Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG: VƯƠNG QUỐC CHIA HAI



MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG:
VƯƠNG QUỐC CHIA HAI
            Bình an [peace] là từ Anh ngữ thường dịch từ Hybálai [shalom] trong Cựu Ước. Tuy nhiên, từ Anh ngữ chưa đạt tới đích. Bình an thường mô tả sự thiếu vắng cuộc xung đột. Shalom nói tới yếu tố hạnh phúc thiết yếu — một thế giới trong đó mọi việc đang ở cấp độ sâu sắc và không nhất thiết phải thay đổi. Shalom biểu thị một tình trạng còn trỗi hơn một cuộc “ngừng bắn”. Từ nầy có nghĩa là chiến tranh đã kết thúc. Ở một cấp độ cá nhân, shalom là ngược lại với lo lắng, bất an, xung đột, kích động, và không thoả lòng.
            Trong bài học nầy, chúng ta tiếp tục chuyến hành trình qua Kinh thánh mà chúng ta đề tựa là EPIC. Giờ đây, chúng ta đang ở phần cuối chế độ quân chủ thống nhất của Israel và ở phần cuối câu chuyện của Salômôn. Ở một chỗ rất mỉa mai, chúng ta để ý thấy rằng tên Salômôn là một hình thức của từ shalom. Buồn thay, trong 40 năm trị vì của ông, Vua Salômôn đã nhìn thấy dân sự ông kinh nghiệm một nền hoà bình sắp tiêu tán. Khi ông qua đời, xứ sở nầy từng hiến hy vọng cho thế gian, đã bị đánh dấu bởi cay cú và nội chiến. Bình an bị thế chỗ bằng những đổi thay thật ghê khiếp.
            I Các Vua 11:4-8: Trong buổi già yếu, các hoàng hậu của Sa-lô-môn dụ lòng người đi theo các thần khác: Đối cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lòng người chẳng trọn lành như thể lòng của Đa-vít, là cha người. Vì Sa-lô-môn cúng thờ Át-tạt-tê, nữ thần của dân Si-đôn, và thần Minh-côm, là thần đáng gớm ghiếc của dân Am-môn. Như vậy, Sa-lô-môn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, chẳng vâng theo Đức Giê-hô-va cách trọn lành như Đa-vít, cha người, đã làm. Bấy giờ, Sa-lô-môn lại xây cất tại trên núi đối ngang Giê-ru-sa-lem, một nơi cao cho Kê-móc, vật đáng gớm ghiếc của dân Mô-áp, và cho Mo-lóc, vật đáng gớm ghiếc của dân Am-môn. Vua cũng làm như vậy cho hết thảy các hoàng hậu ngoại của mình, xông hương và tế lễ cho thần của chúng nó”.
            Hãy chú ý tỉnh từ “đáng gớm ghiếc” trong phân đoạn nầy. Sự thờ lạy thần Mo-lóc và Kê-móc đòi hỏi sự hy sinh con cái của họ bằng cách thiêu sống chúng. Salômôn đã chọn xoa dịu ước muốn của những người vợ theo tà giáo ở chỗ không vâng theo tiếng phán của Đức Chúa Trời, và ảnh hưởng của mấy người vợ nầy đã mở toang cánh cửa cho dân Israel tự họ trở thành hạng người chuyên thờ lạy hình tượng. Thành Jerusalem trở thành một ngôi nhà của sự gớm ghiếc.
            Thêm nữa, Salômôn đã lãng phí tài sản quốc gia vào các dự án xây dựng dại dột và bất công nầy. Ông bắt đầu buộc dân sự mình vào vai trò lao động bắt buộc để thực hiện tầm nhìn chẳng ra gì hết của ông. Shalom đã bị thay thế bởi tình trạng phi luân và một trận chiến dành ngai vàng cùng lúc với cái chết của ông đã trở nên không thể tránh được.
            Hai nhân vật đã phấn đấu để nối ngôi Salômôn: Rôbôam, con trai ông, và một vị quan trong triều của Salômôn có tên là Giêrôbôam. Cả hai người đều được nắn đúc bằng sự hủ bại và lạm dụng quyền lực đã đánh dấu những năm sau cùng của Salômôn. Rôbôam giả định là ông sẽ theo cha mình mà bước lên ngai vàng. Khi ông bắt đầu làm như thế, một số cố vấn hoàng gia kỳ cựu đã kêu mời Rôbôam nên chối bỏ các chính sách của cha ông về lao động cưỡng bách và trưng thu về kinh tế.
            I Các Vua 12:8-11: Nhưng Rô-bô-am không theo mưu của các trưởng lão đã bàn cho mình; bàn nghị cùng các kẻ trai trẻ đồng lớn lên với mình, và hầu hạ mình, mà rằng: Dân sự này đã tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ vua đã gán cho chúng tôi; vậy, các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với chúng nó làm sao? Các gã trai trẻ đồng lớn lên với người đáp rằng: dân sự này đã tâu với vua rằng: Thân phụ vua khiến ách chúng tôi nặng vua hãy làm cho nó ra nhẹ; vua phải đáp lại cùng chúng như vầy: Ngón tay út ta còn lớn hơn lưng của cha ta. Vậy, cha ta đã gác một cái ách nặng cho các ngươi, ta sẽ làm cái ách các ngươi thêm nặng hơn nữa; cha ta sửa phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp”.
            Gã hùng biện cứng rắn Rôbôam đã bị dân chúng từ chối ngay lập tức. Ông ta phải mau mau lui về trong an toàn trong khi hầu hết thần dân của ông ta đang trỗi dậy chống đối ông ta. Những gã bạo chúa thường là dại dột, họ tưởng dùng quyền bính đàn áp dã man là đủ để thế chỗ cho hoà bình.
            Chúng ta phải lưu ý trước khi tiếp tục, ấy là phân đoạn nầy đôi khi được dạy dỗ như một lời cảnh cáo chống lại sự liều lĩnh của tuổi trẻ, giống như thể những vị cố vấn kỳ cựu hơn sẽ luôn lắng nghe đối với những người tuổi trẻ. Song đấy chẳng phải là trường hợp. Những vị cố vấn kỳ cựu trong câu chuyện nầy đều là những người đồng thời với Salômôn, họ chẳng bàn điều gì là tốt đẹp trong các năm suy thoái của ông. Thay vì thế, thắc mắc quan trọng là: ‘ai sẽ nói với sự khôn ngoan thiêng liêng’? Cả hai: người lớn tuổi hơn và người trẻ tuổi hơn đã khuyên bảo Rôbôam với nhận định đầy thủ đoạn về mặt chính trị. Rôbôam chẳng có người nào nói đến các ý định của Đức Chúa Trời cho xứ sở và ông chẳng mấy quan tâm vào việc tìm kiếm một con người như thế.
            Đối thủ của Rôbôam là Giêrôbôam, trước tiên được ngợi khen vì cớ chức năng lãnh đạo hiệu quả của ông và chúng ta đã sớm để ý đến ông khi nói nghịch cùng các dự án xây dựng phung phí của Salômôn. Đại đa số dân sự của Đức Chúa Trời, 10 trong 12 chi phái, đã khởi sự một cuộc nội chiến và đã chọn Giêrôbôam là vua khi đối kháng với Rôbôam. Từ nhận định đó, xứ sở đã bị chia ra làm hai mà chẳng có một hy vọng nào thống nhất trở lại.
            Một tiên tri tên là Ahigia đã hiến cho Giêrôbôam một cơ hội để cai trị Israel (các chi phái tách rời) trong vai trò tôi tớ của Đức Chúa Trời nhưng ông đã từ chối, ông quyết định nắm lấy quyền lực hoàng gia theo cách riêng của mình.
            I Các Vua 12:26-32: Bấy giờ, Giê-rô-bô-am nói thầm rằng: Hoặc nước sẽ trở về nhà Đa-vít chăng. Nếu dân sự này đi lên Giê-ru-sa-lem đặng tế lễ tại trong đền của Đức giê-hô-va, thì lòng họ chắc sẽ trở về chúa của họ, là Rô-bô-am, vua Giu-đa; người ta sẽ giết ta đi và trở về với Rô-bô-am, vua Giu-đa. Vậy, vua bàn định, rồi truyền làm hai con bò con bằng vàng, và nói với dân sự rằng: Các ngươi đi lên Giê-ru-sa-lem thật khó thay! Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần ngươi, đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Người đặt con này tại Bê-tên, và con kia tại Đan. Việc đó thành nên tội lỗi, vì dân chúng đi đến Đan đặng thờ lạy bò con ấy. Giê-rô-bô-am cũng cất chùa miễu trên các nơi cao, chọn lấy người trong vòng dân chúng lập làm thầy tế lễ, không thuộc về chi phái Lê-vi. Người lại định lập trong tuần tháng tám ngày rằm, một lễ giống như lễ người ta thường dự trong xứ Giu-đa, và người dâng các của lễ trên bàn thờ. Người cũng làm như vậy tại Bê-tên, tế lễ cho hai bò con mà người đã làm nên; lại để tại Bê-tên những thầy tế lễ của các nơi cao mà người đã cất”.
            Trong khi đó, Rôbôam đã đe doạ lấy bạo tàn như sự thế chỗ của mình cho hoà bình, Giêrôbôam đã thiên về cuộc vận động từ chối không tin cậy vào Đức Chúa Trời. Giêrôbôam tự phong mình như một tân Môise và một tân Arôn. Ông dựng nên các thầy tế lễ, dựng lên các lễ hội, xây các nơi cao, tạo ra nhiều hình tượng — sử dụng ký ức lịch sử của Israel cùng mọi nhạy cảm về mặt thuộc linh cho các ý đồ riêng của mình.
            Tuy nhiên, Đức Chúa Trời sẽ không bị chế giễu và các cuộc vận động tôn giáo sẽ luôn luôn thất bại. Đến cuối cùng, ai cũng biết Giêrôbôam là một người đã dẫn Israel đến chỗ phạm tội. Dòng dõi của dòng dõi ông bị dập tắt từ lâu trước khi Israel bị chinh phục, bị tản lạc và hư mất cho đến đời đời.
            Như chúng ta sẽ khám phá ra trong bài học tới đây, vương quốc phía nam là xứ Giuđa, vẫn duy trì được chủ quyền trong một thời gian dài song chỉ là một nước chư hầu mà thôi. Nó sẽ chẳng bao giờ có được tầm vóc và ảnh hưởng mà Israel thống nhất đã có trong thời David và Salômôn.
            Sự suy thoái các năm tháng về sau của Salômôn đã nắn đúc cho Rôbôam và Giêrôbôam, hai người đã tranh nhau về ngôi vị. Shalom là một ký ức xa xôi. Từ nhận định nầy, dân sự của Đức Chúa Trời là một dân sót vô nghĩa, bị chà đạp và bị bất chấp bởi các thế lực lớn lao vây chung quanh họ. Nhưng ánh sáng chưa tắt ngúm đâu.
            Có một nguồn hy vọng còn chừa lại cho những ai trung tín — Đức Chúa Trời giữ các lời hứa của Ngài! Đức Chúa Trời đã hứa với Ađam và Êva rằng con trai của họ sẽ hủy diệt con rắn. Ngài đã hứa với Ápraham, ông sẽ trở thành một dân lớn. Ngài hứa với Môise rằng những kẻ phiêu bạt sẽ được lập ở trong đất riêng của họ. Ngài cũng hứa với David:
            II Samuên 7:11-16: tức là như lúc ta lập quan xét trị dân Y-sơ-ra-ên ta. Ta đã giải cứu ngươi khỏi các thù nghịch ngươi mà ban bình an cho ngươi. Rốt lại, Đức Giê-hô-va phán hứa rằng Ngài sẽ dựng cho ngươi một cái nhà. Khi các ngày ngươi đã mãn, và ngươi ngủ với các tổ phụ ngươi, thì ta sẽ lập dòng giống ngươi kế vị ngươi, là dòng giống do ngươi sanh ra, và ta sẽ khiến cho nước nó bền vững … Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đổ trước mặt ngươi đời đời; ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi”.
            Và Đức Chúa Trời giữ mọi lời hứa của Ngài. Một con trai của David sẽ ra đời một ngày kia và Ngài sẽ thiết lập một vương quốc đời đời — shalom sẽ còn mãi cho đến đời đời. Có những ngày tăm tối ở trước mặt dành cho dân sự của Đức Chúa Trời. Những người nhắc nhớ về phương diện tiên tri bảo họ phải chờ đợi trong đức tin.
            Và đức tin của họ sẽ được ban thưởng: thứ nhứt với sự ra đời của Chúa Jêsus tại chuồng chiên máng cỏ Bếtlêhem, kế đó với sự đắc thắng đạt được qua sự chết và sự phục sinh của Chúa Jêsus, và sau cùng vào cái ngày Chúa Bình An (shalom) tái lâm truất bỏ tội lỗi và sự chết cho đến đời đời.
            Một phân đoạn quen thuộc từ sách Êsai:
            Êsai 9:5-6: Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật, lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ làm nên sự ấy!
            Một lời sau cùng về shalom. Tân Ước nói rõ ràng bình an trong các mối quan hệ và bình an trong tấm lòng có thể là kinh nghiệm của chúng ta bất luận hoàn cảnh lịch sử nào chúng ta thấy mình đang ở trong đó.
            Philíp 4:4-7: Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi. Hãy cho mọi người đều biết nết nhu mì của anh em. Chúa đã gần rồi. Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời. Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ”.
            Cuộc sống và mọi hoàn cảnh khó nhọc khuấy khuất các tư tưởng đầy lo sợ, có thể phát triển thành những lo âu què quặt trong cuộc sống đó. Sự bình an là thứ xuất phát từ đáy lòng dâng lên Đức Chúa Trời sự cảm tạ. Sự bình an của Đức Chúa Trời đổi lại giáng cho những lời cầu nguyện của các thánh đồ.
            Philíp 4:8-9: Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến. Hễ sự gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe ở nơi tôi và đã thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở cùng anh em”.
            Ở đây, chúng ta được kêu gọi đưa ra những quyết định cho cả tư tưởng (suy nghĩ đến những việc như thế) và hành động của chúng ta (đưa vào thực hành). Vũ trụ đầy dẫy với những vấn đề đáng khen ngợi cực kỳ về sự suy gẫm. Ganh ghét, tư dục, và tự thương hại chẳng hiến cho điều gì trong sự ví sánh. Theo mẫu mực của những người nam và người nữ tin kính, chắc chắn khi có những sự lựa chọn xấu xa diễn ra cho chúng ta trong tự nhiên, điều siêu nhiên sẽ tới đến.
            Đức Chúa Trời Ngài là shalom, sẽ là bạn đồng hành của chúng ta trong nổ lực làm mới lại suy tưởng của chúng ta và làm thay đổi cách xử sự của chúng ta.





MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG: VÌ VUA DẦN NHẠT PHAI



MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG:
VÌ VUA DẦN NHẠT PHAI
            Các bức thư trong dịp lễ Giáng Sinh phục vụ nhiều hơn là chỉ có một chức năng. Chúng có thể trở thành loại tài liệu tự kỷ niệm, phản ảnh tư tưởng, hay tường trình về các sự kiện trong năm vừa qua. Tuy nhiên, có khi chúng giải thích rõ một chuyến hành trình trong cuộc sống. Tuần nầy, chúng tôi có nhận được hai bức thư trong dịp Lễ Giáng Sinh từ mấy người bạn Cơ đốc lâu rồi, chúng khiến cho tôi phải suy gẫm lại luôn về mọi hoàn cảnh hay thay đổi của cuộc sống (những đứa cháu mới) và về các niềm tin trong tấm lòng giúp đứng vững theo thử nghiệm của thời gian (tin cậy nơi tình yêu và sự thành tín của Đức Chúa Trời).
            Chúng ta đang ở giữa loạt bài nghiên cứu EPIC, thuật lại câu chuyện của Kinh thánh từ đầu đến cuối. Sứ điệp nầy ghi lại những biến cố sau cùng của chế độ quân chủ thống nhất của Israel. Ba vì vua: Saulơ, David, và Salômôn đã trị vì trên toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời, mỗi người cai trị khoảng 40 năm. Bất chấp mọi sự đã xảy ra, sự trị vì của Saulơ và sự trị vì của David, cả hai đều kết thúc ở chỗ họ bắt đầu — với Saulơ là một kẻ giả đò và với David là một người của Đức Chúa Trời. Salômôn, là đề tài của sứ điệp nầy, là một mảng nhiều phức tạp. Ông đã khởi đi rất tốt, song đã kết thúc trong đổ nát. Không giống như kinh nghiệm của của mấy người trao đổi thư từ mới đây của tôi trong dịp Lễ Giáng Sinh, đức tin của Salômôn không trụ nổi theo thử nghiệm của thời gian. Đức tin ấy tàn phai khi ông càng lớn tuổi thêm.
            Có một số khác biệt rất quan trọng giữa Salômôn và những người tiền nhiệm của ông. Thứ nhứt, Salômôn đã được chuẩn bị từ thời niên thiếu để lên ngôi làm vua. Cả Saulơ và David đều được xức dầu mà chẳng có một lời cảnh báo hay sửa soạn nào hết. Salômôn vốn biết rõ về mọi lời hứa phi thường được nói ra về ‘con vua David’ là Đấng đã được định cho phải thay đổi thế giới. Salômôn được kêu gọi xây dựng đền thờ tại thành Jerusalem với tiền bạc và đủ thứ vật liệu đã được gom góp lại trước khi ông bước lên ngai vàng. Ông đã khởi sự trị vì với cả hai phần: sự giàu có cả thể và một nền hoà bình ổn định. Những tiềm năng và các trách nhiệm lớn lao đã khiến cho vị vua trẻ tìm kiếm sự trợ giúp của Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện.
            I Các Vua 3:7-13: Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi! bây giờ Chúa đã khiến kẻ tôi tớ Chúa trị vì kế Đa-vít, là cha tôi; nhưng tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ chẳng biết phải ra vào làm sao. Kẻ tôi tớ Chúa ở giữa dân của Chúa chọn, là một dân đông vô số, không thể đếm được. Vậy, xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lng khôn sáng, để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều lành điều dữ; vì ai có thể đoán xét dân rất lớn này của Chúa? Lời của Sa-lô-môn đẹp lòng Chúa, vì người đã cầu xin sự đó. Đức Chúa Trời phán với người rằng: Bởi vì ngươi đã cầu xin điều này, mà không xin sự sống lâu, không xin sự giàu có, cũng không xin mạng của những kẻ thù nghịch ngươi, nhưng xin sự thông minh để biết xét đoán, nầy, ta đã làm theo lời cầu xin của ngươi, ban cho ngươi tấm lòng khôn ngoan thông sáng đến đỗi trước ngươi chẳng có ai bằng, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có ai ngang. Vả lại, ta cũng đã ban cho ngươi những điều ngươi không xin, tức là sự giàu có và sự vinh hiển, đến đỗi trọn đời ngươi, trong vòng các vua, sẽ chẳng có ai giống như ngươi.
            Đức GIÊHÔVA vốn đẹp lòng với lời xầu nguyện của vua Salômôn, nhưng Ngài phán ra sự tán thưởng trong các giới hạn thật tiêu cực — ‘ngươi không cầu xin về những hậu quả của bản ngã’. Có lẽ ông thiếu sót một lời cầu xin sâu sắc. Salômôn đã cầu xin để ông trở thành một vì vua có nhiều hiệu quả, chớ không phải là một con người sống tin kính. Ông muốn lãnh đạo quốc gia, nhưng không cầu xin Đức Chúa Trời tể trị tấm lòng của mình. Salômôn không đối diện với những mối nguy hiểm ngoại tại trong cuộc đời của ông và không sửa soạn để gặp gỡ những mối nguy hiểm chắc chắn tràn dâng lên ở bên trong ông. Hãy xem đây:
            I Các Vua 11:4, 6: Trong buổi già yếu, các hoàng hậu của Sa-lô-môn dụ lòng người đi theo các thần khác: Đối cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lòng người chẳng trọn lành như thể lòng của Đa-vít, là cha người … Như vậy, Sa-lô-môn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va”.
            Mặc dù phần kết cuộc rất là đáng buồn, trước tiên chúng ta hãy xem xét những năm tháng đầu đời sự trị vì của Salômôn, khi lời cầu nguyện của ông xin cai trị dân tộc thật mỹ mãn đã được đáp trả cách dư dật.
            I Các Vua 4:20-21: Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đông như cát trên bờ biển, ăn uống và vui chơi. Sa-lô-môn cai trị trên các nước, từ sông cái cho đến xứ Phi-li-tin, cho đến ranh Ê-díp-tô. Các nước ấy đều tiến cống và phục Sa-lô-môn trọn đời người”.
            Salômôn đã cai trị trên một vương quốc ngày càng giàu có và thần dân sống rất hạnh phúc. Ông đã thành công mà không có sự bạo tàn — dân sự của ông đã sống trong sự hoà bình, các đường biên giới của ông đều được an ninh. 
            I Các Vua 4:29-34: Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan, sự thông sáng rất cao, cùng lòng rộng rãi như cát trên bờ biển. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trổi hơn sự khôn ngoan của mọi người phương đông, và sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô. Người khôn ngoan hơn mọi người, khôn ngoan hơn Ê-than, người Ếch-ra-hít, hơn Hê-man, Canh-côn, và Đạt-đa, là các con trai Ma-hôn; danh tiếng người đồn ra trong các dân tộc chung quanh. Người nói ba ngàn câu châm ngôn, và làm một ngàn năm, bài thơ. Người luận về cây cối, từ cây bá hương của Li-ban cho đến chùm kinh giới mọc ra nơi vách; người cũng có luận về loài vật, chim, loài công trùng, và cá. Có kẻ từ các dân tộc đến nghe sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, và các vua ở thế gian mà đã nghe nói về sự khôn ngoan của người, đều sai sứ đến”.
            Đừng bỏ qua chỗ hiếm hoi và hấp dẫn mà phần mô tả nầy vốn có. Dân sự của Đức Chúa Trời sống thật hạnh phúc và thành công. Vua của họ rất khôn ngoan không những về phạm trù tôn giáo theo Kinh thánh, mà còn ở các vấn đề khoa học, sự cai trị, xã hội, và các thắc mắc sâu sắc của con người.
            Câu chuyện nổi tiếng nhất về Salômôn chỉ ra sự thông sáng của ông nhìn thấy tận đáy lòng của một người làm mẹ. Hai người đàn bà xưng mình là mẹ của cùng một đứa bé. Trong một động thái dường như là rất độc ác lúc ban đầu, Salômôn yêu cầu chia đứa trẻ ra làm hai. Khi người mẹ hợp pháp nhượng bộ phần xưng nhận của bà để cứu mạng sống của đứa bé, đứa trẻ được đặt vào trong vòng tay của bà. Vì nhà vua vốn hiểu rõ tình cảm của con người và các thế lực đang lèo lái các quyết định của cá nhân, ông là một vì vua đặc biệt rất hiệu quả. Trong những năm đầu đời sự trị vì của Salômôn, dân sự Israel đã nhận lãnh ơn phước của Đức Chúa Trời và bản thân họ là nguồn phước cho thế gian.
            Trong thời buổi của chúng ta, các tín đồ đôi khi được ghi công vì những việc lành, đặc biệt trong những nơi nghèo khó và thiếu thốn. Tuy nhiên, thường thì chúng ta bị xem là hẹp hòi và hay gây thương tổn. Điều nầy đặc biệt là thực (đối chiếu trực tiếp với Salômôn) trong các vấn đề khoa học, triết lý, và công cuộc thiết lập sự hài hoà trong xã hội. Tuy nhiên, trong vô số trường hợp không hề được tường trình, hạng người có đức tin đang loại trừ những ân tứ của Đức Chúa Trời giống như Salômôn đã làm.
            Trong bức thư mới đây, Nolan và Sandra Sharp đã viết về chức vụ của họ ở Croatia. Ở giữa mọi nổ lực khác, gia đình Sharp đang phụ giúp thắng hơn tình trạng chán chường giữa vòng các sinh viên xuất thân từ nhiều lai lịch khác nhau bằng cách gán đề tài nầy cho các lớp học ‘cách thức để đến trường’. Họ đang giải thích làm thế nào để trụ lại với việc đến trường, làm sao để nối kết tư tưởng, làm sao để ghi chép bài giảng, và làm cách nào để lần theo những gì người kia đọc — nói ngắn gọn, họ đang dạy cho lớp người trẻ cách thức phải học hỏi. Với học đường đang trở nên ít bí ẩn hơn, những đứa trẻ sáng láng đang ngồi ghế nhà trường và kiếm được hy vọng mà trước đó không có. Gia đình Sharp đang phục vụ tha nhân và tôn vinh Chúa trong một bối cảnh nhỏ, giống như Salômôn đã làm với cấp độ quốc gia trong thời buổi của ông. Nhất định là sứ điệp yêu thương cứu rỗi của Đức Chúa Trời có nhiều quyền phép khi được truyền đạt bởi những người đã minh chứng rồi mình là khôn ngoan và có tấm lòng của người tôi tớ.
            Tuy nhiên, có một vài cảnh báo về sự khôn ngoan nổi tiếng của Salômôn mà chúng ta cần phải lưu ý. Thứ nhứt, Salômôn có thể hiến mưu luận khôn ngoan, nhưng ông không thể khiến cho ai đó ra khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Salômôn là ân tứ của Đức Chúa Trời, chớ không phải là một việc mà ông xứng đáng được người ta nói tới. Một mình Đức Chúa Trời biết rõ những điều sâu thẳm của tạo vật và những điểm đặc biệt của từng tình huống riêng tư. Một lời nói ra từ người khôn ngoan giúp đỡ trong một khoảnh khắc, nhưng tôi tớ của Đức Chúa Trời phải chỉ ra những ai tìm kiếm sự thông sáng làm thay đồi đời sống nhìn biết Chúa, chớ không phải nhìn biết bản thân họ. 
            Cảnh báo thứ hai: sự khôn ngoan thiêng liêng thường là mầu nhiệm hay khó hiểu. Chúa xứng đáng với sự tôn kính khiêm nhường của chúng ta trong trường hợp ý muốn của Ngài sẽ khiến cho chúng ta nhận biết hay không!?! Đúng là khả thi khi lời cầu xin của Salômôn về sự khôn ngoan – với – những đức tính (‘xin giúp tôi cai trị sao cho thật thành công’) gieo ra những hột giống hư hại của ông. Một phần nối kết sau cùng với Đức Chúa Trời không thể kiếm được nếu chúng ta tìm kiếm nó theo các giới hạn với những điều kiện của chúng ta. Salômôn ra đời trong môi trường hoàng tộc và ông vốn có những mong muốn rõ ràng mà đời sống của ông đã thể hiện ra. Thường thì các tín hữu tiếp cận Chúa hay tìm kiếm ơn phước của Ngài trên con đường mà chúng ta thích bước đi trên đó. Nhưng mỗi thánh đồ phải từ bỏ quan điểm cho rằng mình đang nắm lấy quyền chủ động. Đức Chúa Trời hằng sống luôn luôn xứng đáng được thờ lạy và thường thì đường lối của Ngài không phải là đường lối của chúng ta.
            Các chương 5-10 của I Các Vua mô tả phần nhiều thành tựu của Salômôn, chủ yếu là xây dựng đền thờ tại thành Jerusalem. Thêm nữa, nhà vua đã xây dựng nhiều dinh thự cho chính mình và cho hoàng hậu người Ai cập của ông. Ông kiến thiết nhiều đồn lũy và củng cố phòng thủ cho thành Jerusalem. Ông lập ra một đội tàu và tích lũy sự giàu có đồ sộ.
            Như chúng ta đã thấy, sự khôn ngoan và giàu có của Salômôn đã thu hút sự ngưỡng mộ nơi bậc vua chúa của các nước xung quanh. Chủ yếu giữa vòng họ là nữ hoàng Sêba, bà đã đến tham quan thành Jerusalem, chuyến đi đã được ghi lại ở I Các Vua 10.
            I Các Vua 10:3-5: Sa-lô-môn đáp các câu hỏi của bà, chẳng câu nào ẩn bí quá cho vua, mà vua không giải nghĩa nổi cho bà. Khi nữ vương Sê-ba thấy mọi sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện người đã cất, những món ăn trên bàn người, nhà cửa của tôi tớ người, thứ tự công việc của các quan, và đồ ăn mặc của họ, các quan chước tửu, và các của lễ thiêu người dâng trong đền Đức Giê-hô-va, thì mất vía”.
            Salômôn đã nhận lãnh hết làn sóng nầy đến làn sóng khen ngợi khác và rất ưa thích sự khen ngợi đó, đặc biệt khi những kẻ khen ngợi đều là phái yếu.
            I Các Vua 10:23-25: Ấy vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn các vua thế gian về sự giàu có và sự khôn ngoan. Cả thiên hạ đều tìm kiếm mặt Sa-lô-môn đặng nghe sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã để trong lòng người. Cứ hằng năm, theo lệ định, mọi người đều đem đến dâng vật mình tiến cống cho vua, nào chậu bằng bạc và bằng vàng, áo xống, binh khí, thuốc thơm, ngựa, và la”.
            Thêm vào với những kẻ khen ngợi, ông thường xuyên gặp gỡ với những kẻ hay biếu xén và những người tìm kiếm sự ưu đãi, rồi sau cùng ông bị biến dạng bởi những thành tựu của mình. Salômôn vốn thông sáng hơn mọi người nào khác từng sinh sống, một thiên tài thật có một không hai. Ai có thể hiến cho ông một lời mưu luận hay chỉnh sửa khôn ngoan cần thiết chứ? Ai có thể phục vụ trong vai trò bạn hữu hay thân tín của Salômôn, hoặc là người mà nhà vua có thể chia sẻ một cuộc trao đổi thú vị chứ?
            Chúng ta cũng phải chú ý đến cách sử dụng sự phóng đại trong câu chuyện của Salômôn. Luôn luôn có một đề nghị về sự đánh giá (và sự tranh cạnh). Salômôn là người khôn ngoan nhất, giàu có nhất, và nổi tiếng nhất, người được ngưỡng mộ nhất. Sự cô lập là không thể tránh được nếu ai đó ở trong bối cảnh bị coi là ‘kém hơn’ nhà vua.
            Sự dạy của Tân Ước rất là rõ ràng. Vì Chúa Jêsus luôn luôn hiện diện với chúng ta, không một thánh đồ nào là khôn ngoan nhất hay giàu có nhất hoặc được ngưỡng mộ nhất trong bất kỳ bối cảnh nào. Salômôn lạc lối nơi những gì đã được gán cho ông, ông gạt qua một bên sự hiểu biết của mình về nét huy hoàng của Đức Chúa Trời, rồi lạc mất. Sự tán thưởng của con người phải bị bỏ qua một bên để chúng ta có thể dự phần vào tiếng phán của Chúa. Hy vọng tốt nhứt của chúng ta muốn nhìn thấy bản thân mình cách rõ ràng và đánh giá sự góp phần của ‘kẻ mạnh người yếu; kẻ giàu người nghèo’ là thờ lạy một Đức Chúa Trời, sự vinh hiển của Ngài khiến cho chúng ta ra nhỏ bé.
            Tôi có trao đổi với Mike Knowles mới đây về chức vụ của Young Life [sức sống trẻ] ở châu Phi. Ông lưu ý rằng Cơ đốc nhân người Mỹ nhận được nhiều từ sự hữu nghị với người châu Phi (đặc biệt là người nghèo) hơn là người châu Phi nhận được từ người Mỹ. Sự vui mừng dễ lây lan và sự dạn dĩ vốn dư dật giữa những tín đồ nào nhìn biết nhu cần của họ và biết ơn về mọi sự mà Đức Chúa Trời đang cung ứng cho họ. Salômôn chỉ trao đổi với hạng người giàu sụ và có quyền lực rồi không bao giờ có được những tình bạn kiểu như vậy.
            Thêm vào với các ảnh hưởng không được tốt của sự dư dật và tranh cạnh, Salômôn đã từ chối không công nhận sự lui đi của tuổi tác. Như chúng ta đã lưu ý trước đây, phần kết luận của ông rất là đáng buồn.
            I Các Vua 11:4, 6: Trong buổi già yếu, các hoàng hậu của Sa-lô-môn dụ lòng người đi theo các thần khác: Đối cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lòng người chẳng trọn lành như thể lòng của Đa-vít, là cha người … Như vậy, Sa-lô-môn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va”.
            Salômôn đã có nhiều vợ để làm cho các nhà quân chủ khác hài lòng, sức mạnh tình dục rất quyến rũ và sự khen ngợi của phái yếu chính là sở thích của ông. Các tác phẩm thời tuổi trẻ của ông (Nhã ca và Châm ngôn) cho thấy rõ ràng là ông biết rõ quyền lực và tiềm năng của các mối quan hệ tình dục và có thể cảnh cáo độc giả chống lại những sự lựa chọn dại dột. Tuy nhiên, đến cuối cùng thì sự khôn ngoan của chính ông đã làm cho ông phải lạc mất. Ông đã minh chứng câu ngạn ngữ quen thuộc rằng chẳng có một kẻ dại khờ nào giống như một ông cụ già mà dại.
            Sự dại dột khi thờ lạy hình tượng chắc chắn dẫn tới thất vọng. Với điều nầy trong trí, chúng ta kết luận với một phân đoạn từ sách Truyền đạo, một quyển sách khó nuốt theo truyền khẩu đã được gán cho Salômôn là tác giả. Mấy câu nầy ra từ chương 1, mô tả thế gian như vốn có lúc tiếng phán của Đức Chúa Trời bị im bặt đi. 
            Truyền đạo 1:1-11:Lời của người truyền đạo, con trai của Đa-vít, vua tại Giê-ru-sa-lem. Người truyền đạo nói: Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Các việc lao khổ loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi? Đời nầy qua, đời khác đến; nhưng đất cứ còn luôn luôn. Mặt trời mọc, mặt trời lặn, nó lật đật trở về nơi nó mọc. Gió thổi về hướng nam, kế xây qua hướng bắc; nó xây đi vần lại không ngừng, rồi trở về vòng cũ nó. Mọi sông đều đổ vào biển, song không hề làm đầy biển; nơi mà sông thường chảy vào, nó lại chảy về đó nữa. Muôn vật thảy đều lao khổ, loài người không thế nói ra được; mắt không hề chán ngó, tai chẳng hề nhàm nghe. Điều chi đã có, ấy là điều sẽ có; điều gì đã làm, ấy là điều sẽ làm nữa; chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời. Nếu có một vật chi mà người ta nói rằng: Hãy xem, cái nầy mới, vật ấy thật đã có rồi trong các thời đời trước ta. Người ta chẳng nhớ các đời trước, và các đời sau những người đến sau cũng sẽ chẳng nhớ đến nữa”.
            Vòng tròn vô nghĩa: mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, thế hệ nầy ra đời, thế hệ kia chết đi. Chẳng có gì là quan trọng cả. Không một ai thành công hết. Chẳng có ai tạo ra một sự khác biệt. Salômôn từng được xem là một người có thể dạy dỗ thế gian rồi kết thúc chẳng ra gì hết không có gì để nói tới. Nguyện Đức Chúa Trời bảo tồn chúng ta tránh né con đường của Salômôn và khiến cho chúng ta tỉnh thức về mọi bất toàn của mình và biết nương cậy luôn nơi Ngài.


Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG: TẤM LÒNG ĐAU THƯƠNG VÀ THỐNG HỐI



MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG:
TẤM LÒNG ĐAU THƯƠNG THỐNG HỐI
            Tháng trước, vị Giám đốc CIA từ chức vì ông ta phạm tội ngoại tình và thất bại không giữ được tình trạng không chung thủy đó. Sự sụp đổ của David Patraeus trước vấn đề đó đường như là cú sốc cho mọi người. Ông được xem là rất tiêu chuẩn đạo đức và có kỷ luật cá nhân không lay chuyển. Ông đã chịu đựng những trăn trở và khó khăn khi nắm các chức vụ quan trọng và đầy nguy hiểm trên chiến trường. Tuy nhiên, trong các điều kiện dễ dàng hơn công tác chỉ huy quân đội từ những trung tâm hành quân, ông đã không chống cự lại nổi trước sự cám dỗ. Đây là câu chuyện đương thời và là một câu chuyện cũ rích. Chúng ta đang hướng tới câu chuyện kể về một cấp lãnh đạo khác, ấy là Vua David, được thấy trong II Samuên 11 và 12.
            Chúng ta bắt đầu xem xét về David trong tuần rồi, thì thấy rằng không giống như Saulơ, mọi phẩm chất của ông trong vai trò làm vua là loại phẩm chất của tấm lòng, chớ không phải của bề ngoài. David đã lãnh đạo dân sự Ngài vào sự thờ phượng và để lại sau lưng nhiều Thi thiên đã nắn đúc những lời cầu nguyện của dân Do thái và Cơ đốc nhân trong 3.000 năm. Khi câu chuyện bắt đầu, sự trị vì của David đã thể hiện mọi tiềm năng của một dân tộc tin kính — một niềm hy vọng rực rỡ cho một thế giới bị kẹt bẫy trong tình trạng thờ lạy hình tượng. Những năm tháng đầu đời của David trong vai trò làm vua đã làm hình bóng trước cho sự đến của Đấng Mêsi, là Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng giúp cho dân sự Đức Chúa Trời bản thân họ phải ‘cai trị trong sự sống’ (Rôma 5:17). Sức mạnh của David khiến cho chúng ta ao ước về một vị vua công bình, song sự yếu đuối của ông cho thấy rõ ràng rằng Đấng Mêsi hầu đến trước tiên phải cứu dân sự Ngài ra khỏi tội lỗi và sự chết.
            Ân ban sự sống dư dật của Chúa Jêsus là khả thi duy nhứt vì Ngài đã hy sinh bản thân mình cho hạng tội nhân. Tấm lòng của David dành cho Đức Chúa Trời được minh chứng là bất toàn và chúng ta phải xem xét những sự lựa chọn gian ác mà ông đưa ra trong nửa phần sau của cuộc đời ông. Những lời cầu nguyện thật cảm động cùng các thất bại đáng kinh khiếp của David, cả hai đang sửa soạn cho sứ mệnh của Đấng Mêsi.
            Trong buổi họp ban trị sự mới đây, Rolana Smith đã bàn bạc về chức vụ của bà cho lứa tuổi thanh niên, phần nhiều chúng được nuôi dạy trong các gia đình Cơ đốc. Bà khen ngợi hầu hết chúng đều quen biết với câu chuyện nói tới David và Gôliát, nhưng chẳng có đứa nào nghe nói tới câu chuyện David và bà Bátsêba. Chúng ta cũng muốn tránh né câu chuyện ấy nữa, nhưng chúng ta phải đối diện với những lẽ thật đau đớn nầy về David và mọi hàm ý của chúng cho sự hiểu biết của chúng ta.
            II Samuên 11:1: Qua năm mới, khi các vua thường ra tranh chiến, Đa-vít sai Giô-áp cùng các tôi tớ mình và cả đạo binh Y-sơ-ra-ên đánh giặc; chúng cướp phá xứ dân Am-môn và vây thành Ráp-ba. Nhưng vua Đa-vít ở lại Giê-ru-sa-lem".
            Và âm nhạc với một phím nhỏ bắt đầu trổi lên làm nền. David đã ở lại thành Jerusalem
            II Samuên 11:2-4: Một buổi chiều kia, Đa-vít chổi dậy khỏi giường mình, đi dạo chơi trên nóc đền vua, bèn thấy một người nữ đang tắm; người nữ ấy rất là lịch sự. Đa-vít sai hỏi người nữ ấy là ai, thì người ta thưa rằng: Ấy là Bát-Sê-ba, con gái của Ê-li-am, vợ của U-ri, người Hê-tít. Đa-vít sai người đem nàng đến. Nàng đến nhà vua và vua ngủ với nàng. Sau khi nàng làm cho sạch sự ô uế mình.
            Cụm từ nầy là một tham khảo đến chu kỳ hàng tháng của nàng. Cụm từ ấy cho thấy rõ ràng rằng Bátsêba chưa có thai bởi chồng nàng, khi David sai người đem nàng đến.
            II Samuên 11:5: bèn trở về nhà. Người nữ nầy thọ thai, sai người tâu cùng Đa-vít rằng: Tôi có thai”.
            David đã nom thấy nàng, sai người đem nàng đến, ngủ với nàng, và nàng trở về nhà mình. Chẳng có một sự ân cần hay quan hệ cá nhân nào trong mấy câu nầy. Một người có quyền lực mở lối cho tư dục mình, chẳng có gì khác hơn thế. Người ta nói cho ông biết nàng là vợ của bạn hữu ông — một cơ hội Đức Chúa Trời hiến cho ông để tránh qua một bên — song nổi ham muốn của ông không chịu khước từ.
            Nhưng sự lựa chọn loạn nghịch kia bắt đầu từ đâu chứ? Nó khởi sự với David đang rời xa một trách nhiệm, có phải không? David lẽ ra đã lãnh đạo quân đội mình vào chiến trận, nhưng thay vì thế, ông đã sai phái Giôáp. Dường như là David đã lấy làm mệt mõi trong việc sống luôn luôn với mọi trách nhiệm của mình, lấy làm mệt mõi về sự nhọc nhằn và chiến trường. Trong tâm trạng nầy, ông quyết định chìu theo bản ngã mình rồi sử dụng đặc quyền vua chúa cho lợi ích cá nhân. Tình trạng biếng nhác và ích kỷ lặt vặt không phải là tội lỗi tệ lậu nhất trong mọi tội lỗi đâu, mà có một lời cảnh cáo ở đây. Nuông chìu bản ngã thường mở ra cánh cửa bất chấp và thất bại lớn lao hơn.
            Thật là rõ ràng, có những lúc khi Đức Chúa Trời dự tính cho chúng ta phải nghỉ ngơi, khi trách nhiệm có thể được chú trọng đến vì những lý do tốt lành. Bực bội và khó chịu không phải là những lý do tốt.
            Sau khi David hay được tình trạng thai nghén, ông gửi lời đến Giôáp triệu người chồng là Uri về nhà từ bãi chiến trường. David vốn mong rằng Uri sẽ qua đêm với vợ mình và sẽ có ngay một lời giải thích khả thi về tình trạng thai nghén của nàng. Song khi trở về từ chiến trường, Uri đã từ chối không chịu ngủ với vợ mình.
            II Samuên 11:10-11: Người ta thuật điều đó cho Đa-vít và nói rằng: U-ri không có đi xuống nhà người. Đa-vít hỏi U-ri rằng: Chớ thì ngươi chẳng đi đường trở về sao? Cớ sao không đi xuống nhà ngươi? U-ri thưa cùng Đa-vít rằng: Hòm giao ước, Y-sơ-ra-ên, và Giu-đa, vẫn ở dưới trại, Giô-áp, là chúa tôi, luôn với các tôi tớ chúa tôi đang hạ trại nơi đồng trống, còn tôi lại vào nhà mình đặng ăn, uống, và ngủ cùng vợ mình sao? Tôi chỉ mạng sống và linh hồn của vua mà thề rằng, tôi chẳng biết làm một sự như vậy!
            Lối nói của Uri là một sự quở trách rất chất lượng và khiến cho David phải tỉnh thức, hối tiếc và ăn năn, song chẳng được như vậy.
            II Samuên 11: 12-13: Đa-vít nói cùng U-ri rằng: Hãy ở lại đây ngày nay, rồi mai ta sẽ sai ngươi đi. Vậy, U-ri ở lại tại Giê-ru-sa-lem ngày ấy và ngày sau. Đoạn, Đa-vít vời người ăn uống tại trước mặt mình, và làm cho người say; nhưng chiều tối, U-ri đi ra ngủ trên giường mình với các tôi tớ của người, chớ không có đi xuống nhà mình”.
            Câu chuyện càng tệ hại hơn từ chỗ nầy. Uri là tiếng nói của Đức Chúa Trời phán cùng nhà vua. David có thể ăn năn về tội tà dâm, rồi bắt đầu làm việc trong sự khiêm nhường, xưng tội, và sự phục hồi, thế nhưng sự thực cho thấy rằng ông đã chọn một phương tiện ghê khiếp để bao che tội lỗi của mình, tấm lòng ông trở nên chai cứng hết ngày nầy sang ngày khác.
            David đã dặn dò Giôáp (trong bức thư do chính Uri mang đến) phải đặt Uri vào chỗ nguy hiểm rồi lui quân để Uri bị giặc giết. Giôáp vốn biết rõ chiến lược nầy sẽ làm cho ông ra dở hơi, vì vậy ông chuẩn bị một đạo quân, không phải chỉ có Uri thôi đâu, tự họ lâm vào hiểm nguy và chắc chắn phải ngã chết tại chiến trường. Những sự lựa chọn của David kết nối với nhau như những bước đi dần xuống một cái hố sâu, một quá trình được mô tả trong phân đoạn sau đây.
            Giacơ 1:13-15: Chớ có ai đang bị cám dỗ mà nói rằng: Ấy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai. Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết”.
            Sự cám dỗ, ham muốn, phạm tội, và sự chết. Con đường dẫn đến cái chết của tấm lòng đã được loan báo trước và đã được David minh hoạ rất hay. Chúng ta không thể đổ thừa cho Đức Chúa Trời về tội lỗi của chúng ta hay mọi hậu quả của nó. Thực vậy, chúng ta có thể kêu la xin giúp đỡ và chọn ăn năn và được phục hồi ở bất cứ thời điểm nào. Phần mô tả của Giacơ và kinh nghiệm của David sẽ vang dội một lời cảnh cáo cho những ai đang bước đi trên con đường từ sự cám dỗ đến chỗ hủy diệt. Che đậy sẽ thất bại — hãy chọn quay lại với Đấng Christ ngay lúc bây giờ!
            David đã không kềm chế được sự ham muốn của mình khi ông hay biết lai lịch của người nữ mà ông đã nhìn thấy, ông cũng không ăn năn khi ông đối diện với tấm gương kỷ luật bất khuất của Uri. Tội lỗi đã sanh ra sự chết thuộc linh. Vì vậy, khi David hay được toán quân của Uri đã bị giặc giết, ông đã không chút cảm động. Gươm, khi giết kẻ nầy, khi giết kẻ khác. Người từng có tấm lòng dành cho các vụ việc của Đức Chúa Trời đã trở thành một đại biểu của tình dục, bạo lực không có lòng thương xót  .
            II Samuên 11:26-27: Khi vợ U-ri hay rằng chồng mình đã thác, thì than khóc U-ri. Khi đã mãn tang, Đa-vít sai vời nàng vào cung; nàng trở nên vợ người, sanh cho người một con trai. Nhưng điều Đa-vít đã làm đó không đẹp lòng Đức Giê-hô-va”.
            Thái độ không hài lòng của Đức Chúa Trời khiến Ngài phải nắm lấy hành động, trước tiên bằng cách dầm thấm lương tâm của David. Mặc dù chẳng chút bối rối ở ngoài mặt, David đang hứng chịu nổi đau khổ trong linh hồn khi chúng ta học biết được từ chính ngòi viết của nhà vua.
            Thi thiên 32:3-4: Khi tôi nín lặng, các xương cốt tôi tiêu-tàn, và tôi rên siếc trọn ngày; Vì ngày và đêm tay Chúa đè nặng trên tôi; Nước bổ thân tôi tiêu hao như bởi khô hạn mùa hè”.
            Khi quay trở lại với II Samuên 12, chúng ta thấy rằng lương tâm đầy dẫy đau đớn của David mới chỉ là phần khởi đầu — tội lỗi của ông sẽ bị bày ra ở chỗ công cộng với nhà vua vô tình loan báo sự phán xét giáng trên chính bản thân ông.
            Tiên tri Nathan được sai đến thuật cho David nghe một câu chuyện rất bất công. Một người giàu có với tài nguyên bao la đã giết chiên con yêu dấu của người láng giềng nghèo khó để đãi một vị khách đến bất ngờ. Câu chuyện nầy nói tới người nhà giàu kia bóc lột người nghèo đã khiến cho David “nổi giận lắm”. Tất nhiên, câu chuyện nầy đã nói thẳng đến chỗ yếu đuối của David.
            II Samuên 12:5-14: Đa-vít bèn nổi giận lắm cùng người ấy, và nói cùng Na-than rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đáng chết! Hắn phải thường bốn lần giá chiên con không có lòng thương xót. Bấy giờ, Na-than nói cùng Đa-vít rằng: Vua là người đó! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Ta đã xức dầu lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, ta đã giải cứu ngươi khỏi tay Sau-lơ. Ta cũng ban cho ngươi nhà của chủ ngươi, trao vào tay ngươi các vợ của chủ ngươi, lập ngươi làm vua của nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và nếu điều đó không đủ, ắt ta sẽ thêm cho ơn khác nữa. Cớ sau ngươi đã khinh bỉ lời của Đức Giê-hô-va, mà làm điều không đẹp lòng Ngài? Ngươi đã dùng gươm giết U-ri, người Hê-tít, lấy vợ nó làm vợ ngươi, còn nó thì ngươi đã giết bởi gươm của dân Am-môn. Nên bây giờ, gươm chẳng hề thôi hủy hoại nhà ngươi, bởi vì ngươi đã khinh ta, cướp vợ U-ri, người Hê-tít, đặng nàng làm vợ ngươi. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ khiến từ nhà ngươi nổi lên những tai họa giáng trên ngươi; ta sẽ bắt các vợ ngươi tại trước mắt ngươi trao cho một người lân cận ngươi, nó sẽ làm nhục chúng nó tại nơi bạch nhựt. Vì ngươi đã làm sự kia cách kín nhiệm, nhưng ta sẽ làm việc nầy trước mặt cả Y-sơ-ra-ên và tại nơi bạch nhựt. Đa-vít bèn nói cùng Na-than rằng: Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va cũng đã xóa tội vua; vua không chết đâu. Nhưng vì việc nầy vua đã gây dịp cho những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài, nên con trai đã sanh cho ngươi hẳn sẽ chết”.
            Lời lẽ của David ở đây chẳng khác gì như ‘lời xưng tội’ của các nhân vật danh tiếng hiện đại, họ kêu gọi chú ý đến hành vi tồi tệ để níu kéo người ta chú ý đến bản thân họ. “Ta đã phạm tội cùng Đức GIÊHÔVA” là một câu nói ta thán chân thành và sau cùng dẫn tới sự chuộc tội của David. Trong một phút thôi, chúng ta sẽ xem xét Thi thiên 51, là Thi thiên được viết ra sau các sự cố nầy (như Thi thiên 32) và được dựng lên trên lời xưng tội nầy.
            Tuy nhiên, có một hình bóng nói trước đến Đấng Christ trong giọng nói của Nathan mà chúng ta nên lưu ý trước hết. Ở 12:13-14, Nathan tuyên bố với David:vua không chết đâu. . . . con trai đã sanh cho ngươi hẳn sẽ chết. Câu nói nầy có cả hai phần: ứng nghiệm ngay tức thì và sự ứng nghiệm về sau nầy nữa.
            Đứa con của Bátsêba đã ngã chết y như đã được loan báo trước. Dù vậy, câu nói của Nathan cũng nhìn tới đàng trước đến với sự chết của con trai khác của David, là Chúa Jêsus. Chính vì cớ sự hy sinh của Ngài mà David đã được tha thứ và chúng ta cũng có thể sống mà không chết trong sự phán xét tội lỗi mà chúng ta đáng phải chịu. Bạn có thể sống — Đức Chúa Con sẽ gục chết.
            Chúng ta hãy để ý Thi thiên 51 — do David viết ra sau khi ông được tha thứ và được phục hồi. Một lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời, Thi thiên nầy đã được viết ra để dạy “các sự vi phạm” và hiến cho phương thức “kẻ có tội trở về cùng Chúa”. Ở đây, chúng ta có thể chạm đến một vài câu trong phân đoạn Kinh thánh đầy năng lực nầy.
            Thi thiên 51:1: “Đức Chúa Trời ôi! xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhân từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa”.
            Từ ngữ Hybálai dịch ‘lòng nhân từ’ đầy dẫy với ý nghĩa. Nó xác định Đức Chúa Trời là Đấng hay giữ lời hứa của Ngài. Vì cớ giao ước của Ngài với dân sự Ngài, David chẳng xứng đáng kia có thể cầu xin sự thương xót. David đáng phải chịu hình phạt nhưng kêu nài sự thương xót vì cớ tình yêu thương hay giữ lời hứa của Đức Chúa Trời.
            Thi thiên 51:7: Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tội lỗi tôi, thì tôi sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết”.
            Những vết sẹo, vết bẩn, và sự ô uế — những phần đính kèm thường trực của thất bại có thể không bị bôi xoá bao lâu sự luyện lọc con người còn được chiếu cố. Sự thanh tẩy của Đức Chúa Trời dời đi cả thảy. 
            Thi thiên 51:10-12: Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, Và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng. Xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa, cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa. Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa, dùng thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi”.
            Ở đây, David công nhận rằng bị dạy dỗ một bài học là chưa đủ. Không có sự thay đổi bề trong; nếu tấm lòng chưa tan vỡ và chưa sửa đổi, nếu Thánh Linh của Đức Chúa Trời không chiếm lấy nơi ngự ở trong tôi, tôi sẽ làm lại những gì tôi đã làm ở lần thứ nhứt. Chúng ta cần phải có sự sanh lại, chớ không chỉ có một sự thay đổi ý chí.
            Thi thiên 51:16-17: Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng; Của lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa: Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu”.
            David là một con người có khả năng và khôn khéo, ông sẽ tự xác định mình nếu ông có thể. Tương tự, ở bề mặt của thất bại, hầu hết chúng ta sẽ thích cứu lấy sự tự hào của mình hơn rồi hành xử theo kiểu anh hùng để ổn định mọi việc, nhưng sự lựa chọn ấy là bất khả thi. Đức Chúa Trời chấp nhận thái độ ăn năn hối cải về tình trạng yếu đuối rồi trả lời chúng với hy vọng và đời mới.
            Để kết luận, chúng ta nhìn thấy bản tường trình về tư dục và bạo lực của David sẽ vang dội lên một lời cảnh cáo — chúng ta có khả năng hành xử và tệ hại như thế. Đúng là không quá trễ đến nỗi không ngăn chặn được vòng xoáy đi xuống trong lúc bây giờ; không quá trễ đến nỗi không đảo lộn được tiến trình trước khi xảy có mọi hậu quả chết chóc.
            Lời xưng tội của David, sự ông kêu nài cùng Đức Chúa Trời xin được thương xót, và sự hồi phục của ông cũng là một sứ điệp nói tới hy vọng. Chúng đã phục vụ cho vô số những chàng trai hoang đàng khác trong việc tìm ra một lối thoát ra khỏi sự loạn nghịch rồi a trở lại vào vòng tay của một Đức Chúa Cha đầy tình yêu thương. Chúng ta đừng để cho thất vọng có lời nói sau cùng. Sự sống lại luôn lớn lao hơn sự chết.
            Câu chuyện nói tới đời sống của David và bản tường trình ghi lại những lời cầu nguyện của ông hết thảy đều chỉ thẳng vào ‘con’ quan trọng hơn của ông, là Đức Chúa Jêsus Christ. Nathan nói cho David biết rằng mạng sống ông sẽ được buông tha và con trai ông hẳn sẽ phải chết. Đấng Christ đã chịu chết vì chúng ta và với Ngài chúng ta được sống lại trong đời mới. Nguyện lời nói của chúng ta sẽ đầy dẫy với thái độ biết ơn và biết dâng cho Ngài mọi sự vinh hiển.


MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG: NHÂN VẬT THÚ VỊ NHẤT TRÊN THẾ GIAN



MỘT VÌ VUA ĐĂNG QUANG:
NHÂN VẬT THÚ VỊ NHẤT TRÊN THẾ GIAN
            Chúng ta đang tiếp tục loạt bài EPIC, thuật lại câu chuyện trong Kinh thánh từ đầu cho đến cuối. Sự trị vì của David là Vua Israel tiêu biểu cho đỉnh cao nhất trong câu chuyện EPIC kể từ khi Ađam, là người cai trị đầu tiên, đem lại sự hủy phá công cuộc sáng tạo tốt lành của Đức Chúa Trời. Gia đình của Ápraham được chỉ định phục vụ các ý định của Đức Chúa Trời giữa vòng các dân tộc và trong thời của David, gia đình ấy đã trở thành một quốc gia thống nhất, đang chiếm lấy xứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Sau khi Saulơ qua đời, David đã cai trị không có sự chống đối và, ít nhất trong một thời gian, đã sống với lời loan báo rằng ông là một vì vua vừa lòng Đức Chúa Trời.
            David được giới thiệu trong câu chuyện khi Đức Chúa Trời sai Samuên đến nhà của Giesê để xức dầu cho một vì vua chắc chắn sẽ thay thế cho Saulơ. David có 7 người anh và bị cha hay các anh xem là tầm thường nhất. Samuên trước tiên gặp người con cả trong các con trai của Giesê, Êliáp trông rất ấn tượng (gợi nhớ dáng dấp của Saulơ), song Đức Chúa Trời bảo rằng David sẽ là vua, công bố rõ loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng (I Samuên 16:7).
            David chiếm lấy một vị thế rộng rãi trong phân đoạn Kinh thánh, song vì các sứ điệp EPIC nầy đi rất nhanh, cho nên chúng ta sẽ phải tóm tắt khi xem xét mọi vấn đề về David.  Có nhiều câu được đưa ra cho truyện tích riêng của ông hơn là bất kỳ người nào khác trừ ra Chúa Jêsus. Thêm nữa, chúng ta có bản tường trình về những lời cầu nguyện của ông trong sách Thi thiên chỉ thẳng vào David và nhiều người khác được khích lệ bởi ông. Trong sứ điệp nầy, chúng ta sẽ nắm lấy hai phần việc: một, nhìn vào lời cầu nguyện của David (Thi thiên 8) và thứ hai, nhìn vào những năm tháng tôn vinh Đức Chúa Trời trong sự trị vì của ông. Sứ điệp kế đó sẽ bao phủ những năm tháng sau cùng, bị thất bại chen lấy trong cuộc đời của David.
            David vốn hiểu rõ, mà chẳng có một vì vua nào của Isarel hiểu được, rằng trách nhiệm đầu tiên của một vì vua là dẫn dắt dân sự mình bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời, để dạy họ biết cầu nguyện. Chắc chắn, ảnh hưởng lâu dài nhất của ông được tìm thấy trong các Thi thiên. Lời lẽ của David đã dạy cho Chúa Jêsus cầu nguyện, và trong 3.000 năm, chúng đã cung ứng giọng nói cho cả người Do thái và Cơ đốc nhân nào đến với Đức Chúa Trời với sự ngợi khen, khao khát, nhầm lẫn, than vãn, và thờ lạy.
            Thi thiên 8:3-9: Khi tôi nhìn xem các từng trời là công việc của ngón tay Chúa, mặt trăng và các ngôi sao mà Chúa đã đặt, loài người là gì, mà Chúa nhớ đến? Con loài người là chi, mà Chúa thăm viếng nó? Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút, đội cho người sự vinh hiển và sang trọng. Chúa ban cho người quyền cai trị công việc tay Chúa làm, khiến muôn vật phục dưới chân người: Cả loài chiên, loài bò, đến đỗi các thú rừng, chim trời và cá biển, cùng phàm vật gì lội đi các lối biển. Hỡi Đức Giê-hô-va là Chúa chúng tôi, Danh Chúa được sang cả trên khắp trái đất biết bao!
            David đầy dẫy với sự kinh ngạc thánh khiết ‘Đức Chúa Trời của những điều kỳ diệu’ là Đấng đặt mặt trăng cùng các ngôi sao vào đúng vị trí sẽ dầm thấm tình yêu và sự chú ý của Ngài trên con người tầm thường, vô nghĩa. Lời cầu nguyện nầy không những nói tới sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (“danh Chúa được sang cả”) mà còn nâng con người lên tới vị trí cao tột phi thường. David không những cầu nguyện như một vì vua, mà còn làm cho hết thảy những ai cùng cầu nguyện với ông dấy lên tới địa vị hoàng gia “Chúa ban cho người [một người bình thường] quyền cai trị công việc tay Chúa làm”.
            Nhận định như thế nầy rất là cần thiết trong thời buổi của chúng ta. Các nhận định của loại người hay thất bại thường dẫn tới phần kết luận rằng con người có ít giá trị và chẳng xứng đáng bao lăm. Những cách giải thích của lý thuyết xu hướng về tự nhiên, về nguồn gốc của chúng ta cho rằng mọi vật sống đều là tình cờ, cơ hội và hóa chất rồi sự chết đến kết thúc mọi sự.
            David biết rõ bản chất tan vỡ của nhân loại và ông cũng biết rõ chương trình của Đức Chúa Trời để hết thảy con cái loài người được “đội sự vinh hiển và sang trọng”. Lời cầu nguyện của David làm biến đổi hết thảy những ai cùng cầu nguyện với ông. Chúng ta không nên nhắm đến sự thù hằn và khăng khăng với tình trạng vô vọng, cũng không để cho sự bất công và hỗn loạn lan rộng giữa vòng bất kỳ một xã hội nào ‘tôn vinh’ tạo vật con người. Công bình vốn cần thiết và tình yêu thương là trung tâm nếu chúng ta là quan trọng theo như Đức Chúa Trời tuyên bố chúng ta là quan trọng. Làm người là một việc rất phi thường.
            Chúng ta đánh trận chống lại thất vọng khi tin theo những gì Đức Chúa Trời đã phán, và kháng cự lại một thế giới, nơi mà vẽ đẹp được đánh đồng với thời trang; nơi mà kẻ đưa ra điều mỉa mai lại được khen ngợi hơn người biết hành động với lòng can đảm; nơi mà tiếng cười vui vẻ bị thay thế bởi sự ‘hài hước’ tục tỉu hay chua chát hoặc cả hai; nơi mà sự tranh cạnh dựng nên mọi giá trị và thế giới của con người  - thất vọng nhu nhược được xem là cốt lõi của sự khôn ngoan. 
            Leslie và tôi đi xem cuộn phim Lincoln chiếu trong tuần nầy và tôi muốn giới thiệu phim ấy. Trong một bối cảnh gần cuối phim, chúng ta nghe vị Tổng thống tái đắc cử phát ra một phần của bài diễn văn trong lễ đăng quang lần thứ nhì của mình, có lẽ là bài diễn văn quan trọng nhất trong tất cả các bài diễn văn của ông. Sau khi tìm kiếm thứ ngôn ngữ đem lại ý nghĩa cho một đất nước bị phân cách, Lincoln đã trưng dẫn lời cầu nguyện của David, Thi thiên 19:  Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả. David là một vì vua vừa lòng Đức Chúa Trời, đã long trọng làm chứng bởi sự thực rằng ông đã dạy cho những người đồng thời với mình và từng thế hệ một khi họ tìm kiếm Đức Chúa Trời. Những lời cầu nguyện của David, là nhà vua được Đức Chúa Trời tuyển chọn, làm thay đổi chúng ta và khiến cho chúng ta trở thành những người đem ánh sáng chiếu vào một thế giới tối tăm: “Hỡi Đức Giê-hô-va là Chúa chúng tôi, Danh Chúa được sang cả trên khắp trái đất biết bao!
            Chúng ta cũng phải xem xét đời sống của David tùy theo lời lẽ của ông – một đời sống thành tựu đầy năng lực của cả tốt và xấu như chúng ta sẽ thấy.
            Có một chiến dịch quảng cáo rất vui trên vô tuyến truyền hình ghi là: “nhân vật thú vị nhất trên thế gian”. Ông ta là một cư dân của thế gian, là người có quyền lực, quan tâm đến mọi sự và siêu đẳng trong mọi tình huống khó xử trong cuộc sống. Một số mô tả như sau:
            1. Ông chào đời trong căn nhà gỗ mà ông đã xây dựng bằng chính tay mình. 2. Ông là sự sống của hai đảng phái mà ông chưa hề tham dự vào. 3. Ông đã hai lần đạt được sự thành tựu trọn đời. 4. Ông tự mình sinh sống. 5. Kẻ thù của ông liệt ông là con người cần liên hệ trong lúc khẫn cấp. 6. Một lần nữa, ông từng gặp phải thời điểm khó xử như nó vốn có vậy. Ông là nhân vật thú vị nhất trong thế gian. 
            David là nhân vật trong lịch sử nhân loại, ông đáng được tước hiệu: “thú vị nhất”. Và chính vì đức tin nơi Đức Chúa Trời đã nắn đúc David, chúng ta phải kết luận rằng chúng ta, cũng được dựng nên để sống loại đời sống hấp dẫn tuôn tràn ra với sự dư dật (Giăng 10:10).
            Tôi muốn sử dụng bảy từ ngữ giống như những ống kính để xem xét câu chuyện của David.
            Thứ nhứt là từ “gia đình”. David (nhân vật thú vị nhất trên thế gian) có một thời niên thiếu nhọc nhằn trong một gia đình rối loạn chức năng (dysfunctional family). Chúng ta không gặp ông cho tới chừng ông được 12 tuổi khi chịu xức dầu, một cơ hội mà ông không được cha và các anh mời tham dự. Các anh của ông đã chế nhạo David vào thời điểm mà Gôliát quăng ra những lời sỉ nhục nhắm vào quân đội của Saulơ. Thi thiên 27:10 chép: “Khi cha mẹ bỏ tôi đi, thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận tôi”. Và cụm từ nầy chắc chắn là cụm từ chìa khoá “Thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận tôi”. Không phải ai cũng có một gia đình hạnh phúc đâu. Có lẽ hầu hết mọi người đều không có. Bạn có lắm thất vọng nơi bố mẹ mình. Bạn bị tổn thương bởi các anh em mình. Bạn ao ước mình chào đời vào một thời điểm và địa điểm khác. 
            Nhưng sự nhọc nhằn trong gia đình đã đào sâu đức tin của David. Ông đã sớm học biết bám lấy Đức Chúa Trời vì ông đã sống giữa vòng những người bị tổn thương và chẳng biết gì đến ông. 
            Từ thứ hai có thể làm sáng tỏ đời sống của vị anh hùng của chúng ta là “nguy hiểm”. Không phải là ông thiếu thận trọng, song mọi cảnh ngộ đáng sợ kia không khiến cho David phải lui lại trong sợ hãi. Ông không chờ đợi cho đến chừng thành công sắp xảy ra trước khi bước vào trận chiến. Là một gã chăn chiên, ông đã đánh trận với sư tử và loài gấu. Là một thanh thiếu niên, ông đã đánh trận với gã giềnh giàng người Philitin với cái trành cùng mấy hòn đá. Sau đó ông sống còn với quyết tâm của Saulơ muốn giết ông rồi lãnh đạo quân đội bước vào chiến tranh. David đã tin rằng ông được kêu gọi để tôn cao Đức Chúa Trời với đời sống của mình và một kẻ thù đầy đe doạ chẳng có cớ gì gạt bỏ ơn kêu gọi của ông.
            Từ thứ ba cho phần xem xét của chúng ta là “âm nhạc”. Âm nhạc có thể dầm thấm tấm lòng và thuyết phục chúng ta về lẽ thật ở một cấp độ sâu sắc mà không cần thứ ngôn ngữ chuẩn xác về mặt thần học. David (nhân vật thú vị nhất trên thế gian) là một nhạc sĩ tài hoa từ thuở ông còn là thanh niên trở đi. Lối khảy đàn và ca hát của ông đã xoa dịu những cơn thạnh nộ điên cuồng của Saulơ và về sau người ta cho ông là: ‘kẻ hát êm dịu của Y-sơ-ra-ên’ (II Samuên 23:1). Những lời cầu nguyện của David (các Thi thiên) được viết ra bằng lời nhạc được hát lên.
            Thật đáng buồn ở chỗ có nhiều Cơ đốc nhân bị phân tán bởi tiên vị âm nhạc của họ khi cho rằng thứ nhạc cũ nên phải bỏ đi và thứ âm nhạc mới đầy sáng tạo bị đề kháng. Quá nhiều nhà thờ ổn định sự thờ phượng bằng thứ âm nhạc nhạt nhẽo rồi cứ lặp đi lặp lại thay vì chọn thứ nhạc (bất kỳ thể loại nào) có thể khuấy động tấm lòng và làm cho ai đó phải bồn chồn. Chúng ta phải định hình ‘thanh niên David’ nào đó trong hội chúng của chúng ta, nhưng thanh niên nào có thể sử dụng ân tứ âm nhạc của họ để gây dựng dân sự của Đức Chúa Trời   .
            Thứ tư, chúng ta xem xét “tình bạn”. Các anh em cật ruột của David là một sự thất vọng đối với ông, nhưng nơi Giônathan, Đức Chúa Trời đã ban cho tình anh em bạn đã giục giã mối tương giao chơn thật nơi vô số người nam người nữ trong tất cả các thế hệ kể từ thời của họ. Mọi hoàn cảnh có thể biến họ thành đối thủ, mỗi người đều có quyền xưng nhận về ngai vàng của Israel. Tuy nhiên, Kinh thánh cho chúng ta biết rằng ‘lòng họ khắng khít với nhau’. Họ đã phục vụ nhau và đã hy sinh lợi ích cá nhân vì cớ tình bạn của họ. Giônathan đã nắm lấy sự liều lĩnh cao độ để tôn cao và bảo hộ cho David. Sau khi Giônathan ngã chết, David đã tiếp trợ cho con cái của Giônathan mặc dù các cố vấn của ông đã xem họ là dòng dõi đối nghịch của bậc vua chúa. Họ là bạn hữu chơn thật với nhau, họ là các tôi tớ đầu tiên của Đức Chúa Trời.
            Từ thứ năm là “tương giao”. Mặc dù David đã được xức dầu làm vua, gần 20 năm ông đã sống như một kẻ trốn chạy bị đe doạ bởi Saulơ, sống trong hang động và trốn tránh giữa vòng các kẻ thù của dân Israel. Và trong những năm tháng ấy, phường hạ lưu của Israel đến hiệp cùng ông, những kẻ bị ruồng bỏ, những kẻ làm phản. David (nhân vật thú vị nhất trên thế gian) đã tin tưởng họ và những người nầy về sau từ chối không trở thành cốt cán trong quân đội của ông. Vì họ cần trợ giúp lẫn nhau tin cậy và trung thành lớn lên giữa vòng họ. Vì họ có ít năng lực theo đời nầy, họ đã khám phá ra sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời.
            Đức Chúa Trời thường xuyên tạo ra những cộng đồng quan trọng và hấp dẫn từ những người nam người nữ với các nhu cần thiết thực và một ít sự gắn bó do con người tạo ra với nhau.
            Hãy nhớ lại phần mô tả của Phaolô về hội thánh ở thành Côrinhtô.
            I Côrinhtô 1:26-30:Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta”.
            Đức Chúa Trời tạo ra những cộng đồng mạnh mẽ và hấp dẫn từ những con người bình thường với ít vốn liếng về con người, nhưng biết đặt Ngài ở trên hết.
            Từ thứ sáu là “kềm chế”. Nhiều người nam người nữ có quyền lực thường sử dụng nó một cách bốc đồng, chiếu theo cơn giận hay sự ham muốn của họ. Một kiểu hành động giống như thể ‘làm theo ý tôi muốn’ là một dấu hiệu của kẻ có quyền. Trong những năm đầu đời của ông David đã cố quyết chọn vâng theo Đức Chúa Trời thay vì phục vụ cho bản thân mình khi ông có quyền làm như thế. Mặc dù Saulơ có dự tính giết chết David, có hơn một lần David đã từ chối không chịu giết Saulơ khi ông vừa có cơ hội. Saulơ là vua của Israel và David đã từ chối tước đi mạng sống của ông ta. Về sau ông để cho Abigain thuyết phục chống lại việc giết chết chồng nàng, một kẻ vô giá trị đã đối xử David bằng sự miệt khinh. Chúng ta hãy tự xét lòng mình, các tôi tớ hoàng gia của Đức Chúa Trời, chúng ta phải quản trị cơn giận và tình cảm của chúng ta, hãy chọn điều chi là khôn ngoan thay vì những gì là đúng cho khoảnh khắc ấy?
            Từ sau cùng là “thất bại”. David muốn chúng ta chú ý đến các phương thức hấp dẫn cho thấy ông là người ‘thú vị nhất’. Nhưng ông cũng đưa ra những sự lựa chọn tối tăm. Chúng ta sẽ xem xét mọi điều nầy kỷ càng hơn trong sứ điệp tới, nhưng hãy cho phép tôi lưu ý ở đây tội tà dâm và phản bội giết người của David đã được tường trình từng chi tiết một. Kết quả là: tội ác của ông đã được Đức Chúa Trời đại dụng để vang dậy lên một lời cảnh cáo nhắm tới vô số độc giả của Kinh thánh phải tránh cho xa con đường đó.
            Thêm nữa, bản tường trình về việc David tìm được đường về quê hương với Đức Chúa Trời sau khi ông phạm tội, đặc biệt những lời cầu nguyện ăn năn của ông, đã chỉ ra ngọn hải đăng hy vọng cho vô số nhiều người khác. Tội lỗi khủng khiếp của David kết thúc với sự thắng hơn điều ác. Sự tốt lành đã đến từ sự thất bại khốn nạn của người mà Đức Chúa Trời đã chọn để lên làm vua.
            David chiếm nhiều chỗ trong các trang Kinh thánh. Những lời cầu nguyện của ông đã dạy dỗ cho từng thế hệ trong 3.000 năm phải biết cầu nguyện là như thế nào!?! Ông là vị vua đã lãnh đạo dân sự mình bước vào sự thờ phượng và giúp đỡ cho họ tấn tới ở một vị thế mà họ sẽ không sao khác đi được nữa.
            Rôma 5:17: Vả, nếu bởi tội một người mà sự chết đã cai trị bởi một người ấy, thì huống chi những kẻ nhận ân điển và sự ban cho của sự công bình cách dư dật, họ sẽ nhờ một mình Đức Chúa Jêsus Christ mà cai trị trong sự sống là dường nào!
            Đấy là những gì mà chúng ta đã được dựng nên, để trị vì trong cuộc sống. Chúng ta đã được dựng nên cho sự vinh hiển và được chuộc để tể trị. Nguyện chúng ta tin theo lẽ thật và chẳng xây qua điều chi khác.