Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

Hãy Đến Xem




ĐẤNG CỨU THẾ XUẤT HIỆN:
HÃY ĐẾN XEM
            Chuyến hành trình EPIC của chúng ta đã đưa chúng ta đến với phần khởi sự chức vụ công khai của Chúa Jêsus, và chúng ta sẽ đưa ra hai thắc mắc để hướng dẫn phần nghiên cứu của chúng ta. Chúa Jêsus nghe gì khi Ngài khởi sự công tác nầy, và rồi Ngài phán gì?
Mác 1:2-13: Như đã chép trong sách tiên tri Ê-sai rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước mặt ngươi, người sẽ dọn đường cho ngươi. Có tiếng kêu trong đồng vắng rằng: Hãy dọn đường Chúa, ban bằng các nẻo Ngài; Giăng đã tới, trong đồng vắng vừa làm vừa giảng phép báp-tem ăn năn, cho được tha tội…Người giảng dạy rằng: Có Đấng quyền phép hơn ta đến sau ta; ta không đáng cúi xuống mở dây giày Ngài. Ta làm phép báp-tem cho các ngươi bằng nước; nhưng Ngài sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh. Vả, trong những ngày đó, Đức Chúa Jêsus đến từ Na-xa-rét là thành xứ Ga-li-lê, và chịu Giăng làm phép báp-tem dưới sông Giô-đanh. Vừa khi lên khỏi nước, Ngài thấy các từng trời mở ra, và Đức Thánh Linh ngự xuống trên mình Ngài như chim bò câu. Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường. Tức thì Đức Thánh Linh giục Ngài đến nơi đồng vắng. Ngài ở nơi đồng vắng chịu quỉ Sa-tan cám dỗ bốn mươi ngày, ở chung với thú rừng, và có thiên sứ hầu việc Ngài. Sau khi Giăng bị tù, Đức Chúa Jêsus đến xứ Ga-li-lê, giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời.
            Ba giọng nói nói cùng Chúa Jêsus chuẩn bị cho Ngài bắt đầu công tác mà vì đó Ngài ra đời. Thứ nhứt là giọng nói của người anh em bà con với Ngài — là Giăng Báptít. Giăng được sai phái bởi Đức Chúa Trời trong vai trò một tiên tri để sửa soạn dân chúng cho Đấng Mêsi. Chúa Jêsus đã nghe Giăng rao giảng. 
            Thứ hai, Ngài đã nghe giọng nói của Cha Ngài từ trên trời khi Ngài vừa ra khỏi nước của phép báptêm. Thứ ba, trong đồng vắng Ngài đã nghe những lời dối trá của kẻ cám dỗ. Gộp chung lại các sứ điệp nầy, chúng đẩy Chúa Jêsus bước vào chức vụ công khai — phần việc mà ai cũng nhìn biết Ngài là Đấng Mêsi vốn được mong đợi từ lâu.
            Việc rao giảng của Giăng rất năng động. Chẳng có một tiên tri nào trong xứ Israel 400 năm qua. Người Do thái đã trở về quê hương họ từ cuộc lưu đày, xây lại đền thờ, sau đó mở rộng và làm cho đền thờ được xinh đẹp hơn. Họ đã thiết lập các khuôn mẫu ứng xử và nghi thức tôn giáo chỉ ra lai lịch Do thái trong khi họ sống dưới sự chiếm đóng của các đạo quân dân Ngoại. Nhiều thế kỷ trông đợi được nghe từ Đức Chúa Trời đã kết thúc bởi giọng nói đầy quyền lực của một vị tiên tri thực, một người mà giọng nói và bề ngoài của ông đã gợi nhớ lại thẩm quyền làm phép lạ của chính mình Êli.
            Giăng đã kêu gọi ăn năn trong xứ Israel (nghi thức tôn giáo vẫn chưa phải là đủ) và kêu gọi nhiều tấm lòng phải sẵn sàng đối với Đấng hầu đến. Chúa Jêsus đã cảm động khi nghe giọng nói tiên tri đang mô tả chính mình Ngài (là Đấng sẽ đến với quyền phép lớn lao), và nhìn thấy nhiều đoàn dân đông tìm kiếm sự đổi mới của tấm lòng. Việc rao giảng của Giăng là một giọng nói đã sửa soạn Chúa Jêsus cho phần việc đặt ở trước mặt Ngài.
            Quan trọng hơn việc rao giảng của Giăng, Chúa Jêsus đã nghe thấy giọng nói của Cha Ngài đến từ trời. Phép báptêm của Chúa Jêsus là một hành động đồng hoá với hạng tội nhân khi họ đã ăn năn. Khi Ngài chịu phép báptêm, Ngài đã nghe: “Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường”. Câu nói: ‘Ngươi là Con yêu dấu của Ta’ đã được các vua Israel sử dụng trong dịp lễ đăng quang của họ và chuyển tải sự thực thẩm quyền bậc vua chúa của Chúa Jêsus ở đây. Nhưng quan trọng hơn, tôi nghĩ, là lời lẽ chấp nhận mật thiết và dịu dàng. Chúa Jêsus là Con yêu dấu của Cha Ngài ở trên trời, hiểu biết đầy trọn và được yêu thương vô điều kiện. Tuy nhiên, Ngài chưa ‘hoàn thành một việc gì quan trọng’ qua việc giảng đạo và chữa lành. Không bao lâu nữa, Ngài sẽ khởi sự công việc đó với sự bảo đảm chấp nhận của Cha Ngài. Có lẽ bối cảnh nầy có ý nghĩa đặc biệt cho những ai đã có mối quan hệ đau đớn với cha đời nầy của họ. Bởi đức tin chúng ta có thể nghe được những gì Chúa Jêsus đã nghe — rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời và Ngài đẹp lòng với chúng ta.
            Giọng nói của Satan là giọng nói thứ ba nói với Chúa Jêsus trong những ngày trước khi Ngài bắt tay vào chức vụ. Chính ý muốn của Đức Chúa Trời, một yếu tố cần thiết cho sự sửa soạn của Ngài, mà Chúa Jêsus phải đi vào trong sa mạc rồi đối diện với kẻ thù. Mặc dầu câu chuyện của Mác rất vắn tắt, chúng ta biết từ các sách Tin Lành khác rằng Chúa Jêsus đã kiêng ăn trong bốn mươi ngày và bị cám dỗ bởi kẻ dối gạt khi Ngài đang ở vào điểm thấp nhất về phần xác thể. Ba cuộc đối đáp với ma quỉ đã bắt đầu với câu nói: “Nếu ngươi là Con của Đức Chúa Trời”. Giọng nói của Đức Chúa Trời từ trên trời quả quyết địa vị Con của Chúa Jêsus; kẻ cám dỗ đã chuyển nó thành một thắc mắc.
            Hơn nữa, Satan đã thúc giục Chúa Jêsus nhìn vào bản thân mình. “Nếu ngươi quan trọng như thế, hãy sử dụng địa vị của người để tự cứu lấy mình đi. Hãy nắm lấy những ân huệ mà ta hiến cho”. Ma quỉ nói, đây là tổn phí không cần trả giá, những lợi ích chẳng đòi phải chờ đợi hay tự chối bỏ mình. Chúa Jêsus rút tỉa sức lực từ Kinh thánh và trưng dẫn Lời của Đức Chúa Trời (Cha của Ngài) để chối bỏ những dâng hiến của ma quỉ. Trở về từ sa mạc, Chúa Jêsus đã bắt đầu chức vụ của Ngài với sự nhìn biết rằng Ngài sẽ đối diện với một kẻ thù rất xảo quyệt, không chút thương xót và chiến trận giữa họ chưa qua đâu.
            Công việc của Chúa Jêsus mở ra bằng cách lắng nghe. Ngài biết rõ rằng Ngài đã được sửa soạn (giọng nói của Giăng), rằng Ngài đã được yêu thương (giọng nói của Đức Chúa Cha) và rằng Ngài bị chống đối (giọng nói của Satan). Cái điều lưu ý có giá trị, ấy là chúng ta được kêu gọi đến với loại đời sống phục vụ dưới cùng những tình trạng ấy. 
            Thế thì, Chúa Jêsus đã nói gì vậy? Sách Tin Lành Giăng cho chúng ta biết về những ngày đầu tiên trong chức vụ của Chúa Jêsus sau khi Ngài trở về từ thời kỳ kiêng ăn, chịu cám dỗ trong đồng vắng đến địa điểm gần sông Giôđanh, nơi Giăng đang giảng đạo.
Giăng 1:35-39: Ngày mai, Giăng lại ở đó với hai môn đồ mình; nhìn Đức Chúa Jêsus đi ngang qua, bèn nói rằng: Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời! Hai môn đồ nghe lời đó, bèn đi theo Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Jêsus vừa xây lại, thấy hai người đi theo mình, thì phán rằng: Các ngươi tìm chi? Thưa rằng: Ra-bi (nghĩa là Thầy), Thầy ở đâu? Ngài phán rằng: Hãy đến xem”.
            Giăng đã công nhận Chúa Jêsus là Đấng Mêsi với hai trong số các môn đồ của riêng ông. Họ đến gần Chúa Jêsus là Đấng khởi sự làm thay đổi thế giới bằng cách đưa ra một thắc mắc: “Các ngươi tìm chi?”
            Trong trường hợp nầy, thắc mắc ấy có thể được đọc như một cuộc trao đổi mở đầu bình thường giữa dân chúng là những người đến nhóm lại lần đầu tiên. Nhưng câu hỏi ấy còn sâu sắc hơn thế. Chúa Jêsus nắm bắt lấy những sự chúng ta khao khát. Ngài tiếp tục hỏi những người nam người nữ giống như chúng ta, chúng ta tìm chi trong cuộc sống!?! Một câu trả lời thành thực thường rất là khó — những mong muốn của chúng ta về sự thành tựu cao thượng đang ở trong cuộc chiến với những khát khao của chúng ta về những khoái lạc tội lỗi. Tôi muốn phục vụ Đức Chúa Trời ở mặt nầy và muốn được nuông chìu ở mặt kia. Câu hỏi nầy Chúa Jêsus đưa ra không những dẫn tới một mối quan hệ mới với Ngài, mà còn là một khám phá mới về bản thân chúng ta nữa. Bạn tìm chi vậy?
            Việc thứ hai ông nói với hai môn đồ nầy là “Hãy đến xem”. Một lần nữa, câu nầy có thể được đọc như một cuộc trao đổi bình thường về việc gửi gắm hay như một người chỉ vào một việc gì đó lớn lao hơn nhiều.
            Chúa Jêsus mời mọc tình bạn và sự khám phá. Một ngày sẽ đến khi Ngài kêu gọi những ngư phủ phải “bỏ lưới xuống mà theo ta”; khi Ngài sẽ phán: “Hãy vác lấy thập tự giá mà theo ta”. Nhưng các thách thức nầy không phải là chỗ Ngài khởi sự. Trước tiên, Ngài phán: “Hãy đến xem”.
            Các chương mở đầu của sách Tin Lành Giăng tập trung nhiều vào những cuộc đối đáp riêng tư hơn là giảng đạo cho các đoàn dân đông. Các phép lạ đầu tiên của Chúa Jêsus đã được thực hiện theo cách riêng. Các môn đồ đầu tiên của Ngài đã học biết về sự thông sáng của Chúa Jêsus về nhu cần của con người và tấm lòng hay thương xót của Ngài tại tiệc cưới ở thành Cana, một cuộc trao đổi với khách viếng ban đêm tại thành Jerusalem, và tại cái giếng trong thành Samari. “Hãy đến xem”. Mắt của họ được mở ra và đức tin của họ nơi Ngài được lớn lên. Đức tin nhịn nhục được xây dựng trên một kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Jêsus không phải bằng những cú nhảy mù quáng hay trên lời nói của người khác. Những người nầy cần nhiều hơn là chứng cớ của Giăng và từng thế hệ tới sau cần phải ‘nhìn xem’ Đấng Christ cho bản thân mình chớ không chỉ thừa hưởng đức tin từ thế hệ lớn tuổi hơn.
            Chúa Jêsus khởi sự chức vụ công khai thích ứng với việc Giăng Báptít bị bắt — giảng đạo và chữa lành. Đã có một làn sóng phản ứng.
Mathiơ 4: 23-25: Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng Tin Lành của nước Đức Chúa Trời và chữa lành mọi thứ tật bịnh trong dân. Vậy, danh tiếng Ngài đồn ra khắp cả xứ Sy-ri, người ta bèn đem cho Ngài mọi người đau ốm, hay là mắc bịnh nọ tật kia, những kẻ bị quỉ ám, điên cuồng, bại xuội, thì Ngài chữa cho họ được lành cả. Vả lại, từ xứ Ga-li-lê, xứ Đê-ca-bô-lơ, thành Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê, cho đến xứ bên kia sông Giô-đanh, thiên hạ kéo nhau rất đông mà theo Ngài”.
            Chúa Jêsus không giống như bất kỳ vị giáo sư nào mà ai đó đã nghe họ giảng trước đó. Lời lẽ và hành động của Ngài dầm thấm với quyền phép.  Ngài đã chữa lành kẻ đau, ma quỉ bị trục xuất, người phung được lành, ngày sa-bát được giải phóng, tội lỗi được tha thứ, kẻ bị vít được tiếp đón, và giông bão bị bắt phục. Bất cứ đâu Chúa Jêsus đi đến, thế giới bèn thay đổi. Người ta ý thức được điều đó dù họ biết cách đáp ứng hay không biết, và ngày càng có nhiều người nữa chạy đến với Ngài.
            Những kẻ hoài nghi bị gạt qua một bên: “Để các ngươi biết rằng Con Người ở trên đất có quyền tha tội, Ngàn phán cùng kẻ bại rằng: ‘Hãy đứng dậy, hãy vác lấy giường ngươi mà đi về nhà”. Tội lỗi và bịnh tật bị trục xuất tùy theo mạng lịnh của Ngài. Chúa Jêsus xua tan bóng tối tăm tùy theo từng loại — Ngài nói rõ từ lúc ban đầu rằng Ngài đã đến đặng giải cứu nhân loại và quyền phép của Ngài tương xứng với công việc. Và vì các mục đích của chuyến hành trình EPIC qua Kinh thánh, chúng ta sẽ kết thúc phần nghiên cứu nầy tại điểm sau: với Chúa Jêsus trước mặt đám dân đông — thể hiện ra Đấng ngự đến làm thay đổi thế gian.
            Câu gốc sau cùng tập trung vào bức tranh nầy. 
Luca 4:16-21: Đức Chúa Jêsus đến thành Na-xa-rét, là nơi dưỡng dục Ngài. Theo thói quen, nhằm ngày Sa-bát, Ngài vào nhà hội, đứng dậy và đọc. Có người trao sách tiên tri Ê-sai cho Ngài, Ngài dở ra, gặp chỗ có chép rằng: Thần của Chúa ngự trên ta: Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa. Đoạn, Ngài xếp sách, trả lại cho kẻ giúp việc, rồi ngồi xuống; mọi người trong nhà hội đều chăm chỉ ngó Ngài. Ngài bèn phán rằng: Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó
            Đúng là một bối cảnh đầy kịch tính! Phân đoạn thật hay của sách Êsai được đọc lớn tiếng bởi giọng nói như truyền lịnh của Đấng Cứu Thế — mọi mắt đều hướng về Ngài. Giải cứu, tự do, mặc khải, và sự trông cậy là những lẽ đạo làm rung động tấm lòng. Thế rồi phần gây ấn tượng nhất là đây — “hôm nay đã được ứng nghiệm Lời Kinh thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó”. Năm ân điển của Đức GIÊHÔVA là năm trông cậy của từng thế hệ và dường như nó biến mất tăm đi. Nhưng trong Đấng Christ mọi sự đà thay đổi — hôm nay kỷ nguyên ân điển của Đức Chúa Trời đã bắt đầu.
            ‘Hôm nay’ vào ngày sa-bát trong xứ Galilê và ‘hôm nay’ cũng dành cho chúng ta nữa. Có một gánh nặng bạn đã mang quá lâu đến nỗi bạn không thể xây qua Đấng Christ  — hôm nay chăng? Có phải bạn đang lẫn trốn đàng sau trận tuyến giả có thể bị dở bỏ — hôm nay chăng? Có một vực sâu thạnh nộ giữa bạn và người yêu có thể được kết nối lại bằng sự tha thứ — hôm nay không?
            Nguyện chúng ta bị bắt phục bởi lời tuyên bố phi thường của Chúa Jêsus:
            “Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa”.
            Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà bạn mới vừa nghe đó.



Đức Chúa Trời Ở Cùng Chúng Ta



ĐẤNG CỨU THẾ XUẤT HIỆN:
ĐỨC CHÚA TRỜI Ở CÙNG CHÚNG TA
            Chúng ta đang dõi theo EPIC, Câu chuyện đáng kinh ngạc nói tới Đức Chúa Trời và Thế gian, và giờ đây đã đến với sự giáng sinh của Đấng Mêsi. Các lời hứa của Đức Chúa Trời với Ápraham đã khởi sự một thời kỳ 2000 năm chờ đợi một con trai của Ápraham là Đấng sẽ giải cứu một dòng giống nhân loại tan vỡ và bị hư mất. Chúa Jêsus đã ra đời “đúng kỳ” (Galati 4:4) — khi Đức Chúa Trời quyết định can thiệp vào các chu kỳ lặp đi lặp lại mọi thất bại của con người trong một phương thức thật đặc biệt. Sau một thời gian dài trông đợi, Chúa Jêsus được giới thiệu với sự thiếu vắng nét phô trương. Nhưng Ngài là một loại Cứu Chúa thật khác biệt. 
            Có bốn phần tường thuật về Chúa Jêsus bắt đầu Giao Ước Mới — Mathiơ, Mác, Luca, và Giăng. Mỗi người trong số họ thuật lại câu chuyện nói tới cuộc đời của Chúa Jêsus: sự dạy dỗ, các phép lạ, những mối quan hệ, và sau cùng sự chết và sự sống lại của Ngài. Trong sáu tuần lễ, chúng ta sẽ tìm thấy mình trong các phân đoạn Kinh thánh nầy, khởi sự với việc xem xét sự giáng sinh của Ngài trong sứ điệp nầy. Ba trong bốn sách Tin Lành có một số tham khảo đến sự giáng sinh của Chúa Jêsus. Tin Lành Mác không nói tới. 
            Chúng ta hãy xem xét những câu đầu tiên trong Mathiơ, Luca, và Giăng. 
Mathiơ 1:1: Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham.
Luca 1:3-4: tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ôngđể ông biết những điều mình đã học là chắc chắn”.
            Giăng nhắm vào lịch sử trong phần mở đầu câu chuyện của mình.
Giăng 1:1, 14:Ngôi Lời là Đức Chúa TrờiNgôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta”
            Thiếu đi những ngọn đèn sáng láng và âm nhạc vang dội, chúng ta phải cẩn thận đối với những gì thuật lại cho chúng ta biết khi đọc phần giới thiệu Chúa Jêsus. Chúng ta sẽ mở ra trước tiên ở Mathiơ. Bảng gia phổ được ghi lại với một mục đích. Chúng ta để ý thấy rằng bản tường trình là bất toàn (thiếu sót một số thế hệ) và những gì chúng ta đang có được sắp đặt trong một kiểu mẫu (3 nhóm trong 14 thế hệ theo Mathiơ). Việc sắp nhóm nầy kêu gọi chú ý tới Ápraham và David là tổ tiên của Chúa Jêsus.
            Tại sao họ lại đặc biệt đến thế chứ?
            Thứ nhứt, Cứu Chúa phải là một dòng dõi của Ápraham, vì ông là một phần của câu chuyện thật dài kia. Đức Chúa Trời đã hứa với vị tộc trưởng xưa kia rằng dòng dõi của ông sẽ đem lại ơn cứu rỗi cho thế gian và Đức Chúa Trời giữ mọi lời hứa của Ngài. Tuy nhiên, dân giao ước cho thấy họ đáng thất vọng là dường nào, Đức Chúa Trời luôn giữ lấy sự thành tín. Chúa Jêsus là ‘dòng dõi của Ápraham’ (Galati 3:16) Ngài làm phu phỉ lời hứa lâu đời kia.
            Thêm nữa, những tham khảo đến Ápraham chỉ ra gia đình. Đức tin nơi Đấng Christ khiến cho từng người trở nên con cái của Ápraham và vì lẽ đó là anh chị em với nhau. Thứ hai, dòng dõi của Chúa Jêsus xác nhận Ngài là Vua. Nhưng Ngài là một vị vua không giống như các vua thất bại trước Ngài — một vị vua quân chủ sẽ thiết lập sự công bình và tôn vinh người công nghĩa. Việc Ngài ngồi lên ngôi của David chỉ là phần mở đầu mà thôi. Vua của Israel trở thành Vua các vua, như thế vẫn chưa phải là đủ đâu — Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha (Philíp 2:9-11).
            Gia phổ của Mathiơ, làm nổi bật lên Ápraham và David, cung ứng cho chúng ta lý do để hy vọng nhiều việc lớn lao và đáng kinh ngạc sẽ theo sau. Nhưng chúng ta cũng có thể để ý thấy việc thiếu quan tâm trong lịch sử thế tục. Mathiơ cẩn thận ghi lại tên tuổi của nhiều người nam người nữ mơ hồ, nhưng ông chẳng quan tâm mấy đến sự dấy lên và sụp đổ của các đế quốc. Chẳng có một tham khảo nào nói tới các kim tự tháp vĩ đại, tới bộ luật Hammurabi, tới sức mạnh hải quân của Phoenicia, tới oai nghi rực rỡ của Babylôn, không nhắc tới các thành thị xa xôi của Đồng Bằng Indus hay các triều đại của Trung Hoa. Đúng kỳ, Đức Chúa Trời bèn sai Con của Ngài đến — một khoảnh khắc trong lịch sử được đánh giá bằng tình trạng của dân sự Đức Chúa Trời, chớ không phải bằng thế lực của đời nầy.
Mathiơ 1:4b-6a: Na-ách-son sanh Sanh-môn. Sanh-môn bởi Ra-háp sanh Bô-ô. Bô-ô bởi Ru-tơ sanh Ô-bết. Ô-bết sanh Gie-sê; Gie-sê sanh vua Đa-vít”.
            Vậy thì, Ôbết là ai chứ? Ông là một nông dân sống trong một thị trấn vô nghĩa, như cha ông đã sống vậy. Bà và mẹ của ông cả hai đều là dân Ngoại. Tuy nhiên, đời sống của ông đã được ghi lại trong Kinh thánh, được ghi nhớ và tán thưởng cho đến cõi đời đời. Ramses II, vị Pharaôn vĩ đại của xứ Aicập, với cung điện bằng vàng và quân đội mạnh mẽ của ông, ông là người đồng thời với Ôbết, lại chẳng được ghi nhớ chi hết.
            Có ai để ý tới món gì có trong nhà để xe 6 tháng hay 2 năm qua đâu? Có ai để ý đến địa vị chính trị nào khoảng một năm hay mười năm qua đâu? Ngược lại, chúng ta dám chắc rằng những gì Đức Chúa Trời đang hoàn thành trong các cộng đồng đức tin là quan trọng cho đến đời đời, dù dường như là khiêm hạ trong một khoảnh khắc nào đó.
            Chúa Jêsus đã phán rằng một bà goá nghèo khổ kia đã bỏ hai đồng xu và hộp tiền dâng đã dâng nhiều hơn số tiền lớn mà người giàu nọ đã dâng. Chúa Jêsus phán rằng một cuộc viếng thăm tù nhân cô độc thì giống như thể là một cuộc thăm viếng đối với Ngài. 
            Tôi lãnh hội triễn vọng về cuộc sống khi lần đầu tiên tôi là một Cơ đốc nhân — “Đời nầy rồi sẽ qua đi, nhưng chỉ những gì được làm cho Đấng Christ mới còn mãi mà thôi”. Bảng gia phổ của Mathiơ nhấn mạnh lẽ thật nầy.
            Luca cũng viết về sự giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Jêsus. Nếu Mathiơ bắt đầu với một bảng gia phổ, Luca cung ứng cho chúng ta một câu nói chỉ ra mục đích của hàng sử gia.
Luca 1:1-4: Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông, để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn.
            Phân đoạn mở đầu nầy không loè loẹt giống như bảng danh sách những lần “sanh” của Mathiơ. Nhưng quan trọng ở chỗ nó bàn về sự đáng tin cậy. Từ những ngày đầu sớm sủa của hội thánh cho đến hiện tại, đã có những câu chuyện không đúng nói tới cuộc đời và mục đích của Chúa Jêsus. Chúa Jêsus đôi khi được mô tả là một nhân vật thanh tao đang vẫy tay chào những người nào sống ‘thuộc linh song chẳng phải là tôn giáo’. Ngài bị kể là một nhà cách mạng theo kiểu Mác-xít, một nhà hoạt động kiểu Trà Đàm, một nhà trị liệu, một nhân vật chuyên kể chuyện đồng quê, hay một siêu anh hùng.
            Phân đoạn mở đầu của Luca chỉ cho chúng ta thấy từ chỗ suy đoán về Chúa Jêsus đối với phần lịch sử đáng tin cậy và cẩn trọng được viết ra dưới sự cảm thúc của Đức Thánh Linh. Vì vậy, với sự tin cậy, chúng ta cần phải trở thành hạng học viên sốt sắng mong nghe biết sự thực về Chúa Jêsus trong Kinh thánh.
            Những câu mở đầu của Mathiơ nhắc cho chúng ta nhớ đến vị trí của Chúa Jêsus trong lịch sử của Israel. Những câu mở đầu của Luca cung ứng cho chúng ta những lý do đáng tin tưởng trong bản tường trình Kinh thánh nói tới câu chuyện của Đấng Cứu Thế. Khi qua khỏi phần giới thiệu, Luca 1-3 ghi lại câu chuyện dài nhất nói tới sự giáng sinh của Chúa Jêsus. Và giọng nói của những nhân vật được nghe thấy trong phân đoạn Kinh thánh nầy vừa là các thiên sứ hay (một lần nữa) những người nam người nữ tầm thường. Xachari, Mary, Êlisabết, mấy gã chăn chiên, và Simêôn — hết thảy đều tầm thương — đã nắn đúc sự hiểu biết của chúng ta về sự hoá thân thành nhục thể và kinh nghiệm của chúng ta là những người thờ phượng.
            Có lẽ có một bài học ở đây. Nếu câu chuyện của Chúa Jêsus cung ứng cho hạng người tầm thường một cơ hội để thốt ra sự cao trọng của Đức Chúa Trời tại ngay phần mở đầu của nó, chúng ta cũng phải mong mỏi bài học đó cũng phải làm y như vậy. Tôi nghĩ câu chuyện của Luca cho thấy rằng có các môn đồ tầm thường trong thời buổi và kỷ nguyên của chúng ta, họ sẽ vui vẻ nói ra những lần họ gặp gỡ với Chúa. 
            Sau cùng, sách Tin Lành Giăng cũng đưa ra những tham khảo cho phần khởi sự làm người của Chúa Jêsus. Gánh nặng của Giăng vốn khác biệt với sự Mathiơ quan tâm về lịch sử hay tính cách đáng tin của Luca. Ông viết về tình yêu thương vô hạn của Đức Chúa Trời là Đấng bước từ cõi đời đời vào cõi thời gian và từ bỏ đặc ân thiêng liêng để trở thành con người.
Giăng 1:1-14:Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. . . . Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha”.
            Trong sách Philíp, Phaolô viết: Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người (Philíp 2:6-7). Ngài từ bỏ mọi sự để trở thành con người: để trở thành một tôi tớ, một tù phạm, và một của lễ. 
            Sách Truyền đạo nhận xét rằng chẳng có gì mới ở dưới mặt trời. Cuộc sống luôn luôn kết thúc bằng sự chết. Hy vọng luôn luôn tụt xuống thành buồn rầu. Các tiên tri của Đức Chúa Trời chẳng làm chi được trước sự bướng bỉnh kéo dài của dân sự Ngài. Và vì thế, Đức Chúa Trời đã kiên quyết hành động bằng cách chính mình phải trở thành con người. Sự giáng sinh của Chúa Jêsus vốn có một không hai, một việc mới mẻ ở dưới mặt trời, một việc kỳ diệu không tưởng được — Chúng ta đã nhìn thấy sự vinh hiển của Ngài, sự vinh hiển của Đấng có một, là Đấng ra từ nơi Cha, đầy ơn và lẽ thật.
            Cho phép tôi đưa ra thêm một lưu ý nữa. Sách Hêbơrơ chỉ ra Đấng Christ hoá thân thành nhục thể là thầy tế lễ thượng phẩm và mô tả sự cứu giúp khả thi cho hạng tội nhân: Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy (Hêbơrơ 2:18).
            Chúng ta cần sự cứu giúp khi chúng ta đối diện với những nổi khát khao mạnh mẽ hay sợ hãi. Thật là quan trọng khi nhìn biết rằng Chúa Jêsus vốn hiểu rõ năng lực của sự cám dỗ và Ngài không phẫn nộ khi chúng ta nói với Ngài về thất bại cứ lặp đi lặp lại hoài. Chuyến hành trình làm người của Ngài cung ứng cho Ngài sự hiểu biết bên trong về nhu cần sự cứu giúp của chúng ta. Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng (Hêbơrơ 4:15-16).
            Tôi muốn kết luận phần xem xét nầy về sự ra đời của Chúa Jêsus (Emanuên, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta) bằng cách đọc câu chuyện nói tới kinh nghiệm của Anne trong sách Luca.
Luca 2:36-38: Lại có bà tiên tri An-ne, con gái của Pha-nu-ên, về chi phái A-se, đã cao tuổi lắm. Từ lúc còn đồng trinh đã ở với chồng được bảy năm; rồi thì ở góa. Bấy giờ đã tám mươi bốn tuổi, chẳng hề ra khỏi đền thờ, cứ đêm ngày hầu việc Đức Chúa Trời, kiêng ăn và cầu nguyện. Một lúc ấy, người cũng thình lình đến đó, ngợi khen Đức Chúa Trời, và nói chuyện về con trẻ với mọi người trông đợi sự giải cứu của thành Giê-ru-sa-lem.
            Giống như bao người khác trong câu chuyện của Luca, Anne là một người tầm thường đã đưa ra một giọng nói. Bà được mô tả rất ít ỏi — chồng bà đã mất, tuổi thanh xuân của bà đã qua lâu rồi. Bà sống một mình và chẳng có gì xuất sắc trong kinh nghiệm hàng ngày của bà. Tuy nhiên, một ngày kia, bà được phép đón nhận câu trả lời cho mọi lời cầu nguyện của bà, một cuộc gặp gỡ có ba chặng. Thứ nhứt, bà trông mong Chúa Jêsus. Thứ hai, bà dâng lên Đức Chúa Trời những lời cảm tạ và sau cùng bà nói về Chúa cho nhiều người khác biết. Sự lựa chọn của Anne ở đây có thể được xem như một khuôn mẫu rất hữu ích.
            Nguyện bà góp phần như sự cảm thúc cho chúng ta khi thờ lạy Chúa Jêsus, kéo đến gần, dâng lên lời cảm tạ, và làm cho ai nầy đều nhìn biết lẽ thật của Ngài.



Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

ĐỨC CHÚA TRỜI: ĐẤNG KÉO TÔI XA KHỎI BẢN NGÃ MÌNH



ĐỨC CHÚA TRỜI:
ĐẤNG KÉO TÔI XA KHỎI BẢN NGÃ MÌNH
            Tuần rồi, chúng ta đã nói về mấy con chó. Chúng ta đã học biết là chẳng có một con chó nào ở tại Hội thánh nầy có lúc khó mà yêu mến chủ nhân của mình. Tôi nghĩ thật là công bằng khi chúng ta cân đối lại mọi việc trong tuần nầy rồi nói về mấy con mèo. Có ai ở đây nuôi mèo không? Loài mèo là phần giới thiệu rất hay cho chúng ta sáng nay, vì chúng ta đang nói tới việc bị ám ảnh với cái tôi của mình. Tôi thấy truyện bằng tranh nầy rất là hay, nó tóm tắt lại loài mèo đang nghĩ như thế nào về bản thân mình.
            Chính câu chuyện bằng tranh Garfield do Jim Davis sáng tác. Jon (chủ của con mèo có tên là Garfield) nói với Garfield khi nó mài mấy cái móng chân của nó, Garfield, trong mọi loài ở trên đất, loài mèo là loài hay lấy cái tôi mình làm trọng!” Bối cảnh kế tiếp cho thấy Garifeld bị sốc và lạnh lùng, không còn mài mấy cái móng chân của mình nữa, khi nó nhận lấy câu nói của Jon. Bối cảnh thứ ba cho thấy Garifeld đang nhìn vào Jon với cách thể hiện rất hay qua khuôn mặt, nó nói: “Có loài khác nữa sao?”
            Tuần rồi, tôi đã hỏi mấy người có nuôi chó là nó có một thời khó mà yêu mến họ hay không!?! Tôi không hỏi những ai nuôi mèo câu đó. Như thế là không công bằng.
            Sự thực cho thấy rằng hết thảy chúng ta đều tương tự như loài mèo vậy. Khi chúng ta muốn nói tới việc ấy, hầu hết chúng ta đều có một thời điểm khó nhận ra là có ai đó đang ở quanh đấy. Kinh nghiệm của chúng ta được xác định như thế do chính kinh nghiệm là có đôi khi khó mà thoát ra khỏi cái tôi của mình lắm. Trong nhiều phương thức, hết thảy chúng ta đều bị nghiện ngập với cái tôi của mình. Chúng ta bị cuốn đi với những thăng trầm và bị nung nấu bởi bất cứ gì có cần, mong muốn, buồn vui mà chúng ta đang có ở giữa cuộc đời trong lúc bây giờ.
            Hôm nay, chúng ta bước vào tuần thứ ba của loạt bài trước Lễ Giáng Sinh khi lượt qua sách Malachi. Có những lời lẽ sau cùng được ghi lại trong Kinh thánh trước sự đến của Đấng Christ và chúng là một sứ điệp đầy năng quyền cho dân sự của Đức Chúa Trời về điều chi có liên quan đến Ngài. Tuần thứ nhứt, chúng ta đã nhìn vào phần khẳng định tuy đơn sơ song rất quan trọng, là Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta. Tuần qua, chúng ta đã khởi sự hình dung làm sao chúng ta có thể bước vào tình yêu ấy ở trên đất. Chúng ta đã nhìn thấy hai cách khác nhau mà Đức Chúa Trời dùng để kéo chúng ta đến với chính mình Ngài — để giúp cho chúng ta tiếp nhận tình yêu thương của Ngài.
            Tuần nầy, chúng ta sẽ nhìn vào thêm ba việc nữa giữ chúng ta không bước vào tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Nhưng hết thảy chúng đều phải xử lý với cùng một vấn đề cơ bản. Chúng ta bị ám ảnh với cái tôi của mình. Hay tìm kiếm con số 1. Luôn quan tâm đến mọi nhu cần của mình và kinh nghiệm cho tôi thấy rằng quan hệ với người khác, ít nhiều gì phải quan hệ với Đức Chúa Trời thực sự là khó khăn. Nếu chúng ta chịu bước vào một mối quan hệ với Đức Chúa Trời, Ngài cần phải kéo chúng ta đến với chính mình Ngài. Đấy là những gì chúng ta đã nhìn thấy trong tuần qua và giờ đây chúng ta cũng cần phải bỏ đi điều chi là sự nghiện ngập cơ bản nhất của chúng ta: ấy là cái tôi của mình. Chúng ta cần ai đó giúp đỡ cho chúng ta bỏ lại sau lưng thứ nhu nhược ấy để bảo vệ bản thân mình. Chúng ta cần một Đức Chúa Trời là Đấng kéo chúng ta ra khỏi cái tôi của mình.
            Đây là thắc mắc mà Malachi đang xử lý với trong phân đoạn mà chúng ta sẽ nhìn vào hôm nay. Chúng ta có thực sự tin cậy Đức Chúa Trời đủ để thôi không bảo hộ cho cái tôi của mình nữa chăng? Khi chúng ta lượt qua sách Malachi, chúng ta để ý thấy nó chứa sáu phần tranh luận giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài. Quyển sách về mặt cơ bản là một tóm tắt của các trận chiến nầy.
            Tuần nầy, chúng ta sẽ nhìn vào ba phần tranh luận đặc biệt mà Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài đang có. Nhưng hết thảy chúng đều tựu trung quanh cùng một vấn đề. Hết thảy đều nói tới Đức Chúa Trời đang tra hỏi dân sự Ngài phải từ bỏ nhu cần lo toan về bản thân họ. Đức Chúa Trời đang yêu cầu họ phải giết chết tính ích kỷ đi. Hãy giết chết quan niệm cho rằng bạn là trọng tâm của vũ trụ.
            Vì thế, tuần nầy chúng ta sẽ nhìn vào Malachi 2:17-3:15. Đây là câu chuyện nói tới một dân đang tuyệt vọng muốn nắm giữ quyền chủ động trên đời sống của họ. Chúng ta sẽ nhìn thấy họ đang luận lẽ với Đức Chúa Trời về việc các dân khác đang sống tốt đẹp hơn họ. Chúng ta sẽ nhìn thấy họ luận lẽ với Đức Chúa Trời về cách thức họ sử dụng tiền bạc và toàn bộ đời sống đức tin nầy có xứng đáng hay không!?!
            Chúng ta cũng sẽ nhìn thấy sự khích lệ khăng khăng của Đức Chúa Trời đối với họ. Ta sẽ chăm sóc cho các ngươi. Ta sẽ giúp đỡ cho các ngươi. Đây là sứ điệp mà Đức Chúa Trời ban ra cho dân sự của Ngài.
Hãy bỏ sự công bằng đi
            Chúng ta sẽ khởi sự bằng cách nhìn vào phần tranh luận thứ nhứt mà Malachi ghi lại giữa Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài. Như chúng ta đã nhìn thấy qua sách Malachi, Đức Chúa Trời sẽ phán ra một việc, và rồi Ngài sẽ đề cập đến cách dân sự Ngài đáp trả với Ngài.
            Malachi 2:17: Các ngươi đã làm phiền Đức Giê-hô-va bởi những lời nói mình; các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có làm phiền Ngài ở đâu? Ấy là khi các ngươi nói: Ai làm điều dữ thì đẹp mắt Đức Giê-hô-va, và Ngài ưa thích những người như vậy; bằng chẳng vậy, thì nào Đức Chúa Trời của sự chánh trực ở đâu?”
            Đức Chúa Trời khởi sự bằng cách nói: “Ta lấy làm mệt khi nghe các ngươi nói. Mọi sự các ngươi làm là nói ra cùng một việc thật là nhiều lần. Các ngươi chỉ có từng ấy việc”. Dân sự Ngài quay trở lại nói liền: “Ngài đang nói gì thế? Chúng tôi đã làm gì ư? Sao Ngài lấy làm mệt khi nghe chúng tôi nói chứ?” Vì thế, Đức Chúa Trời trưng dẫn cho họ thấy.
            Ngài phán rằng họ đang lằm bằm vì những con người xấu xa đang thịnh vượng. Họ nghĩ Đức Chúa Trời đã lẫn lộn rồi vì người ta đang làm ác mà Ngài chẳng làm gì hết về sự ấy. Họ kết luận rằng một là Đức Chúa Trời ưa thích hạng người thể ấy hoặc Ngài đã sơ sót rồi.
            Chúng ta ra đời với ý thức công bình ở trong lòng. Nếu bạn không tin tôi, thế thì hãy thử đi. Hãy bước vào một lớp mẫu giáo kia. Mấy đứa trẻ ngồi im lặng ở đó. Hãy bảo chúng, đứa nào muốn tạo ra tiếng ồn cứ mạnh dạn giơ tay lên. Hãy đợi một đứa trong số đó tạo ra tiếng ồn. Cần phải mất khoảng ba giây đồng hồ. Hãy tách đứa trẻ ấy ra. Hãy đợi một đứa khác tạo ra tiếng ồn. Cần phải mất ba giây rưỡi nữa. Hãy trao cho nó một cái bánh. Rồi hãy chạy đi. Vì bạn sẽ có một lớp mẫu giáo sẵn sàng tấn công bạn cho xem. Chúng sẽ sôi sụt lên với trò chơi công lý của bạn.
            Bạn sẽ chẳng phải làm gì nhiều để giúp cho vị giáo viên của lớp học ấy ổn định lại trật tự, nhưng bạn đã dạy cho mấy đứa trẻ mẫu giáo đó một bài học rất quan trọng về cách thức thế giới của chúng ta đang chuyển động. Có người phá luật rồi lại được thoải mái. Người khác phá luật thì lại nhận được bánh ăn. Thế giới nầy không được dự trù như thế, mà sao nó lại như thế chứ!?! Điều nầy là thực trong thế giới của chúng ta, hạng người xấu xa đôi khi lại suông sẻ ở trong đó. Thậm chí bạn dám nói là họ còn thịnh vượng trong đó nữa là.
            Điều nầy là rõ ràng lắm cho những người Do thái xa xưa y như những gì xảy có trong lớp học mẫu giáo kia. Vì vậy, họ than phiền về sự ấy. Ở Giêrêmi 12:1, vị tiên tri hỏi: “Sao đường lối những kẻ ác được thạnh vượng? Sao những người gian trá được yên ổn?” Ở Gióp 12:6, Gióp lưu ý:Trại của kẻ cướp được may mắn, những kẻ chọc giận Đức Chúa trời ở bình an vô sự. Ở Thi thiên 73:3, tác giả xưng nhận: Vì khi tôi thấy sự hưng thạnh của kẻ ác, thì có lòng ganh ghét kẻ kiêu ngạo. Vô luận bạn xem thấy ở chỗ nào, bạn đang nhìn thấy hạng người xấu xa đang suông sẻ đấy thôi.
            Khi chúng ta thành thực với lòng mình, há chẳng phải ý thức công bình của chúng ta đã bị chà đạp rồi sao!?! Đa số chúng ta đều không phải là giới quí tộc đâu. Đa số, chúng ta bị chao đảo vì có người suông sẻ với một việc mà chúng ta ước ao mình cũng phải suông sẻ với như thế. Khi chúng ta nhìn thấy kẻ ác được thịnh vượng, cái điều khiến cho chúng ta phải sôi giận lên không phải là có nhiều sự vi phạm công lý đâu, mà kỳ thực là có nhiều người suông sẻ với những gì chúng ta mong muốn kìa. Giêrêmi bị chao đảo vì ông muốn sống thoải mái, mà không được. Gióp sôi giận vì mọi sự bị tước hết khỏi ông, mà người khác thì không. Tác giả Thi thiên là nhân vật thành thực nhất. Ông nói ông ganh tỵ kẻ kiêu ngạo vì ông muốn những gì họ đã có.
            Vì vậy, Đức Chúa Trời đáp trả với sự than vãn của dân sự Ngài. Họ nói họ muốn sự công bằng. Vì vậy Ngài phán: “Đừng lo, Ta sẽ đem sự công bằng đến. Nhưng các ngươi lại chẳng ưa thích khi nó đến”.
            Malachi 3:1-5: “Nầy, ta sai sứ giả ta, người sẽ dọn đường trước mặt ta; và Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ thình lình vào trong đền thờ Ngài, tức là thiên sứ của sự giao ước mà các ngươi trông mong. Nầy, Ngài đến, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Nhưng ai sẽ đương nổi ngày Ngài đến, và ai đứng được khi Ngài hiện ra? Vì Ngài giống như lửa của thợ luyện, như tro thợ giặt. Ngài sẽ ngồi như kẻ luyện bạc và làm cho sạch; Ngài sẽ chùi các con trai Lê-vi, làm cho chúng nó sạch như vàng và bạc; chúng nó sẽ dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va trong sự công bình. Bấy giờ của lễ của Giu-đa và của Giê-ru-sa-lem sẽ được đẹp lòng Đức Giê-hô-va, như những ngày xưa, và như những năm thượng cổ. Ta sẽ đến gần các ngươi đặng làm sự đoán xét, và ta sẽ vội vàng làm chứng nghịch cùng những kẻ đồng bóng, tà dâm, những kẻ thề dối, những kẻ gạt tiền công của người làm thuê, hiếp đáp kẻ góa bụa và kẻ mồ côi, những kẻ làm hại người khách lạ, và những kẻ không kính sợ ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy”.
            Đức Chúa Trời phán rằng nếu các ngươi muốn nhìn thấy Đức Chúa Trời của sự công bình, đừng lo. Ngài đang tới đến đấy. Ngài nói tới việc sai phái sứ giả của Ngài là người sẽ dọn đường. Cụm từ nói tới “sứ giả ta” trong tiếng Hybálai là Malachi. Quyển sách nầy đang ở trong một nhận thức về sứ giả của Đức Chúa Trời, dọn đường cho một sứ giả khác, là sứ giả của giao ước sẽ đến.
            Đấy là lý do tại sao chúng ta đang nhìn vào quyển sách nầy vào mùa Chay. Chúng ta đang ở trong mùa lễ kỷ niệm sự đến của Đấng Christ. Quyển sách nầy sửa soạn cho chúng ta về sự ấy. Nhưng thắc mắc thật cho dân sự Đức Chúa Trời trong sách Malachi và cũng là thắc mắc cho chúng ta là chúng ta có thực sự muốn Đức Chúa Trời đem sự công bình đến hay không!?! Chúng ta nói mọi việc đều là bất công. Chúng ta nói chúng ta muốn mọi sự phải được công bằng. Nhưng chúng ta có thực sự muốn như thế không? Malachi hỏi: “Ai đương nổi ngày Ngài đến?” Có phải chúng ta thực sự muốn Ngài ngự đến không?
            Tôi nghe cụm từ “như thế là không công bằng” rất nhiều lần từ mấy đứa con của tôi. Chúng có một tình cảm rõ ràng muốn nhìn thấy sự công bằng trên đất. Vì thế, có khi một trong số chúng phải rơi vào chỗ rối rắm, tôi nhắc cho chúng nhớ rằng chúng thường xuyên quan tâm tới sự công bằng. Nếu chúng thực sự mong muốn mọi việc đều phải là công bằng, sẽ không là công bằng cho chúng nếu không nhận lãnh hình phạt. Nhưng không cứ cách nào đó trong những khoảnh khắc ấy, tình cảm của chúng về sự công bình chẳng hoàn toàn mạnh mẽ chút nào.
            Cũng thực như thế cho hầu hết chúng ta. Có thể khi chúng ta nói tới sự công bằng, thì phải nói nhiều về chúng ta hơn là chỉ có ý thức về sự công bình trong thế gian. Có thể chúng ta quan tâm đến người khác nhiều hơn là họ đáng được hơn chúng ta thực sự nhận lãnh những gì chúng ta đáng được. Có thể sự công bằng là một cách thức bị gói ghém lại để nói tới chỗ chúng ta bị ám ảnh với cái tôi của mình. Nhưng Đức Chúa Trời đang giúp đỡ chúng ta phá vỡ cơn nghiện ấy.
            Chúng ta nói rằng chúng ta muốn sự công bằng. Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ đem sự công bình đến. Vì vậy, thách thức thứ nhứt cho chúng ta là bỏ đi đòi hỏi về sự công bằng và hãy chờ đợi Đức Chúa Trời đem sự công bình đến. Hãy bỏ sự công bằng đi.
            Thành thực mà nói, tôi không biết làm sao mà người ta cứ sống trong thế gian mà không tin rằng Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ đem sự công bình đến. Bạn sống ra sao nếu không có niềm tin đó? Hai thanh niên từ hội chúng của tôi mới đây vừa bị tai nạn xe cộ và kẻ gây tai nạn đã bỏ chạy đi. Giờ đây, họ phải chịu trách nhiệm về những hoá đơn thuốc men và có ít cơ hội kẻ gây tai nạn kia sẽ được tìm thấy. Những việc như vầy không nên xảy ra. Làm sao bạn sống trong một thế giới mà những vụ việc như thế nầy xảy ra mà không tin rằng Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ sửa ngay lại mọi việc!?!
            Chúng ta cần phải tin tưởng Đức Chúa Trời đem lại sự công bình. Chẳng có phương cách sống nào khác đâu. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta phải đòi cho kỳ được mọi sự phải công bằng. Chúng ta phải giữ khư khư ý thức ai đáng được cái gì. Chúng ta cần phải biết chắc rằng không ai nhận được nhiều hơn họ đáng được, nhưng sống theo cách ấy thì cuối cùng là nẻo sự chết. Tẻ tách khỏi Đức Chúa Trời, một là bạn sẽ điên khùng với tình trạng bất công của thế gian nầy hoặc bạn sẽ trở thành một cảnh sát. Bạn sẽ luôn luôn than phiền về những gì mọi người khác đang nhận lãnh, thất vọng không nhìn thấy phiên bản công bình của mình. Cay đắng khi mọi việc không được như ý.
            Phải điên khùng, biến mọi sự ra công bằng, hoặc bỏ đi sự công bằng. Hãy để cho Đức Chúa Trời kéo bạn ra khỏi cái tôi của mình rồi tin tưởng Ngài sẽ đem lại sự công bình. Chúng ta cần loại Đức Chúa Trời như thế; một Đức Chúa Trời là Đấng giúp cong ngón tay chúng ta lại đừng chỉ vào nhu cần công bằng kia nữa rồi hãy tin tưởng ý thức của Ngài về sự công bình. Đấy là Đức Chúa Trời mà Malachi đang mô tả.
Hãy bỏ sự tự tín đi
            Đòi hỏi của chúng ta về sự công bằng không phải là việc duy nhứt chúng ta nhắm tới cái tôi của mình. Vấn đề lớn lao kế đó là dành cho con người ở khắp mọi nơi. Đây là vấn đề mà chúng ta sẽ hoàn tất chỉ tiêu cần phải nói tới trong ba tuần: tài chánh và sự rời rộng.            .
            Malachi 3:6-12: Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi; bởi cớ đó, các ngươi là con trai Gia-cốp, chẳng bị diệt vong. Từ những ngày tổ phụ các ngươi, các ngươi đã xây bỏ luật lệ ta và không vâng giữ. Hãy trở lại cùng ta, thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Nhưng các ngươi nói rằng: Bởi đâu chúng tôi sẽ trở lại? Người ta có thể ăn trộm Đức Chúa Trời sao? mà các ngươi ăn trộm ta. Các ngươi nói rằng: Chúng tôi ăn trộm Chúa ở đâu? Các ngươi đã ăn trộm trong các phần mười và trong các của dâng. Các ngươi bị rủa sả, vì các ngươi, thảy cả nước, đều ăn trộm ta. Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng! Ta sẽ vì các ngươi ngăn cấm kẻ cắn nuốt, nó sẽ không phá hại bông trái của đất các ngươi; và những cây nho các ngươi trong đồng ruộng cũng sẽ không rụng trái trước khi đến mùa, Đức Giê-hô-va phán vậy. Mọi nước sẽ xưng các ngươi là là có phước, vì các ngươi sẽ là đất vui thích, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy”.
            Vấn đề thứ hai là tiền bạc. Đức Chúa Trời bắt đầu bằng cách bảo đảm với dân sự Ngài rằng Ngài sẽ không hủy diệt họ. Không phải vì họ sống trung tín đâu, mà vì Ngài không thay đổi. Họ có thể dám chắc rằng lời hứa của Ngài sẽ được giữ lấy. Nhưng Ngài kết án họ với việc sống bất trung. Ngài phán họ không giữ theo các mạng lịnh của Ngài. Vì vậy, Ngài ban cho họ lời mời gọi: “Hãy trở lại cùng ta, thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi”. Ta sẽ không hủy diệt các ngươi mặc dầu các ngươi sống bất trung, nhưng các ngươi cần phải trở lại cùng Ta.
            Đức Chúa Trời làm mọi sự Ngài có thể để mời chúng ta quay trở lại. Rachel và tôi thích xem tin tức vào tối thứ Bảy ở chương trình Saturday Night Live với tên gọi là Weekend Update. Một lần nữa, họ đang nói tới một câu chuyện về loài mèo đại khái như sau: “Một phụ nữ ở Anh quốc đã chi hơn US$17.000 cho con mèo của bà ấy điều trị thanh quản của nó, vì thế nó phải nằm trong lồng ấp để thở oxygen. Con mèo đã tỏ thái độ biết ơn bằng cách giao tiếp bằng mắt”. Loài mèo không biết chúng có khả năng đổi lại về mặt tình cảm. Còn chúng ta thì sao?
            Đức Chúa Trời phán: “hãy trở lại cùng ta”. Họ có trở lại không? Không. Họ chơi trò câm điếc. “Bởi đâu chúng tôi sẽ trở lại? Ngài muốn nói gì thế? Chúng tôi không biết Ngài đang nói điều gì”. Vì vậy, Đức Chúa Trời báo cho họ biết rằng họ đang ăn trộm của Ngài. Bây giờ thì họ có hiểu chưa? Chưa. Vẫn chưa hiểu. “Chúng tôi ăn trộm Chúa ở đâu? Chúng tôi vẫn chưa biết Ngài đang nói đến điều gì”. Họ vẫn chưa chịu nhìn nhận việc ấy.
            Tiền bạc luôn luôn là một vấn đề. Chúng ta đã nói tới điều nầy cách đây mấy tuần. Quả là rất khó phải bỏ đi thứ gì thuộc về chúng ta. Tiền bạc vốn có đầy quyền lực trong thế gian nầy. Đối với dân sự của Đức Chúa Trời ở đây, vấn đề dường như đáng tin lắm. Họ có thực sự tin Đức Chúa Trời tiếp trợ cho họ một khi họ dâng cho Ngài những gì Ngài yêu cầu chăng? Đấy là thắc mắc cũng dành cho chúng ta nữa đấy. Chúng ta có thực sự tin tưởng Đức Chúa Trời với tài chánh của chúng ta không? Đức Chúa Trời lo trang trải đủ thứ cho chúng ta và chúng ta đáp ứng bằng mắt giao tiếp trong vài phút trước khi đi đường riêng mình. Hãy cảm tạ về sự giúp đỡ. Tôi nhận sự trợ giúp ấy từ chỗ nầy. Chúng ta có thể bỏ đi đòi hỏi sống tự tín của chúng ta và tin cậy Ngài không? Hãy bỏ đi sự tự tín.
            Thực vậy, Israel luôn có một thời khó nhọc với một phần mười. Sau mọi sự dặn dò về phần mười được cung ứng cho trong sách Lêvi ký và Phục truyền luật lệ ký, bạn không nghe nói về phần mười nữa cho tới thời của Êxêchia. Đấy là khoảng 700 năm chúng ta không có tường trình nào về việc có thu phần mười hay không!?! Có một số thời điểm trong sự trị vì của Êxêchia và sau đó các vị tiên tri đã mô tả thể nào phần mười đã được thu nhận là một phần của phong trào cải cách. Nhưng điều đó cho thấy rằng việc thu lấy phần mười không còn đều đặn như nó đã được dự trù.
            Tiền bạc là một trong những phương thức chính mà chúng ta dám chắc mọi sự đều sẽ được suông sẻ. Chúng ta sử dụng tiền bạc để bảo đảm rằng cuộc sống của chúng ta sẽ suông sẻ theo như chúng ta mong muốn. Chúng ta ăn các thứ đồ ăn chúng ta muốn ăn, chúng ta lái loại xe mà chúng ta muốn lái, chúng ta tham sự các kỳ nghỉ mà chúng ta muốn tham dự. Nếu chúng ta từ bỏ quyền điều khiển tiền bạc của mình, thì làm sao chúng ta dám bảo đảm rằng chúng ta sẽ sống hạnh phúc chứ? Đức Chúa Trời phán: “Chính xác. Các ngươi hãy để ta lo liệu việc ấy cho”.
            Thực vậy, đấy là những gì Ngài đang hứa với họ. Ngài phán: “Khá lấy điều nầy mà thử ta”. Hãy dâng cho ta những gì ta yêu cầu các ngươi phải dâng rồi nhìn xem điều gì xảy ra. Chỉ hãy làm một cuộc thử nghiệm xem! Hãy xem coi ta có lo liệu cho các ngươi hay không!?! Đức Chúa Trời phán rằng nếu các ngươi rời rộng như ta đã dạy bảo các ngươi, khi ấy ta sẽ chúc phước cho các ngươi thậm chí trong những cách thức thật là dư dật. Các ngươi sẽ chẳng có đủ chỗ để chứa hết mọi phước hạnh mà ta sẽ ban cho các ngươi. Không có ai sẽ đánh cắp nó, sâu mọt sẽ chẳng ăn nuốt nó, và trái các ngươi thường đậu luôn. Hãy đến mà thử ta. Hãy thử đi!
            Giờ đây, chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên khác hơn họ đã sống trong Cựu Ước. Đức Chúa Trời không hứa ơn phước vật chất cho chúng ta theo cùng một cách Ngài đã hứa với dân sự Ngài trong Cựu Ước, nhưng Tân Ước nói rõ rằng đời sống vâng phục với Đấng Christ dẫn tới chỗ phước hạnh.
            Có thể không phải những quả táo ngon lành trên cây, tuy nhiên đó là ơn phước. Rất thực ở chỗ nếu chúng ta hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời, kể cả tiền bạc của chúng ta, Ngài sẽ lo liệu cho chúng ta.
            Việc gì sẽ xảy ra nếu chúng ta thử Đức Chúa Trời theo cách nầy? Điều chi sẽ xảy ra nếu bạn khao khát loại rời rộng mà dân sự Đức Chúa Trời đã nhìn biết trải bao thế kỷ? Bạn có chịu sấp mặt xuống không? Tôi không nghĩ như vậy đâu. Liệu Đức Chúa Trời có đổ ơn phước xuống cho bạn không? Tôi không thể hứa bạn sẽ nhận lãnh ơn phước vật chất, nhưng tôi không nghĩ bạn sẽ hối tiếc thái độ rời rộng của mình. Tôi vốn tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ làm một việc với sự rời rộng đó.
            Chúng ta có thể đi tới được chưa? Chúng ta có thể để cho Đức Chúa Trời kéo chúng ta ra khỏi thái độ khăng khăng trong việc cung cấp cho chính mình? Đòi hỏi của chúng ta, ấy là tôi phải nắm quyền chủ động tiền bạc của tôi để tôi có thể biết chắc đời sống của tôi phải được suông sẻ theo như tôi mong muốn. Chúng ta có thể bỏ đi nhu cần cung cấp cho chính mình không? Chúng ta có thể trở lại với Đức Chúa Trời rồi để cho Ngài trở lại với chúng ta không? Chúng ta có thể tin cậy Ngài với mọi sự rồi để cho Ngài chúc phước cho chúng ta không?
Từ bỏ quyền hạn
            Đức Chúa Trời đang ra sức kéo chúng ta ra khỏi cái tôi để hướng về Ngài. Ngài đang khuyến khích chúng ta hãy đến gần Ngài. Hãy bỏ việc lấy cái tôi làm trọng lại sau lưng rồi để cho Ngài bước vào. Thứ nhứt, chúng ta than phiền rằng hạng người xấu xa đang suông sẻ với mọi sự, vì vậy Ngài bảo đảm với chúng ta sự công bình đang tới đến. Chúng ta được mời bỏ đi đòi hỏi về sự công bằng theo các giới hạn của chúng ta. Khi ấy, chúng ta than phiền rằng chúng ta cần phải biết chắc việc cung cấp cho bản thân mình, và Ngài quả quyết với chúng ta rằng nếu chúng ta tin cậy Ngài với mọi tài nguyên của chúng ta, Ngài sẽ lo liệu cho chúng ta. Chúng ta bị mời phải bỏ đi đòi hỏi cung cấp cho bản thân mình.
            Chúng ta có hai con mèo trong gia đình của chúng ta. Cả hai, chúng đều là loài mèo sống ở ngoài trời, vì vậy chúng ta không nhìn thấy chúng trọn thời gian. Một con trong đó dường như là loại mèo rất tốt cho chúng ta. Vì thế khi nó đến quanh đấy, có nhiều phấn khích trong ngôi nhà của chúng ta. Mấy đứa nhỏ tìm cách đi ra ngoài để gần gũi nó mà chẳng lo sợ về nó. Đấy là vấn đề sau cùng chúng ta sẽ nói tới. Ý thức của chúng ta cho biết chúng ta đáng được đối xử cách đặc biệt.
            Phần tranh luận sau cùng mà chúng ta nhìn vào hôm nay là tương tự với phần thứ nhứt, nhưng đến từ một hướng khác.
            Malachi 3:13-15: Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi đã lấy lời ngang trái nghịch cùng ta. Nhưng các ngươi nói rằng: Chúng tôi có nói gì nghịch cùng Ngài? Các ngươi có nói: Người ta hầu việc Đức Chúa Trời là vô ích; chúng ta giữ điều Ngài dạy phải giữ, và bước đi cách buồn rầu trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân, thì có lợi gì? Rày chúng ta kể kẻ kiêu ngạo là có phước, kẻ phạm sự hung ác là tấn tới: họ đã thử Đức Chúa Trời, và đã được giải thoát!
            Một lần nữa, Đức Chúa Trời đang than phiền về cách thức dân sự Ngài đang nói về Ngài. Trong phần tranh luận thứ nhứt, họ đang làm cho Đức Chúa Trời phải mệt mỏi với lời lẽ của họ. Giờ đây, Ngài phán rằng họ đang nói ra: “lời ngang trái” nghịch cùng Ngài và một lần nữa, dân sự của Đức Chúa Trời lại phản biện. Chúng ta không sẵn sàng để lắng nghe thêm lời chỉ trích. Vì vậy, họ đưa ra những gì họ đã nói, còn Đức Chúa Trời làm cho họ phải nhìn biết: các ngươi không suy nghĩ điều gì có giá trị hay sao chứ!?! Các ngươi nghĩ rằng bước theo ta là vô ích. Các ngươi nghĩ rằng sống vâng phục không có lợi và toàn bộ đời sống đức tin nầy không có giá trị, nó chỉ đem lại rắc rối mà thôi.
            “Người ta hầu việc Đức Chúa Trời là vô ích”. Đây là mặt trái của cuộc tranh luận thứ nhứt. Trước tiên, họ than phiền rằng hạng người xấu xa sẽ chẳng bị phạt. Bây giờ, họ đang than phiền rằng hạng người nhơn đức sẽ chẳng được ban thưởng. Sự than phiền đi theo cả hai hướng như thế. Khi chúng ta thành thật với lòng mình, chúng ta đang nếm trải những thời kỳ mà ở đó chúng ta có cùng một thắc mắc như thế nầy. Mọi sự nầy thực sự có giá trị không chứ? Bung tiền bạc của mình ra thực sự có đáng không chứ? Bỏ thì giờ của mình ra thực sự có đáng không chứ? Quan tâm đến tha nhân có đáng không chứ? Bước theo Đức Chúa Trời có đáng không chứ, hay hết thảy mọi sự nầy đều là một sự phung phí? Chúng ta phải trả lời câu hỏi ấy cho chính mình. Thực sự có giá trị hay không?
            Một việc rất hay về cuộc tranh luận nầy với Đức Chúa Trời, ấy là nó có một ít khác biệt hơn các cuộc tranh luận khác. Phần lớn trong đó, Đức Chúa Trời phán ta một việc, Ngài trưng dẫn những gì dân sự nói, và rồi Ngài đáp ứng với một việc khác. Nhưng trong trường hợp nầy, chúng ta phải nhìn thấy những gì dân sự nói, nhưng nó không giống như Đức Chúa Trời đang đáp ứng. Malachi tiếp tục với một bối cảnh khác mà chúng ta sẽ nhìn xem vào tuần tới. Mọi đầu dây mối nhợ đan chéo với nhau khi Đức Chúa Trời mô tả chi tiết hơn phần tranh luận sắp tới. Nhưng Đức Chúa Trời dường như không có một đáp ứng với phần tranh luận sau cùng nầy.
            Đây là cách tệ hại nhất để chịu thua một cuộc tranh luận. Trong ba chương, chúng ta đã lắng nghe Đức Chúa Trời và dân sự Ngài trao đổi qua lại. Ngài hiện hữu ở trước mặt họ, thách thức họ. Hãy nhận lãnh tình yêu thương của Ngài. Đừng chạy quanh với thứ tôn giáo giả hiệu. Đừng giả vờ tin, nhưng hãy sống một đời sống bất tuân.
            Đừng khăng khăng với thứ mà bạn gọi là công bằng và đừng ăn trộm Đức Chúa Trời bằng cách chối bỏ không sống rời rộng. Đây là một loạt dài những trận đánh. Đây là một trận đánh khác nữa. Đức Chúa Trời phán ra một việc; chúng ta lắng nghe những gì dân sự của Ngài nói; và rồi im lặng. Bạn có thể lắng nghe Đức Chúa Trời sau câu 15.
            Ta đã thua những cuộc tranh luận như thế nầy. Các ngươi hết thảy đều nóng nả và các ngươi đưa ra hết lời tố cáo nầy đến lời tố cáo khác, tìm cách biết chắc tiếng nói của các ngươi sẽ được nghe, tự biện hộ mình, và đứng lên vì cái tôi của mình. Thế rồi người kia đã im lặng thở dài và bạn nhìn biết rằng nếu bạn thắng hơn bằng lời lẽ, bạn đã đánh mất tình yêu thương. Đấy là những gì Đức Chúa Trời đang thực thi ở đây. Gần như là Ngài phán: “Ta không thể trả lời cho sự tố cáo ấy. Các ngươi phải quyết định là lời cáo giác ấy có đáng hay không. Ta đang tìm cách trao đổi với các ngươi trong đó”.
            Vì vậy, phần thách thức sau cùng cho chúng ta là bỏ đi đòi hỏi cuộc sống phải nên nhìn theo một cách nhất định nào đó. Hãy thôi đừng suy nghĩ bạn đã dâng cho Đức Chúa Trời nhiều đến nỗi Ngài mắc nợ bạn món nợ chi đó. Hãy thôi đừng suy nghĩ về việc bạn phải từ bỏ bao nhiêu thứ để bước theo Đức Chúa Trời và đổi lại bạn đã nhận được quá ít.
            Hãy thôi đừng suy nghĩ người kia có nhiều thứ hơn bạn và nếu Đức Chúa Trời chịu để cho bạn yên thì bạn sẽ thấy khá hơn. Hãy thôi đừng suy nghĩ là bạn đáng được đối xử tốt hơn từ Đức Chúa Trời. Hãy bỏ đi ý thức về quyền hạn của mình đi.
Từ bỏ quyền hạn
            Khi chúng ta tự mình vật lộn với câu hỏi nầy, chúng ta có thể nhìn gần hơn xem coi cách thức dân sự Đức Chúa Trời đưa ra câu hỏi ấy rồi tìm thấy bản thân mình ít nhiều ở trong đó. Họ nói: Người ta hầu việc Đức Chúa Trời là vô ích; chúng ta giữ điều Ngài dạy phải giữ, và bước đi cách buồn rầu trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân, thì có lợi gì?
            Có hai việc khiến cho tôi phải lưu ý về lời bình của họ. Trước hết, họ thực thi mọi đòi hỏi của Ngài vào lúc nào chứ? Họ trung tín với mọi đòi hỏi của Đức Chúa Trời cho đời sống của họ vào lúc nào? Nếu họ có như thế, chúng ta không có một bản tường trình nào về việc ấy cả. Việc nầy nghe như là một trường hợp nói tới họ đang ghi nhớ những việc khác hẳn với phương thức mà Đức Chúa Trời ghi nhớ họ.
            Chúng ta cũng làm một việc ấy, có phải không? Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã từ bỏ quá nhiều cho Đức Chúa Trời. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã chịu khó làm việc để sống vâng phục và điều đó chẳng đem lại gì tốt cho chúng ta. Nhưng chúng ta có thực sự sống như thế không? Đức Chúa Trời có phán rằng chúng ta đã thực thi mọi đòi hỏi của Ngài không? Có phải chúng ta thực sự đang ở trong chỗ xét nét sống như thế có giá trị hay không chứ? Thậm chí chúng ta không đặt Đức Chúa Trời vào cuộc thử nghiệm nữa kìa, có phải không?
            Việc thứ hai cần phải chú ý là cách họ mô tả cuộc sống bước theo Đức Chúa Trời: “bước đi cách buồn rầu trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân”. Điều nầy giải thích rất nhiều việc. Phải chăng đây là những gì họ nghĩ đấy là đời sống đức tin? Phải chăng đây là những gì Đức Chúa Trời yêu cầu nơi chúng ta? Bạn cần phải buồn rầu suốt thôi sao. Bạn không thể có bất kỳ một thú vui nào sao!?! Bạn không thể tham dự vào những việc mà người khác đang dự vào sao!?! Phải chăng đây là cách chúng ta suy nghĩ về Đức Chúa Trời? Phải chăng Ngài là một loại ham thích giết chóc trong vũ trụ, viên thủ thư nghiêm nghị không muốn có bất cứ một tiếng ồn nào cả?
            Khi chúng ta thực sự nhìn vào mọi lời lẽ ấy, chúng ta nhìn biết quan điểm vâng phục không đúng, nhưng đấy là một ý tưởng mà chúng ta cứ khư khứ nắm lấy hôm nay. Đối với tôi, đây là điều đôi khi tôi nhận thức về Cơ đốc giáo hiện nay. Mọi sự tốt lành mà thế gian thưởng thức đều được gắn nhãn tồi: tình dục, say sưa, vui vẻ, và tiệc tùng. Chúng ta đôi khi có thể nghĩ rằng Đức Chúa Trời hầu như đẹp lòng khi chúng ta chịu khổ nhiều nhất, nhưng đấy chẳng phải là cách nó tác động đâu! Đức Chúa Trời đã tạo ra mọi sự tốt lành trong cuộc sống. Ngài tạo ra tình dục để cho người ta vui hưởng. Ngài tạo ra đồ ăn để cho người ta thưởng thức. Ngài tạo ra con người để người ta vui vẻ. Ngài dựng nên cuộc sống để người ta thưởng thức. Bước theo Đức Chúa Trời là nhắm tới sự sống — kinh nghiệm những gì Chúa Jêsus gọi là sự sống  hay “sự sống dư dật”.
            Khi tôi còn ngồi ghế đại học, có một bài hát do Stephen Curtis Chapman sáng tác đã giúp cho tôi học biết sự việc nầy. Có một dòng ghi là: “Chẳng có một chỗ nào trên đất quan trọng hơn con đường dẫn tới thiên đàng”. Sau khi bước đi trên con đường đó khi còn ngồi ở trường, tôi tin chắc rằng chẳng có một sự sống nào quan trọng hơn cuộc sống đức tin.
            Một trong những phương châm mới của đội San Francisco 49ers là lời kêu gọi và đáp ứng mà vị huấn luyện viên mới của họ đã trình bày cho cả đội biết. Ông hỏi: “Ai sẽ giỏi hơn chúng ta?” và họ đáp: “Chẳng có ai hết”. Cũng có thể nói như thế với những ai đang bước theo Đấng Christ. Ai sẽ giỏi hơn chúng ta chứ?
            Người nào có quan hệ tình dục với bất cứ ai và mọi người? Tôi đã trao đổi với một số người trong họ. Họ chẳng có gì tốt hơn chúng ta. Người nào chi xài tiền bạc cho bản thân họ? Tôi đã trao đổi với họ. Họ chẳng có gì tốt hơn chúng ta. Người nào giết người, thù hận, nói dối, và trộm cắp? Tôi biết một số người trong họ và họ chẳng có gì tốt hơn chúng ta. Người nào tin chắc những gì bạn nhìn thấy là những gì bạn tiếp nhận và chẳng có gì thêm nữa cho cuộc sống? Tôi biết nhiều người trong số họ và họ chắc chắn chẳng có gì tốt hơn chúng ta.
            Đời sống đức tin là đời sống mà chúng ta mong muốn sống. Đây là cuộc sống dư dật và đời sống ấy không được trọn vẹn bởi bất cứ phương tiện nào. Đời sống ấy dư dật những khó khăn, gian khổ, và đau đớn. Tôi đã có phần trong mọi sự ấy và tôi dám chắc tôi sẽ đối diện với nó nữa, nhưng thay vì thế tôi đang nếm trải những việc ấy với Đấng Christ hơn là không có Ngài. Đây là đời sống đức tin rất có giá trị.
            Từng giây phút trong cuộc sống ấy. Từng mảng vâng phục tôi đều dâng lên cho Đức Chúa Trời. Trong những khoảnh khắc chân thật của tôi, tôi không hề hối tiếc khi vâng theo Đức Chúa Trời và tôi chưa hề nghe nói ai hối tiếc cả.
            Nhưng có thể đời sống ấy là một cuộc vật lộn để giúp nhớ rằng nhiều người khác đã có đời sống ấy tốt hơn. Sự thể trông như thế gian đang thắng thế. Sự thể trông như sống bất tuân và bất trung thì có nhiều lạc thú và dễ thở hơn, nhưng đấy là một lời nói dối. Tôi được nhắc nhớ tới lời lẽ của Phaolô ở phần cuối sách Galati gửi cho một hội thánh còn non trẻ khi họ vừa học biết sống đời sống đức tin.
            Galati 6:7-9:Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt”.
            Đừng trở nên yếu đuối khi lo làm lành. Đừng tin theo lời dối trá cho rằng vâng lời thì chẳng có lợi ích chi hết. Đừng tin theo quan niệm cho rằng bước theo Đức Chúa Trời có nghĩa là đi vòng quanh như những kẻ buồn rầu. Đấy chẳng phải là đời sống đức tin đâu. Chúng ta có thể từ bỏ thái độ khăng khăng cho rằng chúng ta đang sống thứ đời sống tốt nhứt và tin tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ tiếp trợ cho chúng ta chăng? Chúng ta có thể từ bỏ hết mọi lời dối trá rồi tin tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt chúng ta vào cuộc sống chăng? Đời sống đức tin ấy là đời sống có giá trị.
Phần kết luận
            Sự thực cho thấy rằng hết thảy chúng ta đều có một cơn nghiện rất trầm trọng. Chúng ta bị nghiện nơi cái tôi của mình. Chúng ta bị nghiện với quan niệm cho rằng cuộc sống phải công bằng cho mọi người khác nhưng bất công cho chúng ta. Chúng ta bị nghiện với ý niệm cho rằng tiền bạc của chúng ta là tiền bạc của chúng ta và chúng ta cần phải biết chắc nó đang đi đúng hướng mà chúng ta mong muốn nó phải đi. Chúng ta bị nghiện với quan niệm tự thương hại cho rằng chúng ta đã làm mọi sự đúng đắn mà chẳng được ban thưởng chi hết khi sống như vậy. Chúng ta cần có ai đó để giúp chúng ta phá vỡ cơn nghiện ấy.
            Thế là Đức Chúa Trời xen vào. Nếu chúng ta chịu để cho Ngài kéo chúng ta ra khỏi cái tôi của mình, chúng ta sẽ bước vào một đời sống hạnh phước. Khi chúng ta tin cậy Ngài, Ngài sẽ chăm lo cho chúng ta. Hãy bước ra khỏi cái tôi của mình đi. Hãy bước tới đi. Hãy để cho Đức Chúa Trời kêu gọi bạn và rút bạn ra khỏi chỗ mà bạn bị ám ảnh với bản ngã mình.
            Tôi đã lớn lên giống như loài mèo. Nhưng ít nhất trong các giới hạn quan hệ với Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải sống giống như loài chó nhiều hơn là loài mèo. Chúng ta cần phải tẻ tách ra khỏi cái tôi của mình rồi để cho mọi sự được thoáng đi.
            Đức Chúa Trời giúp chúng ta trong chỗ nầy bằng cách cung ứng cho chúng ta gương mẫu trọn vẹn về cách thực thi vấn đề nầy. Chúa Jêsus đã đến như một tấm gương cách phải hy sinh bản ngã. Ngài tin cậy Đức Chúa Trời trong mọi sự; qua những khoảnh khắc đầy năng quyền của lễ tưởng niệm; qua sự chữa lành; qua những mối quan hệ sâu sắc và những lúc đau khổ, bị phản bội, bị hành hình, và bị chế giễu. Nhưng Đức Chúa Trời quan tâm đến Ngài. Để rồi mọi người đều phải quì gối xuống khi nghe đến danh của Chúa Jêsus. Hãy tin cậy Đức Chúa Trời và Ngài sẽ chúc phước cho bạn.
            Khi chúng ta chờ đợi Chúa Jêsus, Ngài là Đấng kêu gọi chúng ta, nhưng Ngài cũng là tấm gương của chúng ta. Nếu Ngài có thể để mọi sự lại sau lưng, Ngài đang khích lệ chúng ta làm theo y như vậy. Hãy vác lấy thập tự giá của mình đi. Hãy giết chết bản ngã của bạn. Hãy từ bỏ quyền hạn của bạn đi. Hãy bước theo Đức Chúa Trời. Hãy liều mình và phải trả giá. Ai sẽ nhận lãnh nhiều hơn những kẻ chịu bước theo Đấng Christ chứ? Không có ai cả.