông thay thế Saulơ làm vua trong tương lai. Từ độ tuổi đó, ông được ơn với thật đặc biệt Thánh Linh của Đức Chúa Trời ( I Samuên 16:13). David đã chứng tỏ lòng can đảm rất lớn thậm chí trong suốt quãng đời niên thiếu của ông. Lòng tin cơ bản của ông nơi sự trợ giúp của Đức Chúa Trời kèm theo với sức mạnh thể chất và sự khôn khéo chống cự lại bầy sư tử và gấu đang khi là một người chăn bầy trẻ tuổi (I Samuên 17:45-46), cũng như trong việc chế ngự Gôliát, đã giúp đỡ cho ông về sau khi ông lãnh đạo quân đội Israel và tránh né quân thù, cả trong và ngoài nước.
Đắc thắng nhờ can đảm và lòng tin quyết
Là vua, David nắm quyền tối cao khởi sự Kỷ Nguyên Vàng Son trong lịch sử của người Do thái. Đức Chúa Trời đã ban cho Israel nhiều chiến thắng quân sự lúc bấy giờ, mở rộng các đường biên giới của xứ sở.
Ngày nay, các môn đồ thật của Đấng Christ về mặt thuộc linh không phải là một phần của đời nầy hay thể chế quân sự-chính trị của nó. Như Chúa Jêsus đã phán: "Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc về hạ giới" (Giăng 18:36). Tuy nhiên, chúng ta có thể tiếp thu những bài học giá trị nói tới nhân vật và cấp lãnh đạo từ những nhân vật chính trị và quân sự lỗi lạc.
Vua David và Winston Churchill, họ rất can đảm, không thể phủ nhận được điều nầy, và cả hai đều lãnh đạo bằng cách nêu gương. Vì vậy, lòng can đảm trong việc chổi dậy cho những gì vừa phục vụ cho họ và cũng cho dân tộc họ nữa. Phấn đấu để đứng lên cho điều phải là một bài học không những cho các binh sĩ, mà còn cho những ai biết hiến dâng sinh mạng của họ cho Đức Chúa Trời và cho tấm gương của Đức Chúa Jêsus Christ. Đứng lên vì chân lý của Đức Chúa Trời phải có rất nhiều dũng khí, đặc biệt khi thế giới ở chung quanh chúng ta thất bại không xem trọng hay tôn kính Đức Chúa Trời hoặc con đường sống của Ngài.
Phối hợp tổ chức tốt
Dĩ nhiên là can đảm thôi thì chưa phải là đủ đâu. Trong các vấn đề quân sự, can đảm mà không có lịnh hành quân đúng đắn thì thường là vô ích. Vua David có 37 người mạnh sức can trường trung thành phục vụ ông. Tên tuổi và chiến công của họ được kê ra ở II Samuên 23. Ông đã tổ chức hàng ngũ của họ hoạt động vì ích cho mọi người.
Nhưng David không hạn chế sự tổ chức của ông trong quân đội. Ông cũng thiết kế các đẳng cấp của chi phái Lêvi. Đây là những người mà Đức Chúa Trời đã chọn để phục vụ trong đền tạm và sau đó là đền thờ, lo dâng của tế lễ, biểu diễn phần âm nhạc, dạy dỗ dân sự luật pháp của Đức Chúa Trời và gìn giữ nơi thánh trong tình trạng sinh hoạt thật tốt.
Có nhiều người Lêvi, nếu để cho hết thảy họ cùng phục vụ trong một lúc với khối lượng vô tổ chức sẽ là một sự phung phí tài nguyên, gây ra lộn xộn và thất vọng cho mọi người. Vua David đã sắp xếp chức năng tế lễ thành nhiều bộ phận, có khi được gọi là các dòng, xoay vòng trong các thời điểm phục vụ được ấn định qua từng năm. Thực vậy, dòng thầy tế lễ Lêvi, dòng dõi của Arôn là thầy tế lễ thượng phầm đầu tiên, đã phục vụ trong cùng một phương thức vào thời điểm Đức Chúa Jêsus Jesus Christ, gần 1.000 năm sau.
Tương tự, Churchill đã mang lại trật tự ngày càng tăng của xứ sở của ông. Ông dựa vào sự sáng láng của nhiều người khác để tìm cho ra các giải pháp đối với những thách thức quân sự mà người Anh đã đối diện với trong suốt Đệ II Thế Chiến. Trong vai trò Thủ tướng, ông tự triệu tập quanh ông nhiều người có tài khéo và chuyên môn. Ông lắng nghe ý kiến của họ rồi khích lệ họ cải tiến. Sự đổi mới ấy đã tạo ra nhiều thiết bị và các nổ lực có tổ chức đã trợ giúp chiến đấu trong cuộc chiến, giữa vòng họ là máy rà mìn trong khi đổ bộ lên Normandy và giải mã bí mật ở Bletchley Park.
Các điểm can đảm
Chúng ta có thể rút tỉa được điều gì qua mọi sự nầy? Can đảm hay tin quyết khi đối mặt với áp lực văn hóa tiêu cực là quan trọng trong thời của chúng ta hay bất kỳ thời buổi nào. Thực vậy, Sir Winston nói như sau: "Can đảm được đánh giá đúng mức trước hết trong mọi đức tính của con người ... vì đó là đức tính bảo đảm cho mọi đức tính khác".
Tổ chức và sự khích lệ mang tính tác động là những đức tính có giá trị kết hợp trong đời sống của chúng ta. Giữ cho mọi thứ được gọn gàng và có tổ chức trong mọi sự từ các thiết bị thể thao, phần phân công bài tập ở nhà cho đến việc sắp đặt mọi sinh hoạt ở nhà thờ làm cho ai nấy đều được ích. Chúng ta ít căng thẳng hơn khi mọi việc đều suông sẻ, đâu vào đó và mọi sự đều diễn tiến theo kế hoạch. Tất nhiên, việc tổ chức con người là phần thách thức lớn lao hơn nhiều.
Sự tôn trọng về uy quyền rất quan trọng cho tiến độ và nổ lực hài hòa, vì vậy các cấp lãnh đạo phải phấn đấu để được xứng đáng hay tôn trọng. Khi bạn có cơ hội đứng ra lãnh đạo, hãy luôn nhớ cảm giác ở dưới quyền lãnh đạo là thể nào và hãy sử dụng quyền lãnh đạo của mình sao cho thật thích ứng. Hãy lắng nghe ý kiến của người khác, và đừng ngại ban thưởng cho họ. Một nhà lãnh đạo nào phục vụ cho những kẻ theo mình là cấp lãnh đạo lỗi lạc nhất trong mọi cấp lãnh đạo!

Ai Làm Chủ Thành Jerusalem?

Ai Làm Chủ Jerusalem?
Tác giả Jerold Aust, John Ross Schroeder

Nhiều công dân của các nước phương tây ở châu Âu, Anh quốc và thậm chí ngay cả Hoa kỳ cảm thấy rằng những lời xưng nhận của Israel và phản kiện của người Palestine đối với quyền làm chủ Jerusalem gần như là tương xứng trong chỗ tự nhiên.

Ngay cả có người cho rằng Israel không có một lời xưng nhận hợp pháp nào đối với cổ thành nầy.
Nhà văn và là nhà bình luận Melanie Phillips đáp: "Những dân tộc đó chắc chắn sẽ lấy làm lạ khi học biết rằng, khoảng 10 thế kỷ trước khi Đấng Christ giáng sinh và 17 thế kỷ trước sự ra đời của Mohammed, thành Jerusalem được Vua David dựng lên làm thủ phủ của một Vương Quốc thống nhất cho Israel và Judea. Người Do thái thực sự là dân tộc duy nhứt mà đối với họ đất Israel nhất định là quê hương của dân tộc họ" ("Promise and Redemption," Standpoint, March 10, 2011).
Năm 1899 Yusuf Khalidi, thị trưởng người Hồi giáo của thành Jerusalem, đã công bố với thủ lãnh rabi ở Pháp: "Ai có thể cãi về quyền của người Do thái tại xứ Palestine? Thượng đế biết rõ về mặt lịch sử quả thực đây là xứ sở của quí vị" (ibid.).
Phillips tiếp tục nói: "Ngày nay, có nhiều nổ lực của người Ảrập, họ cứ lặp đi lặp lại muốn xóa bỏ bằng chứng phong phú, ngày càng tăng về mặt khảo cổ nói tới thành David và vương quốc cổ Israel và Judea, thiết lập lời xưng nhận không thể tranh cãi của người Do thái đối với xứ Israel và đối với thành Jerusalem" (Source: Standpoint magazine

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Thiên Tai: Nhận Định Theo Kinh Thánh


Thiên Tai:
Nhận Định Theo Kinh Thánh


Tác giả Tom Robinson

(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford, OH 45150)

Sau đây là những điểm mà chúng ta sẽ in trong trí về nhận định của Kinh thánh về các thảm họa, bất chấp cấp độ hay bối cảnh của chúng.

1. Đức Chúa Trời đã phán trong Kinh thánh rằng thảm họa thiên nhiên sẽ gia tăng và dữ dội khi đến gần kỳ cuối cùng của kỷ nguyên — làm lay động con người không còn tính tự mãn của họ nữa rồi hướng dẫn họ tìm kiếm Ngài (Mathiơ 24:7; Luca 21:25-26; Khải huyền 6:12; 11:13; 16:18).
2. Trong thiết kế của Ngài cho thế gian, Đức Chúa Trời cho phép nhiều biến cố điều khiển đường lối của chúng theo "thời gian và cơ hội" (Truyền đạo 9:11), hầu cho nhiều thảm họa rất tình cờ, khó lường, ảnh hưởng tới những ai bị tác động.
3. Những người chết trong các tai nạn hoặc thảm họa thiên nhiên không nhất thiết là hạng tội phạm trầm trọng hơn kẻ còn sống (Luca 13:1-5).
4. Các thảm họa hay tai vạ riêng tư không nhất thiết là kết quả của tội lỗi của một người (Giăng 9:2-3).
5. Thiên tai hay tai nạn sẽ hạ chúng ta xuống, giúp chúng ta nhìn thấy sự nương cậy của chúng ta nơi Đức Chúa Trời hầu nâng đỡ và giải cứu chúng ta (Khải huyền 16:8-11).
6. Thiên tai có đôi khi là sự phán xét trực tiếp của Đức Chúa Trời nhắm vào con người loạn nghịch (Sáng thế ký 6:6-7, 11-13, 17; 18:20; 19:24-25).
7. Một số thiên tai trở nên tồi tệ do sự xét nét nghèo ngặt của con người (Châm ngôn 14:12) và sự chối bỏ Đức Chúa Trời và luật pháp của Ngài quá lâu, kết quả trong những điều kiện tồi tệ của môi trường và khí hậu.
8. Đức Chúa Trời thực sự là một Đức Chúa Trời yêu thương, Ngài đang vạch ra một chương trình lớn lao dành cho hết thảy nhân loại (Giăng 3:16; II Phierơ 3:9; I Timôthê 2:4; I Côrinhtô 15:22-24).
9. Cơ đốc nhân nào chết trong thiên tai sẽ được phục sinh bất tử trong sự sống lại đầu tiên nơi sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ (I Côrinhtô 15:51-52; II Têsalônica 4:16; Khải huyền 20:4-6).
10. Không một Cơ đốc nhân nào chết trong thiên tai, những người nào chưa bao giờ có một sự hiểu biết chân chính về Đức Chúa Trời hay cơ hội để được cứu cho đến đời đời, sẽ được sống lại trong sự phục sinh lần thứ hai hay sống lại trong xác thịt với cơ hội thực sự đầu tiên để học biết đường lối của Đức Chúa Trời, ăn năn và được cứu (Giăng 5:28-29; Mathiơ 12:41-42; Khải huyền 20:5).
11. Các đám đông nhân loại nào được sống lại trong sự phục sinh lần thứ hai sẽ kinh nghiệm cuộc sống vui mừng và dư dật dưới sự tể trị của Nước Trời (Êxêchiên 37:12-14).
12. Những đau khổ được kinh nghiệm trong lúc bây giờ trong "đời ác nầy" (Galati 1:4) — kỷ nguyên tự cai trị của con người dưới ảnh hưởng của Satan và ma quỉ — đang viết ra một bài học kinh nghiệm nói về việc sống trong một thế giới tẻ tách ra khỏi Đức Chúa Trời và mọi đường lối của Ngài có ý nghĩa như thế nào!?!
13. Chúng ta không biết hết mọi lý do tại sao Đức Chúa Trời lại đem đến hay cho phép các tai họa đặc biệt hoặc lý do tại sao hạng người đặc biệt được dựng nên để chịu khổ bởi họ, nhưng chúng ta phải tin rằng trong sự toàn tri và sự khôn ngoan tối hậu của Đức Chúa Trời, Ngài biết cách để thể hiện những gì là tốt nhứt cho mọi người vào lúc sau cùng (Rôma 8:28; I Timôthê 2:4).
14. Đức Chúa Jêsus Christ chắc chắn sẽ tái lâm để mở ra sự cai trị của Nước Trời (Khải huyền 11:15; Đaniên 7:14), dưới quyền Nước ấy thiên tai sẽ chẳng còn hành hại nhân loại nữa.
15. Khi hết thảy nhân loại sau cùng được tôn vinh, sẽ chẳng còn có đau khổ, đớn đau hay buồn rầu nữa (Khải huyền 21:4).
16. Mọi đau khổ của đời hiện tại ngắn ngũi nầy không xứng đáng sánh với sự vinh hiển mà chúng ta sẽ kinh nghiệm trong mọi sự đời đời hầu đến (Rôma 8:18; II Côrinhtô 4:17-18).

Israel: Nguy Hiểm Ngày Càng Tăng Ở Mọi Phía


Israel: Nguy Hiểm Ngày Càng Tăng Ở Mọi Phía

Tác giả: Melvin Rhodes


(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford, OH 45150)

Một trong những nước dân chủ nhỏ nhất trên thế giới đang đối diện với sự thù nghịch ngày càng tăng từ các nước lân cận — và thậm chí từ các nước dân chủ thân hữu từ Tây phương.
"Không một nền dân chủ nào trên thế giới hiện nay đang ở dưới cái bóng sợ hãi dai dẳng hơn Israel. Và các biến cố của tháng vừa qua đã chứng tỏ rằng nổi sợ hãi của Israel không những chỉ là bóng tối thôi đâu".
Lời lẽ nầy trích từ đoạn sau cùng của bài viết đang trên tờ Wall Street do Bret Stephens viết, ông là cựu biên tập viên của tờ The Jerusalem Post, ("Israel's Predicament," Sept. 13, 2011).
Ông Stephens thường viết về vùng Trung đông. Ông bắt đầu bài viết đặc biệt nầy với một loại áp lực ụp lên quốc gia Do thái trong thời điểm chỉ có một tháng mà thôi:
"Ngày 18 tháng 8, tám người Do thái bị giết tại vùng biên giới chéo rất phức tạp gần Aicập”.
"Từ ngày 18-24 tháng Tám, khoảng 200 hỏa tiễn và đạn cối đã phóng vào Israel từ dãy Gaza”.
"Ngày 1 tháng 9, người đứng đầu cơ quan năng lượng nguyên tử của Iran tuyên bố rằng quốc gia nầy đã chuyển số lượng lớn các cơ sở làm giàu uranium của họ đến một chỗ được phòng thủ kiên cố ở gần thành phố Qom”.
"Ngày 2 tháng 9, Liên Hiệp Quốc đưa ra một báo cáo về sự cố đội tàu của Thổ Nhĩ Kỳ tháng Năm 2010, Israel khi phong tỏa đường thủy vào Gaza để bảo vệ xứ sở của họ và lưu ý quân biệt kích Do thái đã đối mặt với 'sự kháng cự có tổ chức và bạo lực'. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ phản ứng bằng cách rút Đại sứ của họ ra khỏi Tel Aviv và trục xuất đại sứ Israel ra khỏi Ankara”.
"Ngày 4 tháng 9, Hoa kỳ đưa ra lời kêu gọi sau cùng cho chính quyền Palestine từ bỏ yêu cầu tìm kiếm sự công nhận thể chế nhà nước tại Liên hiệp Quốc, trong nhiều thập niên các hiệp ước quốc tế cho rằng một nhà nước Palestine có thể được thành lập chỉ trên cơ sở đàm phán. Người Palestine đã bác bỏ lời yêu cầu của Hoa kỳ”.
"Ngày 8 tháng 9, Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ thông báo rằng tàu chiến của Thổ Nhĩ Kỳ sẽ hộ tống đội tàu chở hàng đến Gaza trong tương lai”.
"Ngày 9 tháng 9, hàng ngàn côn đồ đã xông vào và gần như đã cướp phá sứ quán Israel tại Cairo. Israel đã sơ tán gần như toàn bộ sứ mệnh ngoại giao của họ ra khỏi Ai cập vào sáng hôm sau".
Ngày trước khi bài viết của Stephens được đăng lên, Ynetnews tường trình rằng Vua Abdullah của Jordan đã mô tả Jordan và người Palestine hiện nay mạnh hơn Israel.
Một Nhà Nước Mới "Tự Do Của Người Do Thái"
Khi nhà cầm quyền Palestine hướng tới với những kế hoạch hầu mang yêu cầu về thể chế nhà nước đến Liên hiệp Quốc, ngày 15 tháng 9 Arutz Sheva tường trình ý kiến của "phái đoàn đại diện nhà cầm quyền Palestine cùng các quan sát viên Liên Hiệp Quốc, họ nói rằng kế hoạch nhà nước Ảrập của người Palestine công bố Judea, Samaria và Jerusalem [các địa danh trong Kinh thánh dành cho vùng lãnh thổ ở Bờ Tây] sẽ là vùng 'tự do của người Do thái'".
Cần lưu ý rằng "trong tháng Sáu, [lãnh đạo của người Palestine] Mahmoud Abbas đích thân đưa ra một lời phát biểu tương tự. Ông cho các phóng viên biết rằng ông không chịu một điều kiện nào khi công nhận Israel là một nhà nước Do thái, Abbas nói rằng ông sẽ đồng ý với một lực lượng quốc tế hầu bảo đảm thực thi thỏa thuận hòa bình giữa Israel và nhà cầm quyền Palestine hầu ngăn ngừa chủ nghĩa khủng bố. Tuy nhiên, ông nói: 'Tôi sẽ không đồng ý để cho người Do thái tham dự vào lực lượng nầy, và tôi sẽ không đồng ý thậm chí một người Do thái sống giữa vòng chúng tôi tại đất Palestine'".
Nổ lực để có được sự công nhận của Liên Hiệp Quốc về một nhà nước Palestine độc lập không những là một hành vi vi phạm các thỏa thuận trước đó giữa Israel và người Palestine, mà còn là một hành động khiêu khích rõ ràng chỉ làm tăng căng thẳng giữa Israel và những người láng giềng của họ.
Thật là dễ hiểu, sử gia Do thái Benny Morris đã đưa ra thắc mắc: "Phải chăng Israel tiêu rồi?" (Newsweek, Sept. 11, 2011). Ông nói: "Israel đang ở dưới cuộc tấn công . . . Nhà cầm quyền Palestine dự tính công bố đơn phương thể chế nhà nước rồi đến với Liên Hiệp Quốc để được công nhận. Đây là một sự chối bỏ mọi nổ lực để có sự thỏa thuận hoà bình. Trong sự náo động đó sẽ dẫn tới những làn sóng bạo lực của người Palestinie”
"Tuy nhiên, đây chỉ là biểu hiện mới nhất của một quốc gia Israel đang bị đe dọa từ bên ngoài — bởi các nhà nước và cộng đồng Ảrập Hồi giáo, người Aicập xông vào sứ quán Do thái, một Iran trang bị hạt nhân (với các nhóm địa phương, Hamas trong dãy Gaza, Hizbullah ở Lebanon), và một Tổng thống Bashar al-Assad ở Syria — và từ bên trong bởi những biến động trong nước dẫn tới các cuộc biểu tình chống đối lớn nhất trong lịch sử của xứ sở".
Khi ấy Morris tiếp tục chỉ ra những chia rẻ nội bộ của Israel, sau đó ông viết: "Giờ đây, cái bóng đe dọa thậm chí còn lớn hơn sự nổi dậy của hồi giáo, không những bên trong các đường biên giới của Israel hay vùng lãnh thổ của người Palestine, mà toàn bộ khu vực, ở đó mối đe dọa đang lan rộng giống như một cụm lửa đang hừng cháy vậy".
Trung Đông — tâm chấn của lời tiên tri trong Kinh thánh
Học viên Kinh thánh từ lâu đã biết rằng Trung Đông là tâm chấn của lời tiên tri và lịch sử theo Kinh thánh. Sau khi đưa các nô lệ ra khỏi Aicập, Đức Chúa Trời đã ban cho họ Đất Hứa — đôi khi được gọi là Đất Thánh. Chính ở đây mà lịch sử tiếp theo của Israel đã được viết ra.
Cũng chính ở đây, Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng Mêsi được hứa cho, đã bước đi và giảng đạo Tin Lành nói tới Vương quốc hầu đến của Đức Chúa Trời. Cũng chính ở trong khu vực nầy, từ lâu trước đó, các chi phái Israel lớn lên, chiến đấu, thịnh vượng, khi ấy bị chia thành hai vương quốc Israel và Judah sau cái chết của Vua Solomon.
Dân sự của xứ Israel và kế đó dân sự của xứ Judah (người Do thái) bị bắt đi làm phu tù. Mười chi phái của vương quốc Israel bị bắt sang Asiri vào thế kỷ thứ 8TC. Không tới một thế kỷ sau đó, vương quốc phía Nam xứ Judah bị chinh phục, và người Do thái bị dời sang xứ Babylôn. Một số người trong số họ đã trở về vài thập kỷ sau đó. Mười chi phái "bị mất" của Israel bị tản lạc ở nhiều phần khác trên thế giới. (Bạn có thể đọc về sự việc nầy trong quyển The United States and Britain in Bible Prophecy).
Người Do thái đã gánh chịu sự tản lạc khác nhiều thế kỷ về sau, sau hai cuộc nổi loạn chống lại Đế quốc Lamã. Họ bị chà đạp, và gần 2.000 năm tản lạc đó của người Do thái, họ đã sống rải rác ở châu Âu và vùng Trung đông. Trong thế kỷ thứ 19 và 20, hàng chục ngàn người đã khởi sự trở về vùng đất quê hương của tổ phụ họ.
Hiển nhiên, năm 1948, một quốc gia Do thái độc lập đã được công bố. Bị bao vây bởi bốn kẻ thù Ảrập nhằm vào ngày quốc gia nầy công bố tình trạng độc lập, Israel đã khống chế và đánh bại họ rồi đã tiếp tục kể từ thuở ấy.
Một Con Đường Tồn Tại Đầy Khó Khăn
Bị các nước thù nghịch bao quanh, Israel vẫn duy trì nền dân chủ tiêu biểu thực sự duy nhứt ở vùng Trung đông. Lý tưởng của Israel rất giống với các nước dân chủ khác ở Tây phương. Giống như ở các nước dân chủ tiêu biểu khác, Israel tôn trọng quyền tôn giáo và các dân tộc thiểu số khác — một việc không thể được nói đến ở các nước lánh giềng của Israel. Israel có 1, 2 triệu công dân người Ảrập, hầu hết họ đều theo đạo Hồi.
Lúc đầu, Israel nhận được nhiều hổ trợ và thông cảm từ nhiều nước trên thế giới. Sáu triệu người Do thái đã bị giết chết trong cuộc hủy diệt hàng loạt của Đệ II Thế Chiến. Là một xã hội tự do dễ thích ứng với thế giới Tây phương, Israel gắn liền với các nước phương Tây.
Thế nhưng, sự cảm thông không lâu sau đó đã kết thúc. Đến tháng 6 năm 1967, Israel chiến thắng trong cuộc chiến 6 ngày chống lại Aicập, Jordan, Syria cùng các quân đội Ảrập khác. Khi đánh bại quân đội của ba nước láng giềng rộng lớn hơn, Israel đã chiếm lấy lãnh thổ từ ba nước ấy.
Đến tháng 10 năm 1973, quân đội Aicập và Syrian đã mở một cuộc tấn công tàn phá đáng kinh ngạc nhắm vào Israel, thế nhưng một lần nữa Israel lại chiến thắng. Theo sau một hiệp ước hòa bình với Aicập vào năm 1979, Israel rút ra khỏi vùng lãnh thổ chiếm lấy của người Aicập, kể cả toàn bộ Cao Nguyên Sinai. Năm 2005, Israel rút ra khỏi dãy Gaza do người Aicập kiểm soát trước kia.
Ngày nay, Israel vẫn còn giữ lấy các phần đất ở Bờ Tây (trước kia là của Jordan) vì các lý do an ninh. Israel cũng giữ lại quyền kiểm soát cao nguyên Golan (trước kia là của Syria), cũng vì các lý do an ninh.
Trong kỷ nguyên chống thực dân, sự sắp xếp nầy khiến cho nhiều nước trên thế giới không chịu chấp nhận, kể cả các quốc gia Tây phương không hề chấp nhận sự sắp xếp mới và thường xuyên gây áp lực với Israel phải nhượng lại các vùng lãnh thổ mà họ hãy còn nắm giữ. Israel duy trì như thế, họ không thể trở lại với các đường biên giới trước năm 1967, điều nầy sẽ khiến cho quốc gia họ chỉ còn không tới 10 dặm rộng ở một số nơi.
Dân Israel đã thực hiện một số nổ lực để tiếp cận với các cấp lãnh đạo người Palestine, đưa ra một giải pháp hòa bình sẽ cung ứng cho họ xứ sở độc lập của riêng họ.
Cuộc hội đàm giữa lãnh tụ Palestine Yasser Arafat và cựu Thủ tướng Do thái Ehud Barak, được tổ chức bởi Tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton vào năm 2000, dường như gần thành công, với Barak hiến cho Arafat hết dãy Gaza và hơn 90% khu Bờ Tây, nhưng Arafat đã ngần ngại. Như vị Ngoại trưởng lâu năm của Israel từng nói: "Người Ảrập không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để bỏ qua một cơ hội!"
Vậy, tại sao bây giờ Isarel lại bị đe dọa cách thình lình chứ?
Từ "mùa xuân Ảrập" đến mùa đông Israel
Những gì đã làm thay đổi cho Israel trong những ngày tháng mới đây đã được báo trước, ấy là "Mùa Xuân Ảrập", vì vậy ở phương Tây họ tiếp nhận cách nồng nhiệt.
Nền dân chủ giả hiệu của các quốc gia Ảrập đã trùng hợp với sự sụp đổ của một vài nhà độc tài Ảrập. Một trong số nầy là Hosni Mubarak ở Aicập, đã được Hoa kỳ hậu thuẩn trong 30 năm, sau hiệp ước hòa bình năm 1979 giữa Israel và Aicập được bảo trợ bởi Washington.
Sự sụp đổ của ông ta đã có một tác động nghiêm trọng về an ninh của Israel. Trong khi Tổng thống Aicập đã duy trì một nền "hòa bình lạnh" với Israel, đại đa số người Aicập không cảm nhận theo cùng một cách ấy. Họ tức tối với Israel bị cáo buộc ngược đãi người Palestine.
Một yếu tố khác là ảnh hưởng ngày càng tăng của các phần tử cực đoan Hồi giáo trong xứ kể từ khi có sự sụp đổ của Mubarak — tỉ như tổ chức Hồi giáo Anh Em, là tổ chức đe dọa bãi bỏ hiệp ước hòa bình Aicập -Israel sau cuộc tổng tuyển cử mới trong năm nay.
Vua Abdullah của Jordan đã quan sát thấy Mùa Xuân Ảrập đã thực thi nhiều điều tệ hại cho Israel. Theo tin tức cho hay: "Nhà vua mô tả một cuộc trao đổi mới đây ông tham dự tại Hoa kỳ với 'một trong các nhà thông thái của Israel', ông nầy đã nhận xét về các biến cố trong thế giới Ảrập, lập luận rằng chúng rất tốt cho Israel. 'Tôi đáp lại và nói rằng ngược lại với chiều hướng đó và hoàn cảnh của Israel ngày nay thì khó khăn hơn trước đây bao giờ'" (Ynetnews, Sept. 12, 2011).
Một Thế Giới Mới Đầy Nguy Hiểm
Hồi giáo cực đoan vẫn tiếp tục đe dọa Israel theo các phương thức khác.
Theo sau sự sụp đổ của Shah thân Tây phương ở Iran vào năm 1979, nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran cực đoan đã bước vào lằn ranh chống Israel.
Tại Gaza, Iran đã ủng hộ Hamas, một nhóm khủng bố cam kết hủy diệt Israel (và lý do chính, phản đối việc thành lập một nhà nước Palestine trong vùng lãnh thổ hiện tại của người Palestine trên cơ sở như một nhà nước sẽ bị buộc ở một điểm: đồng ý sự tồn tại của Israel). Ở Lebanon phía Bắc của Israel, Iran ủng hộ nhóm khủng bố khác, Hezbollah, họ đã khởi sự cuộc chiến khác chống lại Israel vào năm 2006 và kể từ đó đã tái vũ trang với hàng ngàn quả rocket và hỏa tiễn chỉa thẳng vào Israel.
Hơn nữa, nhà lãnh đạo của Iran nhắm vào phát triển vũ khí hạt nhân và một hệ thống phân phối sẽ giúp cho Iran nhắm vào các mục tiêu quân sự của Mỹ trong khu vực cũng như quốc gia Israel. Israel thì quá nhỏ, họ sẽ không mất đến hơn hai hoặc ba đầu đạn nguyên tử đủ quét sạch xứ nầy khỏi bề mặt của địa cầu.
Đây là một phần lý do tại sao Kinh thánh nhắc tới Israel (hiển nhiên là dòng dõi của vương quốc Judah theo Kinh thánh định cư ở đây, được biết là dân Do thái) đã nổi cộm lên trong lời tiên tri nói tới kỳ tận thế.
Tiên tri Xachari, nói thay cho Đức Chúa Trời về các biến cố dẫn tới sự trở lại của Đấng Mêsi, ông nói cho chúng ta biết: "Nầy, ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem làm chén xây xẩm cho mọi dân chung quanh; và khi Giê-ru-sa-lem bị vây, tai nạn sẽ cũng kịp đến Giu-đa. Xảy ra trong ngày đó, ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem làm hòn đá nặng cho các dân tộc. Phàm những kẻ mang nó sẽ bị thương nặng; và mọi nước trên đất sẽ nhóm lại nghịch cùng nó" (Xachari 12:2-3).
Điều nầy đang hiện thực hôm nay. Jerusalem, thành phố hòa bình, thường là địa điểm mà ở đó mọi kỳ vọng về hòa bình cứ dãy chết luôn.
Làm nổi bật lên sự thực Jerusalem nằm ngay trung tâm của nhiều cuộc xung đột, Đức Chúa Jêsus Christ đã cảnh cáo: "Vả, khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến" (Luca 21:20).
Nhiều thế kỷ trước đó, Đức Chúa Trời đã cảm thúc Xachari viết: "Vậy ta sẽ nhóm mọi nước lại tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem" (Xacharie 14:2).
E rằng mọi người nghĩ câu nầy đề cập tới một biến cố trong phần lịch sử xa xưa, Xachari rõ ràng chỉ ra thời điểm ngay lúc tái lâm của Đấng Christ. "Bấy giờ Đức Giê-hô-va sẽ ra đánh cùng các nước đó, như Ngài đã đánh trong ngày chiến trận. Trong ngày đó, chơn Ngài sẽ đứng trên núi ô-li-ve, là núi đối ngang Giê-ru-sa-lem về phía đông; và núi ô-li-ve sẽ bị xé ra chính giữa về phía đông và phía tây, đến nỗi thành ra một trũng rất lớn; phân nửa núi dời qua phương bắc, phân nửa dời qua phương nam" (các câu 3-4).
Trong khi Chúa Jêsus đứng trên Núi Olives cách đây 2.000 năm, ngọn núi nhất định không chia ra làm hai. Và Ngài đã không ra đánh cùng các nước lúc bấy giờ. Điều nầy hãy còn ở trong thì tương lai, phải được ứng nghiệm nơi sự tái lâm của Đấng Christ.
Các biến cố ở Trung Đông sẽ là trọng tâm cho sự ứng nghiệm sau cùng của lời tiên tri trong Kinh thánh.
Các phân đoạn nầy cùng nhiều phân đoạn khác cho chúng ta thấy rằng, mặc dù các mối đe dọa chống lại Israel vào thời điểm nầy, quốc gia Do thái vẫn sẽ tồn tại cho tới thời điểm cuối cùng. Thực vậy, nhà cầm quyền Do thái sẽ nắm lấy quyền kiểm soát tại thành Jerusalem cho tới 1.260 ngày trước sự tái lâm của Đấng Christ.
Nhắc tới một thời điểm trong tương lai khi các đội quân đến nghịch cùng Jerusalem, sách Khải huyền cho chúng ta biết rằng "họ sẽ giày đạp thành thánh đủ bốn mươi hai tháng. Ta sẽ cho hai người làm chứng ta mặc áo bao gai đi nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày" (Khải huyền 11:2-3).
Các câu đứng sau chỉ ra cho thấy hai chứng nhân, những tiên tri của Đức Chúa Trời đang rao giảng một sứ điệp có tính cách cảnh cáo lần sau cùng cho thế gian nầy, sẽ bị giết bởi những kẻ thù nghịch họ. Và kế đó, một vài ngày sau nơi sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ là Vua các vua, Chúa các chúa, họ sẽ được phục sinh sống lại.
Sự Tồn tại Của Israel: Một Phép Lạ
Sự tồn tại của Israel hiện đại bản thân nó là một phép lạ. Với dân Do thái bị tản lạc bởi người Lamã trong thế kỷ thứ nhứt và thứ nhì, Đất Thánh bị cai trị bởi nhiều dân khác trong nhiều thế kỷ. Mãi cho tới thời kỳ hiện đại, thì ý tưởng về một quốc gia Do thái độc lập mới tìm được chỗ đứng.
Đến năm 1917, Bản Tuyên Ngôn Balfour nổi tiếng, được đặt theo tên bộ trưởng ngoại giao Anh quốc lúc bấy giờ, là quyền lực thống trị trên thế giới, cho sự thiết lập một quê hương Do thái. Theo sau cuộc diệt chủng của quân Phát-xít, một cuộc bỏ phiếu tại tại Hội Quốc Liên đã biến xứ Palestine cựu thuộc địa của Anh quốc thành quốc gia Israel. Trước đó, chỉ có những học viên Kinh thánh họ biết rằng một quốc gia Do thái phải tồn tại gần cuối sự cai trị của con người trong thế gian nầy.
Nhưng thái độ thù nghịch với Israel đã trở thành nan đề từng ngày một, khi các đội quân của nước láng giềng Ảrập tìm cách đè bẹp nó, vào thời điểm khi dân cư Do thái chỉ có nửa triệu người. Người Do thái đã chiến thắng — như họ đã chiến thắng chống lại từng mối đe dọa chính trong 63 năm qua.
Thời gian hầu đến, khi thành Jerusalem sẽ bị vây lấy bởi các đội quân dân Ngoại và Israel một lần nữa sẽ bị nhận chìm bởi chiến tranh. Nhưng thời điểm đó cũng sẽ lên đến đỉnh cao trong các biến cố thuộc kỳ tận thế dẫn trực tiếp đến sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ và sự thiết lập Vướng Quốc của Đức Chúa Trời.
Hãy canh chừng Jerusalem. Hãy canh chừng Israel. "Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến" (Mathiơ 24:42). Hãy canh chừng các biến cố trong vùng Trung Đông hướng sự chú ý của chúng ta đến sự tái lâm không còn bao lâu nữa của Đức Chúa Jêsus Christ trên đất!

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Sẽ Tận Thế Vào năm 2012?


Sẽ Tận Thế Vào Năm 2012?

Tác giả Noel Hornor

(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford, OH 45150)

Có nhiều điều đã được nói tới về sự chung kết đời vào năm 2012 – một sự kiện đã được tiết lộ trong bộ lịch của người Maya cổ đại. Có bất kỷ cơ sở hay lẽ thật nào nói tới vấn đề nầy hoặc có người nào khác tiên đoán kỳ tận thế vào năm tới không? Kinh thánh nói gì về sự cuối cùng của thế giới? Có phải Kinh thánh nói cho chúng ta biết thế giới có thể hoặc sẽ kết thúc vào năm 2012!?!

Có nhiều người sẽ cung ứng bất cứ điều gì để biết được những điều tương lai đang nắm giữ. Đây là sự thực bao lâu con người vẫn còn bước đi ở trên đất.
Các vị sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ không nằm ngoài ngoại lệ. Ngài thường phán cùng họ về sự tái lâm của Ngài khi Ngài sẽ ngự trên đất một lần nữa — trong Vương quốc tương lai của Đức Chúa Trời, trị vì trên mọi sự.
Ngay trước khi Ngài chịu chết, Chúa Jêsus đã ở với 12 môn đồ Ngài trong thành Jerusalem tại khu vực lộng lẫy Núi Đền Thờ. Chúa Jêsus nói cho họ biết rằng đền thờ, người Do thái thời ấy rất đỗi tự hào về Đền ấy, một ngày kia sẽ bị san bằng tận mặt đất (Mathiơ 24:1-2).
Các môn đồ đã bị sốc và ngạc nhiên nơi câu nói của Thầy, và họ bị giục giã đưa ra thắc mắc mà các Cơ đốc nhân từ thế kỷ đầu tiên cho đến ngày hôm nay đã sốt sắng muốn biết: "Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?" (Mathiơ 24:3).
Cuộc trao đổi nầy đã xảy ra cách đây gần 2.000 năm. Chúa Jêsus sẽ không tái lâm trong thời của mấy người mà Ngài đã phán cùng họ, mặc dù dường như họ đã trông Ngài hiện đến trong nhiều năm trời. Hết thảy họ đều đã qua đời, vẫn đang chờ đợi sự tái lâm của Vua các vua (Khải huyền 19:16).
Khi họ còn sinh sống, họ cứ giảng đi giảng lại lời hứa nói tới sự đến của Ngài và sốt sắng khao khát sự tái lâm của Ngài. Một trong 12 môn đồ là Phierơ, đã ghi lại lời cảnh cáo cho những người trong thời của ông vang dội qua thời gian và vẫn còn đang nói hôm nay với hết thảy những ai đang đọc lời ấy. Ông đã viết rằng một số những kẻ hay chỉ trích phê phán — "mấy kẻ hay gièm chê", ông gọi họ như thế — sẽ nói: "Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu?" (II Phierơ 3:4). Và ông trả lời trước: "Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu" (câu 9).
Khi Chúa Jêsus tái lâm, sự trở lại ấy sẽ là sự chấm dứt "đời ác nầy" (Galati 1:4), sự cuối cùng của thế giới mà con người đang cai trị trong đó.
Những lời tiên tri con người đưa ra về kỳ tận thế
Khi các môn đồ của Chúa Jêsus hỏi Ngài khi nào thì kỳ tận thế sẽ đến, Ngài nói cho họ biết các dấu hiệu và biến cố sẽ xảy ra trong thời kỳ chuyển tiếp. Tuy nhiên, Ngài cũng nói cho họ biết: "Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi" (Mathiơ 24:36).
Câu nói của Chúa Jêsus đã không ngăn người ta thôi đừng đưa những lời tiên tri trắng trợn nữa. Con người theo từng phong cách đều bị ảnh hưởng với sự nghiện ngập lời tiên đoán. Quyển Will the World End in 2012?{Liệu sẽ tận thế vào năm 2012?} của Raymond Hundley vào năm 2010 đã lưu ý một trang web “đã liệt kê ra 149 lời tiên đoán khác nhau về kỳ tận thế giữa năm 44SC và năm 2008" (p. ix).
Các dự đoán về sự cuối cùng của thế giới đã không đình chỉ vào năm 2008. Nếu có việc gì quan trọng, thì dự đoán vẫn có hướng đi của nó. Phần nhiều những lời dự đoán thậm chí tập trung vào một ngày thật đặc biệt — ngày 21 tháng 12 năm 2012.
Đây được gọi là ngày hấp dẫn nhất trong lịch sử. Định hướng của những kẻ xác định ngày giờ nầy được biến đổi cách rộng rãi — có người rất tôn giáo và có người thì rất thế tục. Các biến cố họ nói sẽ gây nên một trận đại hồng thủy mô tả cái vạc khủng khiếp do con người nghĩ ra.
Thế nhưng chúng đã qua mất rồi? Thật là quan trọng cho sự an toàn thuộc linh và sự bình an trong tâm trí của bạn một khi bạn neo chắc vào lẽ thật của Kinh thánh. Có nhiều kẻ dối gạt trong thế gian; thực vậy, Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Satan đang "dỗ dành cả thiên hạ" (Khải huyền 12:9). Vì lý do nầy, Jesus cảnh cáo các môn đồ Ngài: "Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi" (Mathiơ 24:4).
Có nhiều người đưa ra sự giải thích của riêng họ về tương lai, nhưng Kinh thánh phải là kim chỉ nam duy nhứt của chúng ta. Kinh thánh có nhiều lời tiên tri nói tới sự cuối cùng của thế giới. Chúng ta cũng phải cẩn thận về cơn lốc xoáy mà người ta đang khoác vào những lời tiên tri của Kinh thánh nói tới kỳ tận thế.
Trong khi chúng ta có thể có ý tưởng hay hơn về khung thời gian Đấng Christ tái lâm trong thời gian tới và chúng ta nhìn thấy lời tiên tri sẽ ứng nghiệm ở chung quanh chúng ta, những trang lịch sử rải rác với ngày tháng sai lầm trên đó có người đã dự đoán hay trông mong kỳ cuối cùng đến.
Như Mark Hitchcock lưu ý trong quyển sách của ông “2012: The Bible and the End of the World” [2012: Kinh thánh và kỳ cuối cùng của thế gian”]: "Các dự báo lâu đời nhất nói tới sự sụp đổ sắp xảy ra của thế giới được tìm thấy khắc trên bảng đất sét của người Asiri ghi rằng: 'địa cầu của chúng ta đang ở trong sự thoái hóa trong những ngày sau cùng nầy. Có những dấu hiệu cho thấy rằng thế giới đang tiến đến mức kết thúc thật nhanh chóng. Hối lộ và tham nhũng rất là “phổ biến”" (2009, p. 102).
Chúng ta sẽ sống khôn ngoan nếu chúng ta bám vào những gì Kinh thánh chép thay vì để ý đến loại tiên tri tự xưng mình là tiên tri. Các tiên tri dõm đang làm gì vậy? "Kinh thánh được bàn bạc và được xem là đáng tin cậy khi họ tin Kinh thánh ủng hộ lý thuyết 2012 của họ, nhưng khi Kinh thánh nói ngược lại và thách thức mọi tín điều của họ thì Kinh thánh bị chối bỏ và trong một số trường hợp thậm chí Kinh thánh còn bị chế giễu nữa" (p. 92).
Ngày dự kiến: 21 tháng 12 năm 2012
Tại sao ngày 21 tháng 12 năm 2012 lại được nhiều người chọn làm ngày thảm họa? Điều nầy phù hợp với phần lớn tính toán lịch trình của người Maya cổ.
Bộ tộc Maya sống tập trung ở Trung Mỹ, đỉnh cao nền văn minh của họ kéo dài từ năm 250SC đến năm 900. Các thầy tế lễ của người Maya đã phát minh một hệ thống lịch nối kết với quan sát thiên văn mà có người tin là chính xác hơn lịch chúng ta đang sử dụng ngày nay. Điều nầy bất chấp cả sự kiện họ không có kính thiên văn nào hết, chỉ sử dụng mắt trần nghiên cứu bầu trời.
Lịch của họ là loại lịch nào?
"Dựa theo các nghiên cứu của họ trong bộ môn thiên văn, người Maya đã tạo ra một hệ thống lịch vẻ ra lịch sử thời gian khởi sự với phần bắt đầu của thế giới hiện hành vào ngày 11 tháng 8 năm 3114TC. Sử dụng hệ thống âm lịch [tính theo trăng], đơn vị tính thời gian của người Maya là 20. hai mươi kin (ngày) tạo nên một winal (tháng); 18 winals tạo nên một tun (năm); 20 tuns tạo thành một katun (20 năm); và 20 katuns tạo thành một baktun (400 năm).
"Để xác định một ngày cụ thể, họ ghi ngày ấy theo các giới hạn khoảng cách tính từ sự sáng tạo ... tầm quan trọng của tờ lịch Maya, ấy là nó dự đoán 13 baktuns như là thời kỳ kết thúc của kỷ nguyên thế giới hiện tại. Sau khi tính từng năm kể từ khi có thời gian, tờ lịch bất ngờ kết thúc ở phần cuối của baktun thứ mười ba.
"Chuyển lịch ngày của người Maya thành hệ thống lịch của người Gregory được sử dụng hôm nay tạo ra ngày 21 tháng 12 năm 2012, như là ngày cuối cùng cho kỷ nguyên hiện tại" (Hundley, pp. 7-8). Ngày nầy trùng với thời điểm đông chí.
"Nổi ám ảnh của người Maya với thời gian có thể thấy được nơi sự kiện họ đã phát triển 20 bộ lịch khác nhau ... người Maya dựa vào ba bộ lịch chính tính thời gian — ba bộ lịch thích hợp nhất với niên đại 2012 ... Lịch tính thời gian thứ ba của người Maya được biết là bộ lịch Long Count. Bộ lịch nầy được sử dụng tùy theo tư liệu 'chu kỳ kỷ nguyên thế giới' lặp đi lặp lại nhiều lần.
"Bộ lịch nầy được chia ra làm năm đơn vị mở rộng ra trước và sau thời điểm bộ tộc Maya thần thoại được dựng nên, là ngày họ tin là 11 tháng 8 năm 3114TC....Năm 2012 là năm quan trọng rơi vào chu kỳ thứ năm được xem là kết thúc. Đây là khởi điểm của niềm tin cho rằng kỳ tận thế là năm 2012" (Hitchcock, p. 32-33).
Các tín điều không có nguồn gốc tin kính
Bộ tộc Maya nhận lãnh khái niệm tôn giáo và vũ trụ cho bộ lịch của họ từ đâu? Chắc chắn những điều đấy không xuất phát từ Đức Chúa Trời của Kinh thánh. Thực vậy, bộ tộc Maya đã thực hành các nghi thức tôn giáo gớm ghiếc bị xét đoán rất nặng trong Kinh thánh, tỉ như lấy con người làm của lễ.
"Người Maya đã thực hành việc lấy con người làm của lễ như một phần trong tôn giáo của họ, thường sử dụng trẻ em cho các nghi lễ trong đó thầy tế lễ người Maya cắt mở lồng ngực đứa trẻ còn sống rồi moi tim ra như vật hiến tế cho các thần. Thực vậy, để kỷ niệm đầu năm mới, người Maya tách quả tim của nạn nhân hy sinh ra ... rồi khởi sự dùi mũi khoan cháy bỏng qua khoang ngực mở kia'" (Hundley, p. 5).
Như Mark Hitchcock lưu ý: "Phần lớn sự 'thờ lạy' man rợ, khát máu của bộ tộc Maya, bao gồm của lễ con người, bị tính đến nếu chúng ta công nhận rằng sự thờ lạy nầy bị ma quỉ tác động bởi thế lực thực sự nằm ở đàng sau các thần bằng đá của họ" (p. 41).
Sự thờ lạy các tà thần không có thực, nhưng ma quỉ và các quỉ sứ nó đang đứng ở đàng sau thứ tôn giáo giả hiệu — có khi được xem là các tà thần nầy. Sứ đồ Phaolô đã viết rằng: “nhưng đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỉ, chớ không phải cúng tế Đức Chúa Trời. Vậy, tôi không muốn anh em thông đồng với các quỉ" (I Côrinhtô 10:20; so sánh với Lêvi ký 17:7; Phục truyền luật lệ ký 32:17; Thi thiên 106:35-38).
Bộ tộc Maya hiện đang tin theo điều gì?
Trong khi nhiều người Tây phương nắm bắt ngày 21 tháng 12 năm 2012 là một ngày tai họa chưa từng có, bộ tộc Maya hiện đại không xem theo cách ấy. Don Alejandro, vị lãnh tụ hiện nay của bộ tộc Maya, đã đưa ra ý kiến về ý nghĩa của thời gian. Ông ta trình bày về thời điểm tích cực theo thể thơ văn:
"Theo bộ lịch Long Count của người Maya, chúng ta đang hoàn thành 13 Baktun và ... do đó tiếp cận Năm Zero ... Thế gian được biến đổi và chúng ta bước vào một thời kỳ hiểu biết và chung sống hài hòa ở nơi có công bằng và bình đẳng cho tất cả mọi người...
"Đây là một phương thức sống mới. Với một trật tự xã hội mới khi thời điểm tự do đến ở nơi chúng ta có thể di chuyển như các đám mây, không hạn chế, không có đường biên giới. Chúng ta sẽ di chuyển giống như các loài chim, không cần có giấy thông hành. Chúng ta sẽ di chuyển giống như các dòng sông, mọi hướng đều đổ vào cùng một điểm ... cùng một mục tiêu" (quoted by John Major Jenkins, The 2012 Story, 2009, p. 369).
Một vị lãnh tụ khác, Benito Ramirez Mendota, đã đưa ra nhận định như thế nầy: "Như bậc trưởng lão cho biết, mọi sự rồi sẽ thay đổi. Thế giới sẽ được đổi thay tính theo ngày tháng đáng ghi nhớ đó. Con cái của chúng ta sẽ có một vũ trụ quan mới mẻ. Thời gian sẽ qua đi và và chúng sinh khác sẽ sống trong vũ trụ" (p. 371).
Hòa bình và hòa hợp trên thế giới sẽ không đến vào năm 2012, nhưng chắc chắn nó sẽ đến — như chúng ta sẽ thấy. Cả hai "lời tiên tri" nầy có chứa một số yếu tố của lẽ thật. Nhưng cái điều có giá trị của nó cho thấy rằng bộ tộc Maya nầy không chia sẻ các nhận định về sự thảm khốc mà nhiều người gặp phải trong năm kế đó.
Tại sao phải chấp nhận lời tiên tri của người Maya?
Hundley chỉ ra chỗ có liên quan đến truyền thuyết của người Maya: "Dường như là ngày 21 tháng 12 năm 2012 là lời dự đoán làm đảo lộn địa cầu đối với người Maya về kỳ tận thế, nó sẽ được bảo tồn như một phần quan trọng của di sản văn hóa và tôn giáo của nền văn minh ấy, thậm chí cho tới ngày hôm nay. Nhưng rõ ràng, đấy chẳng phải là trường hợp. Nhiều người Maya hiện đại không khẳng định cách thức giải thích tờ lịch và hệ thống tín điều của họ, nhưng than phiền rằng những người phương Tây đã gán cách giải thích nầy trên họ từ mọi nhận định riêng và vì các mục đích của riêng họ.
"Đã có nói rằng, dầu có thể minh chứng người Maya dự đoán kỳ tận thế vào năm 2012, điều gì làm cho mọi dự đoán ấy đủ tư cách là lời tiên tri? Mặc dù người Maya là những nhà thiên văn rất có tài, khả năng ấy không nhất thiết có nghĩa họ là hạng tiên tri được ơn.
"Theo cùng logic ấy, có phải chúng ta hy vọng các nhà thiên văn ngày nay, họ có nhiều khám phá khó tin qua cách sử dụng kính thiên văn tiên tiến và các vệ tinh du hành trong không gian, có đủ tư cách cung ứng cho chúng ta với những lời dự đoán đáng tin cậy, chi tiết về tương lai hành tinh của chúng ta không? Tất nhiên là không rồi! Quan niệm cho rằng những người đưa ra các quan sát thiên văn rồi vì thế xem họ có đủ tư cách là bậc tiên kiến, những nhà dự đoán và là tiên tri về các biến cố trong tương lai là không có cơ sở" (p. 17).
Khi ấy, chúng ta thấy quan niệm cho rằng tờ lịch của người Maya dự đoán kỳ tận thế vào năm 2012 chỉ là thiếu sót sự đáng tin. Nó chẳng có ý nghĩa gì hết, và sở dĩ nó như thế là vì thế giới của chúng ta đang ở trong cái khuôn khổ tồi tệ khi người ta cứ mãi chú ý vào những sự việc như thế.
Các dự báo khác về số phận
Hạng thầy bói dõm khoác lác về những câu chuyện đáng sợ khác nói tới sự hủy diệt mà họ cho là sẽ xảy ra vào năm 2012. Họ đã gom góp nhiều thảm họa tưởng tượng ở khắp mọi nơi!
"Những cơn hạn hán, lũ lụt, bảo táp, sống thần, động đất, và núi lửa phun trào trên toàn cầu gây ra bởi các cơn bão mặt trời, những vết nứt hình thành từ trường trên trái đất, và hàng loạt nhiều nan đề do mùa đông nguyên tử, đói kém, bịnh tật nhân loại, chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, năng lượng mặt trời, v.v… Hết thảy mọi thứ nầy được dự báo phải xảy ra vào năm 2012" (John Claeys, Apocalypse 2012, 2010, p. 1).
Phải, một số sự việc nầy đang xảy ra ngay bây giờ ở nhiều nơi khác nhau trên địa cầu. Và Kinh thánh nói tiên tri rằng một số tai họa sẽ có phạm vi toàn cầu trước sự kết thúc của thời đại! Nhưng năm 2012 không phải là thời điểm cho nổi kinh khiếp tệ hại nhất hầu đến.
Và đúng, một số đe dọa nầy rất là thực tế. Một bối cảnh dường như sẽ xảy ra chắc chắn là sự bùng nổ của siêu núi lửa. Hiệp Hội Địa Chất của Luân đôn đã nói rằng sự bùng nổ của siêu núi lửa "chẳng chóng thì chày" sẽ làm ấm hành tinh và đe dọa nền văn minh của nhân loại.
Các miệng núi lửa khổng lồ nằm dưới Công Viên Quốc Gia Yellowstone là một khả năng riêng biệt. "Các vụ phun trào với cường độ 5. của Núi St. Helens vào năm 1980 thổi tung bên sườn núi, hủy diệt khu rừng nhiều dặm chung quanh, gây thiệt hại 3 tỉ đôla, và giết chết 77 người. Cơ quan khảo sát địa chất Hoa kỳ đã mô tả cuộc phun trào nầy là 'thảm họa núi lửa tệ hại nhất trong lịch sử Hoa kỳ đã được ghi lại' Một vụ phun trào cường độ cao ở Yellowstone sẽ mạnh lên gấp ngàn lần" (Greg Breining, Super Volcano, 2007, p. 229).
"Nhưng Yellowstone không phải là miệng núi lửa duy nhứt đâu, thậm chí là ở Hoa kỳ. Có ít nhất một miệng núi lửa ở Long Valley tại California, gần Công Viên Quốc Gia Yosemite và khu nghĩ mát trượt tuyết của Hồ Mammoth. Những bối cảnh khả thi khác là Nhật bản, Tân tây Lan, Dãy núi Andes, và Indonesia. Yellowstone được nghiên cứu nhiều nhất trong các ngọn núi lửa nầy ... Cần phải lưu ý, khu vực nầy liên tục có hoạt động về địa chấn, và chắc chắn nó sẽ nổ ra một lần nữa vào cùng một thời điểm" (Sharan Newman, The Real History of the End of the World, 2010, p. 288).
Phạm vi của một tai họa như thế nầy đang thách thức trí tưởng tượng. Liệu điều nầy có xảy ra vào năm 2012 không? Chúng ta không biết. Nhưng chẳng có điều gì chỉ ra năm 2012 là thời điểm cho việc ấy xảy ra. Tai họa có thể xảy ra trong năm nay hay trong năm 2013 — hoặc các năm sau đó. Hay việc ấy sẽ chẳng bao giờ xảy ra, ít nhất là theo cấp độ dự kiến, nếu Đấng Christ quan tâm đến vấn đề khi Ngài tái lâm.
Tuy nhiên, Kinh thánh không chỉ ra là sẽ có những vụ phun trào núi lửa kèm theo sự tái lâm của Đấng Christ: "Các núi tan chảy như sáp trước mặt Đức Giê-hô-va, trước mặt Chúa của khắp thế gian" (Thi thiên 97:5). "Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy hạ các từng trời, và giáng xuống, đụng đến núi, thì núi sẽ xông khói lên" (Thi thiên 144:5).
Còn về "Hành Tinh X"?
Biến động lớn nhất trong các thảm họa “thiên nhiên” đã được dự báo trong kỳ tận thế là bối cảnh nói tới một vụ va chạm hay sự đến gần địa cầu của một hành tinh khác. Các hành tinh bí ẩn được cho là đang đe dọa chúng ta được gọi là "Hành Tinh X" hay là "Hành Tinh Nibiru", và có người hy vọng rằng nó sẽ đến vào ngày 21 tháng 12 năm 2012.
Nhưng, đâu là bằng chứng cho thấy việc nầy sẽ xảy ra? Chẳng có một bằng chứng khoa học nào ủng hộ ý tưởng đó hết. Ý tưởng đã đến "không phải bởi các tín hiệu phát đi từ vũ trụ, mà [thay vì thế được] thông qua phương tiện truyền thông và phái viên Zeto và Nancy Lieder, là người đã tiếp xúc với ... người ngoài hành tinh có lòng vị tha" (Govert Schilling, The Hunt for Planet X, 2009, p. 115).
Ai là Zeto và Nancy Lieder? Đây là câu chuyện: "Nancy mới có 9 tuổi khi sự việc xảy ra. Một thứ ánh sáng xẹt đến từ trời rồi rơi vào cánh đồng cạnh nhà của nó. Bố mẹ nó đang ra ngoài chợ, vì vậy Nancy còn ở nhà một mình để tìm hiểu sự kiện lạ lùng nầy. Khi nó bò đến gần cảnh tai nạn, nó lấy làm kinh khủng khi nhìn thấy cái được xem là tàu vũ trụ đang bay lượn trên mặt đất. Khi cửa tàu mở ra, Nancy đã ngất xỉu.
"Khi nó đến gần, nó vào bên trong con tàu đó, và có những sinh vật kỳ lạ đến chung quanh nó. Khi nó cố gắng trò chuyện, một trong những Zeta đã bảo nó vẫn còn nói dối. Một cánh tay cơ khí rất lớn với một thiết bị nhỏ ở cuối cánh tay bắt đầu di động càng lúc đến gần đầu của nó hơn. Khi thiết bị nắm lấy đầu nó, nó lại ngất xỉu một lần nữa.
"Khi nó tỉnh dậy, nó đang ở bên trong ngôi nhà của nó. Một trong những người ngoài hành tinh đã tử tế đặt nó vào giường. Khi ấy có kẻ nói: 'Nancy, đừng sợ nhé. Bạn đã được lựa chọn từ hết thảy mọi người trên hành tinh của bạn để làm tiếng nói của chúng tôi ở trên Đất. Chúng ta vốn quan tâm đến những gì sẽ xảy ra trên hành tinh của bạn. Thiết bị trong đầu bạn có thể giúp chúng tôi truyền đạt các sứ điệp để bạn truyền đạt lại cho mọi người" (Hundley, p. 63). Một, đây là câu chuyện được dựng nên hay là một cuộc gặp gỡ với ma quỉ.
Govert Schilling là một nhà văn thiên văn cấp quốc tế. Ông và các khoa học gia nổi bật đã vạch trần kế hoạch của Hành Tinh X/Nibiru. Schilling đã trình bày bài bình luận hấp dẫn về Hành Tinh X: "Vậy thì điều đó có nghĩa là có nhiều việc phải làm cho những nhà thổ lộ nầy — các nhà khảo cổ và thiên văn học nào có một cái nhìn lâu dài và hoài nghi nơi làn sóng thủy triều của Nibiru vô nghĩa và giải thích với độ chính xác khoa học điều chi là sai sót với câu chuyện cổ tích vũ trụ. Công việc của họ sẽ bị cho là hư không trong vài năm tới đây.
"Rồi vào ngày 22 tháng 12 năm 2012, sẽ có câu chuyện con gà trống và con bò giả tưởng mới sẽ được phát hành rộng rãi. Vì bất luận có bao nhiêu thiên thể mới được tìm thấy trong hệ thống thái dương hệ của chúng ta, sẽ luôn luôn là một nhu cần cho một Hành Tinh X kín nhiệm" (Schilling, p. 117).
Chúng ta nên trông đợi điều gì?
Phải, ngày 21 tháng 12 năm 2012 sẽ đến rồi đi, ngày 22 tháng 12 sẽ đến, và địa cầu sẽ cứ còn mãi. Và đấy là lý thuyết mới về niên đại chính xác mới cho kỳ tận thế. Tiếng kêu gào hô vang lên lớn tiếng bởi những giọng nói the thé về thiên niên kỷ, và bạn có thể dám chắc là nó sẽ cứ tiếp diễn.
Đáng buồn thay, có nhiều người sẽ tiếp lấy sự kiện hư không nầy cùng các lời dự báo đã thất bại khác như một sự cáo lỗi những gì Kinh thánh nói đang có ở trước mặt. Chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy một sự gia tăng còn lớn lao hơn nữa những lời chế giễu liên quan tới sự tái lâm của Đấng Christ, như Phierơ đã nhắc nhở. Thế nhưng, phần còn lại quyết chắc: Các lời tiên tri của Kinh thánh không phải là những dự báo giả dối đâu giống như sự thổi phồng năm 2012. Những điều Đức Chúa Trời đã tỏ ra trong Lời của Ngài nhất định sẽ diễn ra. Chúng ta chỉ không biết chính xác là khi nào mà thôi. Vậy, chúng ta cần phải làm gì đây?
Đức Chúa Jêsus Christ phán dạy rất đơn giản: "Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ" (câu 44).
Mục đích của Ngài là gì? Chúng ta cần phải sẵn sàng tại mọi thời điểm về kỳ tận thế. Chúa Jêsus sẽ tái lâm — sáu lần trong sách Khải huyền Ngài phán Ngài sẽ đến "mau chóng".
Cuộc sống của bất kỳ ai trong chúng ta có thể kết thúc hôm nay hay ngày mai. "Vì sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay" (Giacơ 4:14). Chúng ta ngã chết bất cứ thời điểm nào, sự tái lâm của Chúa Jêsus sẽ xảy ra cho chúng ta nơi giây đồng hồ tỉnh biết kế đó. Nếu chúng ta đã sống một đời sống hầu việc Đức Chúa Trời, khi ấy chúng ta sẽ được ban cho sự sống đời đời và được ban thưởng tùy theo việc làm của chúng ta (Mathiơ 16:27).
Đây là những tin tức tốt lành trong Kinh thánh! Đây là lẽ thật vô giá, nó có thể thêm ý nghĩa vô hạn cho đời sống của bạn.
Đối với nhiều người, cuộc sống thì trống vắng và thiếu mục đích cao cả. Barton Payne trong quyển Encyclopedia of Biblical Prophecy tóm tắt như sau: "Chúng ta đang sống trong một thế giới bất ổn. Con người ngày hôm nay đang sốt sắng và gần như thảm hại cứ lo cầu may, khi tìm kiếm ý nghĩa. Trong khi chúng ta tích lũy kiến thức, dường như chúng ta đã bỏ sót lẽ thật. Thực thế, lìa khỏi Đức Chúa Trời và khỏi Lời đã tỏ ra của Ngài tạo thành Kinh thánh, con người, sự sống và thời gian dường như là vô mục đích.
"Tuy nhiên, Chúa của ân điển, Đấng đã từng sai Con của Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ đến cứu chuộc thế gian (Giăng 3:16), một ngày kia sẽ sai Ngài một lần nữa đến hướng dẫn thế gian nầy vào mục tiêu đã được dự trù là làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời (Rôma 11:36). Đây là nguồn hy vọng bao trùm lấy cả Kinh thánh" (1973, p. v).
Lần đến thứ nhì của Đức Chúa Jêsus Christ là lời tiên tri quan trọng nhất trong Kinh thánh sắp sửa được ứng nghiệm. Hơn 500 câu trong Kinh thánh bình luận đặc biệt về các sự kiện và khía cạnh của biến cố hoành tráng làm lay động đất nầy.
Trong khi chúng ta không biết chính xác khi nào Chúa Jêsus tái lâm, các dấu hiệu ở chung quanh chúng ta chỉ ra chúng ta đang sống trong kỳ tận thế. Câu nói của Phaolô ở I Côrinhtô 7:31 hiện ra mỗi ngày càng sáng sủa hơn: "vì hình trạng thế gian nầy qua đi". Khi chúng ta nhìn chung quanh, nhiều cột trụ nền tảng cung ứng trật tự cho xã hội đang rơi vào chỗ nguy cơ. "Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời" (I Giăng 2:17).
Con người hằng ao ước một thế giới tốt đẹp hơn và một đời sống tốt đẹp hơn kể từ khi bắt đầu lịch sử của nhân loại. Và sự ấy sẽ đến! Thời điểm đến nhanh chóng khi Đức Chúa Trời sẽ làm rúng động các nước và "những sự ước ao của các nước" hầu đến (Aghê 2:7).
Bạn phải tìm kiếm tri thức của Đức Chúa Trời và đừng để trí thức ấy rơi khỏi cái nắm bắt của bạn! Bạn có thể nhìn biết những điều tương lai đang nắm giữ. Hơn ¼ Kinh thánh là lời tiên tri, và hầu hết các lời ấy đều chưa ứng nghiệm.
Kinh thánh nói cho chúng ta biết ngàn năm trị vì của Đức Chúa Jêsus Christ sẽ đến (Khải huyền 20:4) — không phải vào năm 2012 đâu, nhưng có lẽ không nhiều hơn thế! Hết thảy những ai ăn năn và tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa của riêng họ và rồi sống một đời sống vâng phục với các điều răn của Đức Chúa Trời sẽ đồng trị với Ngài trong suốt thời gian ấy trong một thế giới bình an. Lời mời gọi đang mở rộng đến với bạn. Bây giờ là thì thuận tiện để hành động đây!

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

Có Phải Israel Là Nan Đề?


(Hình ảnh) Tác giả, trong một cuộc khai quật vào năm 1971, tại Núi Đền Thờ ở thành Jerusalem.
Có Phải Israel
L
à Nan Đề?
Tác giả Darris McNeely

(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford, OH 14550).

Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama mới đây đã kêu gọi Israel trở lại với đường biên giới trước năm 1967 như là nền tảng cho giải pháp về xung đột với người Palestine. Thủ Tướng Benjamin Netanyahu cho rằng việc nầy không thể thực hiện được. Tại sao điều nầy lại nguy cấp như thế, và có phải Israel thực sự là nan đề trong phạm vi của nhiều sự việc?

Cách đây bốn mươi năm, tôi có sang xứ Israel để làm việc vào mùa hè trong cuộc đào bới khảo cổ tại Núi Đền Thờ trong thành Jerusalem. Khi nhóm của chúng tôi đến nơi, chúng tôi bắt tay vào làm việc tại nền bức tường ở phía Nam dưới bóng của nhà thờ Hồi giáo Al Aqsa.
Chúng tôi bỏ ra hai tháng dọn sạch bụi đất và các đống đổ nát, và trong quá trình ấy cấp độ khám phá cao nhất là các nấc thang thuộc công trình bởi đó dân sự bước vào Đền Thờ trong thời của Đức Chúa Jêsus Christ. Ngày nay bạn có thể nhìn thấy các nấc thang nầy và còn nhiều thứ khác nữa khi bạn đến viếng Công viên Khảo cổ Jerusalem.
Chúng tôi cũng đi khắp xứ Israel khám phá nhiều bối cảnh được nhắc tới trong Kinh thánh. Mùa hè ấy tạo cho đời sống tôi nhiều điểm nổi bật. Tôi gặp gỡ nhiều người từ khắp nơi trên thế giới và đã nhìn thấy các địa điểm mà tôi chỉ đọc tới trong các sách báo. Mùa hè ấy hoàn toàn là một cuộc mạo hiểm.
Israel tạo ra nhiều sự chú ý trên kênh tin tức. Tin tức ấy có xác đáng không? Tại sao chúng ta quan tâm đến địa điểm mà đối với nhiều người là nơi rất xa xôi?
Sự mở rộng xứ sở sau cuộc tấn công của kẻ thù
Nếu như Israel không sát nhập vùng lãnh thổ họ chiếm lấy trong Cuộc Chiến Sáu Ngày Vào năm 1967, có lẽ tôi sẽ không thực hiện chuyến đi mà tôi đang có đây. Chắc chắn sẽ không có một cuộc khai quật khảo cổ tại Núi Đền Thờ. Trước năm 1967, quốc gia Ảrập là Jordan đã kiểm soát khu vực, và người Do thái không được phép đến đó. Jerusalem là một thành phố chia hai, và những phần ấy nhất định là có những giới hạn.
Thế nhưng với cuộc chiến năm 1967 mọi sự nầy đà thay đổi. Các đường biên giới của Israel đã được mở rộng ra, cung ứng cho người Do thái một "chỗ để thở" để tự bảo vệ chống lại mọi kẻ thù của họ. Israel đã tham dự một cuộc chiến không cân sức, cuộc chiến Yom Kippur vào năm 1973, gần như Aicập sắp đánh bại Lực lượng Phòng Vệ Do thái. Người Do thái, được yễm trợ bởi nước Mỹ, đã liên kết lại và thắng cuộc chiến, rồi nhiều năm sau đó họ đã ký một hiệp ước hòa bình với Aicập và Jordan.
Kể từ thời điểm ấy, mối quan hệ đã tồn tại giữa nhà nước Do thái và người Palestine là những người cứ tiếp tục tìm cách trở lại với vùng đất bị mất được xem là một phần của sự thương lượng sau cùng.
Việc thiếu sót một hiệp ước vĩnh viễn và sự thiết lập một nhà nước Palestine nằm ở trọng tâm cuộc tranh cãi liên tục trong khu vực. Nhiều người mong có một sự thúc đẩy tại Liên Hiệp Quốc vào mùa thu nầy để công bố tình trạng tồn tại của một nhà nước Palestine, điều nầy sẽ đặt Israel vào một tình thế chẳng đặng đừng.
Sự nhắc lại việc kêu gọi nhắm vào các đường biên giới trước năm 1967
Kể từ tháng Giêng, vùng Trung đông đã rơi vào chỗ lộn xộn, với các cấp lãnh đạo bị hất chân ở Tunisia, Aicập và Yemen. Nhiều người khác có thể sẽ nối theo sau. Cái được gọi là "mùa xuân Ảrập" đã không tạo ra được những nền dân chủ kiểu mới. Thay vì thế, nó đã làm mất ổn định khu vực theo một tư thế chưa từng thấy kể từ lúc dựng nên vùng Trung đông hiện đại ở phần kết thúc của Đệ I Thế Chiến.
Chính phủ Obama đang quan sát cẩn thận các biến cố nầy. Các thành viên trong chính phủ nầy muốn đạt tới chỗ "cánh hữu của lịch sử" cho dù họ không thể nắm bắt được "lịch sử" là như thế nào!?! Tổng thống Obama không thực hiện một phương án tích cực nào với thế giới Ảrập kể từ khi bài phát biểu của ông ở Cairo cách đây hai năm. Lời kêu gọi mới đây của ông dành cho Israel phải trở lại với các đường biên giới trước năm 1967 với "những trao đổi căn cứ vào thỏa thuận" về đất đai, lời kêu gọi nầy bị xác định là bịnh hoạn.
Trở lại với các đường biên giới trước năm 1967 có ý nghĩa như thế nào? Trong các lãnh vực chủ chốt, Israel sẽ có bề rộng khoảng 10 dặm, cho phép các lực lượng vũ trang của kẻ thù dễ dàng cắt xứ sở ra phân nửa khi có chiến tranh. Phi cảng rất lớn của Israel gần thành phố Tel Aviv sẽ ở cách lãnh thổ của kẻ thù chừng vài dặm, và các chuyến bay đến và đi sẽ dễ bị tấn công bằng hỏa tiễn.
Syria một lần nữa sẽ kiểm soát Cao Nguyên Golan, một vùng cao nguyên quan sát hết phía Bắc Israel và là một khu vực lợi thế từ đó khai hỏa hay tấn công các thành phố và thị trấn nằm phơi mình ra ở phía dưới. Và Cổ Thành Jerusalem một lần nữa sẽ ở dưới quyền kiểm soát của Hồi giáo, chia cắt các bối cảnh thánh của người Do thái và Cơ đốc — hay ít nhất khiến mất an ninh cho người Do thái hay Cơ đốc đến tham quan.
Israel biết rõ họ phải có những đường biên giới có tính cách phòng thủ. Quân đội Israel phải có chỗ để diễn tập và bảo vệ dân chúng của họ. Người Do thái không có chỗ để phạm sai lầm. Chỉ một sai sót thôi sẽ là tai họa. Họ biết rõ, họ chớ không phải các đồng minh không đáng tin, phải chịu trách nhiệm cho sự tồn vong của họ.
Israel hiểu rõ họ phải thương lượng một hiệp ước như thế nào cung ứng cho một nhà nước Palestine kèm theo một nhà nước Isarel có thể phòng thủ được. Và người Do thái đã khẳng định rằng Jerusalem phải là thủ đô thống nhất của họ. Họ sẽ không thỏa thuận bất cứ một điều chi khác hơn thế. Họ đang sống trong vùng đất ấy mà không bị dời đi nữa.
Một số lợi ích đã mở rộng quyền hành của người Do thái
Người Do thái đã làm gì với vùng đất mà họ đã kiếm được trong cuộc chiến năm 1967? Họ đã mở rộng đất đai và khiến cho đất đai ấy phải sản xuất. Ngũ cốc được gieo trồng ở đó không những nuôi sống cả xứ, mà còn cung cấp xuất khẩu ra thế giới nữa. Bạn có thể lái xe qua các khu vực nầy rồi nhìn thấy sự phát triển mà chính phủ dân chủ ổn định đã mang lại cho xứ sở và cư dân của nó, người Do thái và người Ảrập như nhau. Hơn 1, 5 người Ảrập hiện đang sinh sống trong hòa bình và tự do ở bên trong xứ Israel — một sự kiện ít khi được tường trình.
Tôi đã nhìn thấy mọi lợi ích mà dân Ảrập sống trong xứ Israel đang vui hưởng. Du hành qua Đồng bằng Jordan, đến thành Jerusalem, đến thành Naxarét và xứ Galilê thì bạn sẽ nhìn thấy các dấu hiệu của sự thịnh vượng mà sự cộng tác hổ tương đang được duy trì.
Có lợi ích khác nữa đã kiếm được trong hơn bốn thập niên kể từ cuộc chiến năm 1967. Đó là nguồn tri thức phong phú của khoa khảo cổ đang cơi rộng ra phần lịch sử của vùng đất ấy. Kinh thánh, cùng với phần nhiều tư liệu của nó, đã được khẳng định về mặt lịch sử qua những cuộc tìm kiếm nầy. Công trường khảo cổ của Kinh thánh đã bùng bổ, và thế giới sẽ biết nhiều hơn về sự bùng nổ đó.
Tôi có nói trước đây rằng cuộc đào bới mà tôi đã lao động tại Núi Đền Thờ sẽ không được khả thi là khu vực vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát của người Ả rập Hồi giáo. Tương tự, ở phía Nam của khu vực nầy, ở chỗ được gọi là Thành David, những cuộc đào bới khác nhau đã khai quật phần lịch sử của thành ấy, khẳng định sự hiện diện của người Do thái cổ và khẳng định tính chính xác của Kinh thánh. Chúng tôi biết phần nào về lịch sử phong phú nầy là do sự phóng khoáng của nhà nước Do thái.
Israel một trung tâm điểm
Russell Mead nói tới vai trò của Israel trong một bài viết ngắn mới đây trên tờ The American Interest [Lợi ích của người Mỹ]. Israel là vấn đề cho nước Mỹ không giống với một quốc gia nào khác ở trên đất, ông viết: "Dân sự và truyện tích của Israel đang khuấy đảo sâu sắc nhất và mầu nhiệm nhất đối với linh hồn của người Mỹ ... Niềm tin cho rằng Đức Chúa Trời ưu đãi và bảo hộ xứ Israel được gắn kết với ý niệm cho rằng Đức Chúa Trời ưu đãi và bảo hộ cho nước Mỹ.
"Còn có ý nghĩa nhiều hơn thế nữa. Sự tồn tại của Israel có nghĩa là Đức Chúa Trời của Kinh thánh vẫn đang quan phòng, vẫn còn lo tưởng đến sự tồn tại của dòng giống con người ... Sự phấn hưng của người Do thái đối với vùng Đất Thánh và sự họ dựng nên một nhà nước dân chủ, thành công sau hai ngàn năm bị áp bức và lưu đày là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng tôn giáo của Kinh thánh rất đáng tin cậy" ("The Dreamer Goes Down for the Count," May 25, 2011, emphasis added)
Sự tồn tại của Israel đang là nan đề trên thế giới ngày nay. Vấn đề nầy còn rộng lớn hơn vấn đề tị nạn của người Palestine. Vấn đề nầy còn hơn cả sự tồn tại của một nhóm sắc tộc nầy với nhóm sắc tộc kia. Vùng đất cổ xưa bị chiếm đóng hôm nay bởi dân sót của một dân thuộc xứ sở theo Kinh thánh là bối cảnh của câu chuyện Đức Chúa Trời nói tới ơn cứu rỗi của Ngài dành cho mọi chi tộc của nhân loại. Đây là cao điểm mà ở đó Đức Chúa Trời của Ápraham, Ysác và Giacốp sẽ tự tỏ chính mình Ngài ra một lần nữa vì sự tốt lành cho mọi dân tộc và đem mọi nước đến trước mặt Ngài trong sự phán xét.
Ngày nay Jerusalem có thể là "hòn đá nặng cho các dân tộc" (Xachari 12:3), nhưng một ngày kia nó sẽ trở thành một nơi mà dân sự ăn ở trong sự bình an, vì "Jerusalem sẽ được ở yên ổn" (Xachari 14:11).
Trải qua nhiều năm tháng, tôi đã thực hiện mấy lần tham quan thành Jerusalem. Bất chấp mọi rối rắm trong hiện tại, tôi luôn cảm thấy mình được an ninh. Tôi có thể đặt tay mình lên Bức Tường Phía Tây và đi dạo quanh khu vực Đền Thờ xưa. Tôi có thể nhìn thấy các đường phố và nhiều tòa nhà đang giữ lấy mọi lịch sử của nó. Tôi có thể làm điều nầy vì đây là một thành phố thống nhất và tự do. Đấy là phương thức mà thành phố ấy sẽ phải trở thành.