Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

II Cô rinh tô 7:8-13: "Yêu Thương Thì Phải Nói Ra Sự Thật"


Yêu Thương
Thì Phải Nói Ra Sự Thật
II Côrinhtô 7:8-13

Chúng ta hãy hãy làm một bài kiểm tra sơ bộ có đề tựa là: “Bạn sẽ làm gì, nếu”.
Bạn sẽ làm gì nếu ai đó trong nhà thờ kiện một thuộc viên khác về tội vu khống? Trước khi bạn trả lời, hãy xét qua câu hỏi thứ nhì. Bạn sẽ làm gì nếu bạn khám phá ra trường hợp loạn luân của một trong các chức sắc của nhà thờ? Cho phép tôi cung ứng cho bạn một đánh giá tốt khác. Bạn sẽ làm gì nếu bạn khám phá ra một thanh niên (và một người không còn trẻ nữa) đang dính dáng vào tình dục trước hôn nhân (hay ngoài hôn nhân)? Hoặc nếu bạn phát hiện ra một số trưởng lão không tin vào sự sống lại của Chúa Jêsus? Hay nếu có người say xỉn trong khi dự Tiệc Thánh? Hoặc nếu ba lớp tráng niên Trường Chúa Nhật yêu cầu cả Hội thánh phải ăn chay? Hoặc nếu bạn nhận được một bức thư trong hộp nói rằng bốn trong số thành viên ban trị sự có một cuộc họp kín đặc biệt tìm cách ly khai với Mục sư quản nhiệm và thay thế ông ấy bằng một vị Mục sư khác? Và đây là việc sau cùng. Sẽ ra sao nếu những việc nầy đang xảy ra trong nhà thờ của bạn cùng một lúc? Bạn sẽ làm gì?
Nếu bạn giống như hầu hết mọi người, ngay lập tức phản ứng của bạn sẽ là: “Tôi sẽ tìm một nhà thờ khác”. Điều đó sẽ là tốt cho bạn, thế nhưng điều đó sẽ chẳng phụ giúp chi nhiều cho hội thánh. Nếu người duy nhứt chưa dính dấp gì với sự thỏa hiệp ra đi, thì hội thánh chừng nào mới phục hồi? Sẽ có câu trả lời hay hơn là rút hết cổ phần của bạn ra rồi cứ tiếp tục đi thôi.
Tôi nghĩ hết thảy chúng ta đều đã nghe nói về một phụ nữ kia nói bà ta đang tìm kiếm một nhà thờ trọn vẹn. Một người bạn trả lời cho vấn đề đó: “Nếu bà từng tìm gặp một nhà thờ trọn vẹn như thế, làm ơn đừng nhóm ở đó. Bà sẽ làm cho nó hư hoại đi”. Mặc dù hết thảy chúng ta đều thích một nhà thờ không có các nan đề nghiêm trọng, không có nhiều nan đề ở chung quanh. Và nếu chúng ta tìm thấy một nan đề, chúng ta sẽ làm hư hoại nhà thờ ấy một khi chúng ta đến nhóm lại ở đó.
Chúng ta bị bỏ lại với một thực tại không thể chối cải được. Hội thánh được dựng nên bởi con người, và ở đâu có con người, ở đó bạn có nan đề. Kể từ khi nhà thờ mở rộng các cánh cửa ra đón đủ loại người, chúng ta kết thúc với đủ loại nan đề.
Ai đó có thể phản đối: “Chắc chắn là nhà thờ có lắm nan đề. Tuy nhiên, không một nhà thờ nào từng có đủ loại nan đề mà bạn đã nhắc tới. Đấy là điều bất khả thi”. Và danh sách ấy dường như là không tưởng, vì làm sao một nhà thờ có thể sống còn với đủ thứ như thế chứ? Đây là sự ngạc nhiên. Tôi không lập ra bảng danh sách đó. Bấy nhiêu đó đến từ một nhà thờ có thực. Không phải một nhà thờ trên nước Mỹ đâu. Đấy là một nhà thờ có thực trong Tân Ước. Đây là phần mô tả một số nan đề trong Hội thánh tại thành Côrinhtô. Và vì thế thắc mắc: “Bạn sẽ làm gì, nếu” trở nên rất quan trọng bởi vì một nhà thờ địa phương phải đối mặt với đủ thứ hết và còn nhiều nữa.
Tôi đã đề xuất ra một câu trả lời rồi: bất chấp các nan đề. Song đấy chẳng phải là giải đáp tốt nhứt vì nó chẳng giúp gì được cho người nào đang đấu tranh với nhiều vấn đề khác nhau.
Công việc chưa xong
Rõ ràng là Phaolô không tin vào việc trốn chạy trước các vấn đề gai góc. Ông tin vào việc đối mặt thẳng thừng với chúng. Đấy là lý do tại sao ông viết thư I Côrinhtô. Bức thư ấy quả là khó viết, nát lòng và tàn nhẩn lắm, nhưng ông đã viết ra bức thư đó. Ông nói cho họ biết sự thực thật là đơn giản khi họ không muốn nghe sự thực đó. Khi chúng ta đến với thư II Côrinhtô, được viết ra chỉ một thời gian ngắn sau đó, phần lớn các nan đề ông đã bàn luận trong I Côrinhtô thậm chí còn chưa nhắc tới. Chúng cần phải đối mặt với và được xử lý theo Kinh thánh, vì vậy Phaolô chưa khui chúng ra.
Song có một mảng sự việc chưa được làm xong. Chính vấn đề một người sống chung với vợ của cha người ấy (xem I Côrinhtô 5 về mọi chi tiết). Đây là một tội lỗi rất ghê tởm đến nỗi ngay cả dân theo tà giáo cũng không phạm vào điều ấy nữa. Trong bức thư thứ nhứt, Phaolô đã truyền cho họ phải dứt bỏ người đó ra khỏi Hội thánh. Họ đã làm theo mạng lịnh ấy. Về sau người nầy ăn năn. Giờ đây người ấy muốn trở lại với Hội thánh và dân sự không muốn cho người ấy trở lại, đây là điều dễ hiểu nếu không có lòng khoan dung. Vì vậy trong II Côrinhtô 2, Phaolô tuyên bố: “Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi” (các câu 5-11).
Một vài chương sau đó, Phaolô nhìn lại toàn bộ quá trình xử lý với mọi nan đề khó khăn của Hội thánh. Ông suy gẫm quá trình ấy khiến ông cảm nghĩ ra sao, quá trình ấy làm cho họ cảm nghĩ như thế nào, và mọi sự tốt lành đã ra từ quá trình ấy. Chúng ta tìm thấy sự suy gẫm riêng tư ở II Côrinhtô 7:8-13. Mấy câu nầy chứa một luận điểm quan trọng cho các tín đồ ở thế kỷ 21 thay vì phải nhướng mày trước các vụ việc khó chịu của cuộc sống.
Trong thời buổi yêu thương ủy mị và đặc ân quá rẻ rúng, khi chúng ta tái xác định tội lỗi thay vì gọi nó như đáng phải gọi, chúng ta cần phải tìm lại với quan điểm của Kinh thánh. Yêu thương thì phải nói ra sự thực dù nó có gây tổn thương. Mấy câu nầy bày ra ba hàm ý của nguyên tắc đó.
# 1 Nói ra sự thật thường gây tổn thương.
Hãy nhìn vào cách Phaolô nói ở câu 8: “Dầu nhơn bức thơ tôi, đã làm cho anh em buồn rầu, thì tôi chẳng lấy làm phàn nàn; mà nếu trước đã phàn nàn (vì tôi thấy bức thơ ấy ít nữa cũng làm cho anh em buồn rầu trong một lúc)”. Đây là lý do tại sao có quá nhiều người lại muốn bất chấp vấn đề. Nói thẳng là điều chẳng dễ dàng khi biết rõ bạn có nguy cơ bị chối bỏ và hiểu lầm. Có khi người ta không muốn thay đổi. Vì vậy, khép kín miệng mình lại thì dễ dàng hơn so với bao điều phải làm khác. Phaolô có một sự cân đối theo Kinh thánh. Ông không chỉ ra mọi nan đề của họ. Ông không phải là kẻ gây rối cho người nào thấy mình tốt đang khi họ là xấu xa. Trước tiên, ông hối tiếc vì sự thẳng thắn của ông vì ông muốn tình yêu thương và sự chấp nhận của họ. Nhưng ông liều mọi sự vì sự nhơn đức tối hậu của họ. Nói ra sự thật có thể gây đau khổ cho người nói ra nó.
Không những thế, câu nầy còn nói rõ rằng nói ra sự thật có thể gây đau khổ cho người nào nghe nó nữa. Tôi không biết chi về bạn hết, nhưng tôi thích những lời khen ngợi. Tôi muốn được khen ngợi bất cứ lúc nào, hơn là ai đó tôi quen biết lại tới đến rồi chỉ ra chỗ sai quấy của tôi. Nhưng khi tôi nhìn lại đời sống mình rồi nhớ đến những lúc có người đến gần rồi nói cho tôi biết sự thực về lỗi lầm và thất bại của tôi, tôi có thể làm chứng rằng tôi tấn tới nhiều từ các thời điểm ấy hơn lúc có người chỉ đến khen tặng tôi về những gì tôi đã làm ra. Có khi việc ấy đến qua một cú điện thoại, có lúc từ một cuộc trò chuyện bình thường, đôi khi từ thư từ hay e mail. Lúc đầu, tôi thấy không ưa rồi, tôi không hề mong muốn sự ấy, và nó luôn luôn như tuột xuống dốc vậy. Nhưng nếu sự thực được nói ra trong tình yêu thương, dù là khó yêu lắm, tôi sẽ kết thúc bằng câu nói: “Cảm ơn. Tôi cần điều đó lắm”.
Chúng ta biết rõ nhiều việc như thế lắm. Và nếu tôi dừng lại ở đây, tôi sẽ biện minh cho ác cảm tự nhiên của mình khi quan hệ với người khác. Nó thường gây đau khổ và thất vọng ở từng mặt một. Vì vậy, chúng ta không quan hệ với ai nữa hết.
# 2 Nói ra sự thật làm thay đổi nhiều đời sống .
Đây là chỗ mà sự cọ xát xảy đến. Chúng ta nhìn thấy một anh chị em đang vấp ngã dọc đường. Nhiều lần thậm chí họ không biết điều chi đang xảy ra nữa. Nhưng chúng ta biết. Chúng ta nhìn thấy sự tràn ngập của tội lỗi trong đời sống của họ. Và chúng ta nói: “Tôi không nghĩ điều chi có thể làm cho họ thay đổi”. Có thể lắm, có thể không. Nhưng cơ hội duy nhứt của chúng ta là đến gặp thẳng họ, nói cho họ biết sự thật, rồi nhìn xem điều chi xảy ra. Tại sao chứ? Vì nói ra sự thật làm thay đổi nhiều đời sống .
Có hai phản ứng mà một người có thể đưa ra. Phaolô giải thích điều đó ở các câu 9 và 10:
“nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải. Thật, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào. Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết” (các câu 9-10).
Tôi có cơ hội đi thăm viếng với một người bạn đang trải nghiệm điều trị ung thư. Mỗi tháng ông ấy đến bịnh viện để điều trị hóa chất thật là khó nhọc. Đối với tôi, trông ông ta rất yếu ớt khi tôi hỏi thăm về những lần điều trị đó, vợ ông ta nói rằng những lần điều trị khiến cho ông ta ốm cả tuần lễ cho đến mười ngày sau mỗi lần vô thuốc. Những lần viếng thăm hàng tháng hầu như tồi tệ giống như chính chứng ung thư. Tuy nhiên, đó là niềm hy vọng chữa lành duy nhứt. Đấy là những gì Phaolô đang nói ở đây. Giải pháp duy nhứt sau cùng cho các nan đề thuộc linh trong Thân Thể Đấng Christ là buộc họ phải đối diện với sự thật. Nhưng sự thật ấy có thể sẽ phải nghe trong đau khổ đấy.
Và nó có thể khiến cho một trong hai việc phải xảy ra.
Thứ nhứt, sẽ có buồn rầu là sự sẽ dẫn tới ăn năn và được cứu rỗi. “Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn” (câu 10). Vì vậy, có thể ai đó đến với tôi rồi nói: “Ray ơi, ông tiêu rồi”. Câu nói ấy khiến tôi nổi giận vì tôi đâu có mất trí đâu. Tôi biết mình đúng mà. Tôi về nhà trong giận dữ, còn Marlene nói: “Anh à, có gì sai không?” Tôi nói: “Có ai đó nói anh tiêu rồi”. Vợ tôi (là người rất khéo léo) nhìn chăm tôi rồi hé môi cười nói: “Sẽ ra sao nếu họ nói đúng chứ?” Giờ đây, là hai chống một, vì vậy tôi vào thẳng phòng mình rồi yên lặng trong một lúc. Hiển nhiên là ánh sáng đang hé rạng, và sau khi tôi nhìn thấy mình thực sự dại dột là dường nào, tôi xưng tội với Đức Chúa Trời, sửa ngay lại mọi việc, và với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời thay đổi đời sống tôi. Mọi sự ấy là gì chứ? Đó là kết quả cuối cùng của việc nói ra sự thật. Việc ấy khiến tôi phải buồn rầu, nhưng sự buồn rầu đó thúc đẩy tôi phải đánh giá chính đời sống mình sửa ngay lại mọi việc với Chúa và với gia đình của Đức Chúa Trời. Cuối cùng thì tôi cảm thấy thế nào? Tôi chẳng có hối tiếc gì hết. Sự thể giống như nuốt một muổng si-rô vậy. Tôi ghét lúc nó chảy xuống bụng, nhưng đến cuối cùng thì tôi chẳng có hối tiếc nữa.
Thứ hai, sẽ có buồn rầu nhưng chẳng có thay đổi chi hết. Có thể tôi không đáp ứng tốt với sự thực mà ai đó nói cho tôi biết. Đấy là những gì Phaolô muốn nói khi ông nói: “sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết” (câu 10). Đâu là những dấu hiệu chỉ ra sự buồn rầu theo thế gian?
Sự thất vọng: “Tôi lấy làm tiếc vì tôi bị bắt quả tang”.
Chống đỡ: “Đấy chẳng phải là lỗi của tôi”.
Tự biện: “Ông không hiểu hoàn cảnh rồi”.
Giận dữ: “Lui ra sau tôi”.
Lời lẽ không tử tế: “Ông là ai mà dám xét đoán tôi?”
Đối chiếu: “Bản thân ông còn không hoàn hảo kia mà”.
Nhiều Cơ đốc nhân trở nên chuyên nghiệp trong việc tránh né sự thật. Một số người trong chúng ta lấy đó làm thói quen trọn cả đời. Đấy là điều mà sự buồn rầu theo thế gian có ý nói tới. Chính sự tránh né sự thật lẫn tránh việc xử lý với thực tế. Chính việc sử dụng từng kỹ xão bảo vệ trong sách hướng dẫn mà chúng ta không thay đổi phương thức chúng ta sinh sống.
Nhưng sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời luôn luôn tạo ra một sự thay đổi triệt để. Hãy xem lại câu 11:
“Vậy, hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự ân cần trong anh em là dường nào! Lại có sự chữa chối, buồn giận, răn sợ, sốt sắng, nông nả, trách phạt là dường nào! Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó”.
Sau đây là bảy dấu hiệu nói tới sự buồn rầu theo ý của Đức Chúa Trời:
Thứ nhứt, mau mắn sửa ngay lại mọi việc.
Thứ hai, chúng ta lo sợ muốn tẩy xóa việc làm sai trái của mình.
Thứ ba, chúng ta chao đảo, đời sống chúng ta sẽ có sự thỏa hiệp.
Thứ tư, chúng ta lo lắng về tội lỗi của mình.
Thứ năm, chúng ta mong mỏi được phục hồi trọn vẹn về mặt thuộc linh.
Thứ sáu, chúng ta quan tâm đến sự bảo tồn Thân Thể của Đấng Christ.
Thứ bảy, chúng ta sẵn sàng làm bất cứ điều chi là cần thiết để sửa ngay lại mọi việc.
Phaolô đã nhìn thấy mọi sự ấy tại Hội thánh Côrinhtô. Vì họ đã để cho một tình huống khủng khiếp cứ dai dẳng mãi trong Hội thánh, cần phải có một sự đối diện đầy đau đớn với sự thực để họ có thể nhìn thấy họ đã sai lầm là dường nào. Nhưng hồi đau khổ ấy đã tạo ra sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, sự hối cải và bảy đức tính ở trong câu 11. Không có gì phải ngạc nhiên khi Phaolô nói: “Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó”.
# 3 Nói ra sự thật gây dựng tình yêu thương.
Chúng ta khám phá ra hàm ý sau cùng ở câu 12: Nói ra sự thật gây dựng tình yêu thương giữa các tín đồ.
“Lại còn, nếu tôi đã viết thơ cho anh em, ấy không phải vì cớ kẻ làm sự trái nghịch, cũng không phải vì cớ kẻ chịu sự trái nghịch; nhưng hầu cho lòng anh em yêu chuộng chúng tôi được tỏ ra giữa anh em ở trước mặt Đức Chúa Trời”.
Phaolô đã viết với mục tiêu tối hậu đào sâu tình cảm giữa ông và hội thánh. Ấy không phải sự chỉnh sửa tình trạng loạn luân là không quan trọng. Sự ấy quan trọng chứ. Nhưng Phaolô biết rõ mối tương giao Cơ đốc chỉ có thể được gây dựng trên một nền tảng chắc chắn trong lẽ thật. Nếu ông không nói cho họ biết sự thật, họ sẽ vui sướng trong tội lỗi của họ và mối quan hệ sẽ bị gãy vỡ. Chỉ có bước đau khổ đối diện sẽ khiến cho họ nhận ra họ thực sự yêu chuộng ông là dường nào.
Châm ngôn 27:6 chép: “Bạn hữu làm cho thương tích, ấy bởi lòng thành tín". Có khi việc một tín đồ yêu quí nhất có thể yêu gây thương tích cho một người bạn với lẽ thật.
Đấy là một trong những câu rất khó nói, tuy nhiên đó là sự thực.
Tôi đã nhìn thấy việc ấy đang tác động trong chính đời sống tôi rất nhiều lần. Tôi đã nhìn thấy điều đó cách đây nhiều năm khi một nhà truyền đạo thuộc hệ phái Trưởng Lão nói cho tôi biết tôi cần phải tỏ ra sự vui mừng trong đời sống của tôi. Tôi đã nhìn thấy điều ấy trong suốt những năm đại học khi vị cố vấn trưởng trong kỳ trại Cơ đốc nói cho tôi biết tôi đã làm một việc tốt trong phần đầu của mùa hè nhưng lại buông lơi ở phần cuối. Tôi đã nhìn thấy điều đó khi một người bạn đến nói cho tôi biết tôi có lòng ganh tỵ vì chức vụ thanh niên đã rất thành công mà không có tôi. Tôi đã nhìn thấy điều đó ở Texas khi người bạn khác đến nói cho tôi biết tôi cần phải phát triển sự trung tín trong các lãnh vực nhỏ của cuộc sống. Đôi khi đó là một chú thích trong thư từ, thường chỉ là một câu nói được thốt ra suông thôi, dù có mấy lần như thế. Tôi nhớ có lần khi cha tôi nói cho tôi biết tôi đã gây tổn thương cho mẹ tôi vì cớ sự vô ý của tôi. Câu nói ấy vẫn còn nung đốt hầu hết 40 năm về sau. Và có nhiều lần khác nữa khi người mà tôi tôn trọng đã chỉ ra các thất bại của tôi.
Khi tôi nhìn lại tất cả những trải nghiệm ấy, có hai việc lộ ra. Luôn luôn là sự đau đớn. Tôi không bao giờ muốn mình bị chỉnh sửa. Nhưng tôi luôn luôn yêu mến và tôn trọng người có lòng can đảm nói ra điều đó. Đó là thuốc đắng khiến cho tôi ra tốt hơn ở phần cuối cùng. Tại sao chứ? Vì yêu thương thì phải nói ra sự thật. Bất cứ khi nào chúng ta xem trọng điều đó, nó sẽ thường là đau khổ, nó sẽ luôn luôn làm thay đổi đời sống, và đến cuối cùng nó gây dựng tình yêu thương giữa các tín đồ. Không có gì phải ngạc nhiên khi Phaolô kết thúc phân đoạn nầy bằng cách nói rằng “Ấy là điều đã yên ủi chúng tôi" (câu 13). Yêu người luôn luôn là một việc làm rất rủi ro. Hầu hết chúng ta đều biết rõ tình cảm của mình bị chối bỏ là như thế nào rồi. Một số người trong chúng ta đều biết rõ sự ấy.
Tôi nghĩ điều đó giải thích lý do tại sao chúng ta có khuynh hướng tránh né việc tham gia với anh chị em khác trong Thân Thể. Điều nầy cũng là rủi ro nữa. Chúng ta có thể bị tổn thương. Có thể họ không thích những gì chúng ta đã nói. Hay chúng ta có thể không ưa những điều họ nói. Thật là dễ nói về việc khóc với ai đó đang khóc lóc hơn là phải khóc với họ.
Song Đức Chúa Trời dự trù cho hội thánh phải trở thành một thân thể gồm những người nói ra sự thật, biết đầu phục. Nói thì dễ, còn làm thì rất khó. Nhưng đấy là sự kêu gọi và là sự mạo hiểm của tình yêu, hầu cho chúng ta phải trả giá rồi gắn bó với nhau và nắm lấy sự mạo hiểm phải yêu thương.
Cầu nguyện qua những câu châm ngôn
Cách đây mấy tháng đang khi đọc sách Châm ngôn, tôi dành thì giờ làm một việc mà tôi chưa hề làm trước đây. Một nan đề khi chúng ta đối diện với sách Châm ngôn, ấy là có nhiều câu dường như không gắn kết với nhau. Bạn có thể có một câu nói tới sự biếng nhác đứng kế một câu nói tới sự giận dữ đứng kế một câu nói tới bậc cầm quyền xấu xa đứng kế một câu nói tới các mối nguy hiểm của rượu chè đứng kế một câu nói tới ích lợi của việc kính sợ Đức Chúa Trời. Dường như đấy là một mớ bòng bong. Vì vậy phải tập trung ý chí lại, tôi khởi sự cầu nguyện qua những câu Châm ngôn bằng cách lấy ra một chương rồi chuyển từng câu thành một bài cầu nguyện. Điều đó giúp tôi suy nghĩ về cách tiếp thu lẽ thật của câu nói cụ thể đó. Và tôi đã thử luôn với “hầu cho” là một phần trong lời cầu nguyện của tôi. Sau đây là một số điển hình từ Châm ngôn 29:
“Người nào bị quở trách thường, lại cứng cổ mình, sẽ bị bại hoại thình lình, không phương cứu chữa” (câu 1).Lạy Chúa, xin ban cho con tấm lòng dịu dàng để lắng nghe lời quở trách của người khác hầu cho đời sống con sẽ không bị hủy hoại.
“Vua nhờ sự công bình mà làm nước mình vững bền; Nhưng ai lãnh của hối lộ hủy hoại nó” (câu 4). Nguyện con yêu mến sự công bình hơn tiền bạc hầu cho con có thể mạnh mẽ mà giúp đỡ nhiều người khác.
“Nếu người khôn ngoan tranh luận với kẻ ngu muội, dầu người giận hay cười, cũng chẳng an hòa được” (câu 9). Xin giúp đỡ con biết chọn chiến đấu cách khôn khéo hầu cho con sẽ không rơi vào chỗ xung đột trong tranh luận suốt cả ngày.
“Con có thấy kẻ hốp tốp trong lời nói mình chăng? Một kẻ ngu muội còn có sự trông cậy hơn hắn” (câu 20). Hôm nay xin giúp con biết lắng nghe nhiều hơn là con nói hầu cho con có thể học hỏi từ nhiều người khác.
Tôi nhìn nhận rằng chẳng có gì long trọng về những lời cầu nguyện nầy. Tôi đề cập đến ở đây vì sách Châm ngôn luôn nhắm vào sự khôn ngoan trong việc cung ứng và nhận lãnh lời quở trách.
Đối với Đức Chúa Trời, cách chúng ta đáp ứng với sự thực rõ ràng là một việc lớn. Nếu chúng ta cứ lành mạnh trong lãnh vực nầy, chúng ta cần sự dạn dĩ và chúng ta cần sự khiêm nhường.
Không có sự dạn dĩ. Chúng ta sẽ không bao giờ nói ra. Không có sự khiêm nhường, chúng ta sẽ không bao giờ chịu lắng nghe.
Nguyện Đức Chúa Trời chấp nhận sự thực được nói ra trong tình yêu thương và và nhận lãnh trong tình yêu thương sẽ chữa lành tấm lòng, dẫn chúng ta vào sự hối cải, buông tha chúng ta không còn cay đắng, và hiệp một trong Thân Thể của Đấng Christ.
Lạy Chúa, xin khiến chúng con biết nhạy cảm với những người ở chung quanh chúng con.
Để chúng con có thể nhìn thấy người bị tổn thương và trở thành một đại biểu của sự chữa lành
Để chúng con có thể nhìn thấy kẻ bị sa ngã và đỡ họ dậy.
Để chúng con có thể lắng nghe lời nói khôn ngoan.
Để chúng con dám quan tâm thay vì bỏ đi.
Để chúng con biết chịu đựng sự hiểu lầm hầu giúp đỡ cho nhiều người khác. Ôi lạy Chúa, xin giúp cho tình yêu của chúng con thật giống như tình yêu của Ngài mà cứ thẳng tiến cho đến cuối cùng.
Trong danh của Chúa Jêsus là Đấng biết rõ chúng con trọn vẹn và cứ yêu thương chúng con mãi mãi, Amen.

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

NHẬN ĐỊNH VỀ LỜI TIÊN TRI NÓI TỚI KỲ TẬN THẾ

(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford,
OH 45150)
NHẬN ĐỊNH VỀ LỜI TIÊN TRI NÓI TỚI KỲ TẬN THẾ
Tác giả: Jerold Aust
Có nhiều bối cảnh nói tới kỳ tận thế dựa trên một cấp độ nào đó của lời tiên tri trong Kinh thánh cũng như có nhiều giáo sư dạy về lời tiên tri. Có một nhận định về lời tiên tri nói tới kỳ tận thế, nó có giúp bảo hộ cho bạn tránh được các tai họa trong kỳ tận thế không?
Loạt sách có đề tựa Left Behind là một trong những quyển sách tôn giáo được ưa chuộng nhất trong lịch sử gần đây. Lý thuyết có tính cách tưởng tượng của chúng tận dụng lợi thế một xã hội đang khao khát muốn tránh né các biến cố thê thảm đã được nói trước.
Loạt sách đã khởi sự vào năm 1995 với phát hành của Left Behind: A Novel of the Earth’s Last Days (Tiểu thuyết nói tới những ngày sau cùng của địa cầu), một quyển sách hư cấu nói tới những gì được xem sẽ xảy ra trên đất sau khi các tín đồ đã được cất lên trước lần đến thứ hai của Đức Chúa Jêsus Christ. Loạt sách, được viết ra bởi Tim LaHaye và Jerry Jenkins, kéo dài tới 16 quyển, 65 triệu bản trong số đó đã được bán ra.
Không may, những người tin theo quan niệm của Left Behind – những người ủng hộ lý thuyết nói tới sự cất lên – họ sẽ thấy mình bị nhầm lẫn và kinh ngạc khi những biến cố trong Kinh thánh nói tới kỳ tận thế được bày ra.
Tại sao chứ? Bởi vì tóm tắt của Đức Chúa Jêsus Christ về lời tiên tri nói tới kỳ tận thế không bao hàm một sự cất lên kín đáo đâu. Sự tái lâm của Ngài sẽ rất rõ ràng, có những dấu hiệu trên trời báo trước, một trận động đất trên toàn cầu, hoạt động của núi lửa ở khắp nơi và các thiên sứ sẽ trổi kèn lên với những tiếng kêu thật siêu nhiên. Đấng Christ sẽ không len lén đến với đất nầy đâu; Ngài sẽ tái lâm trong sự vinh hiển chói lòa và với vinh quang mà Ngài rất đáng được.
Chính mình Chúa Jêsus đã nói về sự tái lâm của Ngài: “Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống” (Mathiơ 24:30, phần nhấn mạnh là của tôi).
Chúa Jêsus đã tỏ ra rằng mọi người trên khắp hành tinh sẽ nhìn thấy Ngài trở lại với địa cầu. Lý thuyết nói tới sự cất lên kín giấu đi ngược lại với điều nầy, nó nói Ngài sẽ cất kẻ được chọn đi trước và kín đáo. Bạn đừng tin theo lý thuyết đó.
Khi bạn biết rõ nhận định về lời tiên tri nói tới kỳ tận thế, bạn sẽ biết lẽ thật nói tới các biến cố chính đi trước sự tái lâm của Đấng Christ, kể cả cách thức Đức Chúa Trời sẽ bảo hộ cho các tôi tớ Ngài – và không phải qua một sự cất lên kín nhiệm (Khải huyền 12:13-17). Để học biết nhiều thêm về lẽ đạo nầy, hãy tải xuống các ấn bản sau đây: “The Rapture – A Popular but False Doctrine”“Have You Been Misled by the Rapture Theory?” at www.GNmagazine.org/reprints.
Lời tiên tri của Kinh thánh ra từ một mình Đức Chúa Trời. “Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được” (II Phierơ 1:20).
Cách tốt nhứt để kiếm được một nhận định thích đáng về lời tiên tri nói tới kỳ tận thế là hãy để cho Kinh thánh tự phán về mình.
Lời tiên tri là gì?
Lời tiên tri đôi khi được mô tả là lịch sử đã được ghi ra trước. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy trước nhiều xu hướng và biến cố hầu đến – một phần là vì Ngài hiểu rõ trọn vẹn những gì con người sẽ làm trong mọi bối cảnh đã được bày ra và cũng vì Ngài đang lèo lái và hướng dẫn mọi hoàn cảnh.
Ở một cấp độ, lời tiên tri là những lời cảnh báo trước của Đức Chúa Trời chống lại việc tăng trưởng tội lỗi của con người. Một khi tội lỗi gây hại và có thể hủy diệt chúng ta, Đức Chúa Trời công bố ra những lời cảnh báo có tính tiên tri để thu hút sự chú ý của con người. Những cơn sửa phạt đã được nói trước là các hệ quả do chính con người mang lại. Đức Chúa Trời muốn buông tha cho nhân loại, chớ không muốn hủy diệt chúng ta.
Phần lớn con người giả định rằng những lời cảnh báo có tính tiên tri chống lại nhân loại đều ra từ một Đức Chúa Trời hay báo thù, Ngài không thể dung chịu một hạng người yếu đuối và bất tuân. Họ lý luận rằng một khi Đức Chúa Trời là thánh khiết và toàn năng, còn chúng ta thì không phải như thế, và một khi chúng ta không thể tự mình làm nên thánh, thì Đức Chúa Trời mất kiên nhẫn với tình trạng thống thiết của chúng ta rồi hình phạt chúng ta – có lẽ là rất bất công đấy.
Song đấy chẳng phải là lý do tại sao Đức Chúa Trời công bố ra những lời tiên tri nói tới kỳ tận thế. Đây là tư tưởng giả mạo từ chúa của đời nầy, là Satan ma quỉ, hắn đã dối gạt nhân loại về Đức Chúa Trời bằng nhiều phương thức. Bao lâu hắn còn giữ nhân loại mù lòa đối với các dự tính của Đức Chúa Trời chơn thật, hắn có thể trụ lại trong chỗ của hắn là “chúa của đời nầy” (II Côrinhtô 4:4).
Con người cần phải nhìn biết rằng Satan, hắn là: “kẻ giết người từ lúc ban đầu” (Giăng 8:44), hắn muốn mọi người đều phải ngã chết – cho đến đời đời. Vào cuối kỷ nguyên cai trị tồi bại nầy, Satan sẽ nổ lực hủy diệt tất cả nhân loại qua hai thế lực quân sự lớn lao sẽ hội tụ tại Jerusalem để tạo ra chiến tranh chống lại Đấng Christ, Đấng Mêsi sắp tái lâm (Khải huyền 16:14; 19:11-21; 14:14-20).
Lời tiên tri chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị mọi sự, rằng Ngài có một chương trình cho tương lai của nhân loại, và sự sống của con người có một mục đích lớn lao. Ý chỉ của Đức Chúa Trời là cứu rỗi con người, chớ không phải hủy diệt.
Lời tiên tri chỉ ra rằng Đức Chúa Trời sẽ kể tội những ai chống lại Ngài và Ngài sẽ ban thưởng cho những ai tôn vinh Ngài.
Mục đích của lời tiên tri bị hiểu sai
Chúng ta hãy xem xét mục đích của lời tiên tri xem.
Con người ngay từ thời thượng cổ đã muốn nhìn biết về cuộc tương lai, hầu hết vì lợi ích của họ. Thí dụ, các môn đồ của Chúa Jêsus đều muốn biết rõ những dấu hiệu nào báo trước sự tái lâm của Ngài. Họ hỏi: “Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế” (Mathiơ 24:3). Nhân loại đều muốn biết điều chi sẽ xảy đến, không biết có phải vì lý do nào khác hơn là sự bảo hộ cho riêng họ hay không!?!
Mặc dù con người muốn biết điều chi, lúc nào và địa điểm trong lời tiên tri – tự nó thì tốt đấy – song đây chẳng phải là mục đích chính của lời tiên tri. Đúng hơn, mục đích của lời tiên tri là giúp cho người ta đánh giá cách ăn ở của họ trong ánh sáng Lời của Đức Chúa Trời – trước khi các bối cảnh được nói trước diễn ra. Nếu không có những lời cảnh báo và sự ứng nghiệm của lời tiên tri, nhân loại sẽ chẳng có lý cớ nào để thắc mắc và dừng hẳn con đường đam mê lạc thú để đừng đi đến chỗ tự hủy diệt.
Nếu người ta đọc và chú ý đến những lời cảnh báo của Đức Chúa Trời, họ có thể hướng về Ngài để bảo hộ cho họ trong những ngày hầu đến của Cơn Đại Nạn và Cơn Phán Xét đầy giận dữ của Ngài nghịch lại các bạo chúa của trần gian nầy. Như Chúa Jêsus phán: "Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách (Cơn Đại Nạn, xem Mathiơ 24:21-22), là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất” (Khải huyền 3:10).
Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót và yêu thương. Lời của Ngài đầy dẫy những lời cảnh báo cho nhân loại tội lỗi hầu xây họ khỏi tội lỗi và tránh được các hậu quả đầy thương đau khôn tả xiết. Đức Chúa Trời chẳng vui về sự chết của kẻ ác (Êxêchiên 33:11). Ngài cũng hứa ban thưởng, chúc phước và bảo hộ cho những ai bước theo ý chỉ của Ngài (Phục truyền luật lệ ký 28:1-2).
Phần nền của lời tiên tri
Kinh thánh cung ứng phần nền của lời tiên tri ở Phục truyền luật lệ ký 28. Chương nầy chỉ ra phước và họa tự nó chạy theo một là vâng theo hay chối bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời. Các luật lệ nầy đều là thuộc linh (Rôma 7:14) và áp dụng cho dù người ta có biết rõ nó hay không (Rôma 2:12). Đức Chúa Trời hứa chúc phước cho ai tôn vinh Ngài và, Ngài cho phép những sự rủa sả giáng trên những kẻ không tôn vinh Ngài. Hiểu rõ khía cạnh cụ thể nầy trong luật pháp của Đức Chúa Trời là nền tảng cho sự hiểu biết lời tiên tri.
Một chương nầy thôi, Phục truyền luật lệ ký 28, là chủ chốt của mọi lời tiên tri. Nhìn biết chương nầy và bạn sẽ nhìn biết mục đích của lời tiên tri. Một lần nữa, mục đích của lời tiên tri là để giúp cho người ta xây khỏi tội lỗi của họ và tìm kiếm Đức Chúa Trời vì những ơn phước của Ngài.
Nhiều truyện tích trong Kinh thánh thích ứng với phần nền nầy của lời tiên tri, song có ít soi sáng nó cho bằng câu chuyện nói xứ Giuđa và Babylôn. Trong nhiều năm trời, Đức Chúa Trời muốn vương quốc Giuđa đừng chạy theo đường lối của người bà con của nó, vương quốc láng giềng Israel.
Những tội lỗi của Israel đã mang lại cái chết cho nó, y như đã được nói trước trong Phục truyền luật lệ ký 28:15. Hiển nhiên là Đức Chúa Trời đã cho phép xứ Asiri nghiệt ngã kia đến chinh phục và đem Israel đi khỏi quê hương của nó qua hai cuộc lưu đày cả thể – vào năm 733 và 722SC.
Gần một thế kỷ sau đó, Đức Chúa Trời đã ban cho xứ Giuđa một vì vua công bình, là Giôsia, như một hy vọng sau cùng để cứu xứ sở người Do thái ra khỏi cuộc lưu đày sắp xảy ra (II Sử ký 34:1, 26-28). Đức Chúa Trời cũng sai các tiên tri như Giêrêmi, Sôphôni, và Habacúc đến. Buồn thay, sau cái chết quá sớm của Giôsia, dân sự xứ Giuđa mau chóng trở lại với những con đường tội lỗi của họ, giống như chó đã liếm lại đồ nó đã mữa, như heo đã sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn (II Phierơ 2:22). Giống như dân Israel, họ cũng bị bao vây, bị đưa đi làm phu tù.
Một lần nữa, mục đích của lời tiên tri là tác động con người phải thắc mắc về cách ăn ở của họ trong ánh sáng những sự dạy rõ ràng của Kinh thánh. Điều nầy áp dụng cho mọi người, dù họ có xưng mình là Cơ đốc giáo hay không!?! Có người sẽ chú ý đến những lời cảnh báo trong lời tiên tri nói tới kỳ tận thế của Đức Chúa Trời, và có nhiều người sẽ cứ ù lì không biết gì đến chúng.
Chúa Jêsus phán rằng Ngài đã nói với đủ loại tôn giáo trong thời của Ngài bằng các ví dụ vì họ đã từ chối không chịu tôn vinh và vâng theo Ngài:
“Vậy nên ta phán thí dụ cùng chúng; vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu chi hết. Vậy, về họ, đã được ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai rằng: Các ngươi sẽ lắng tai nghe, mà chẳng hiểu chi; Lấy mắt xem mà chẳng thấy chi. Vì lòng dân nầy đã cứng cỏi; Đã làm cho nặng tai và nhắm mắt mình lại, e khi mắt mình thấy được, tai mình nghe được, lòng mình hiểu được, Họ tự hối cải lại, và ta chữa họ được lành chăng” (Mathiơ 13:13-15).
Những lời tiên tri mạnh mẽ nói tới kỳ tận thế giống như những viên đạn bắn qua mũi của những con tàu xã hội không bánh lái, trôi giạt trên đại dương chủ nghĩa nhân văn, bị chủ nghĩa vật chất bắt lấy. Nếu không có một lời tiên tri nào hết, và đặc biệt không có một lời tiên tri nào về thời kỳ tận thế, nhân loại sẽ chẳng có ai để thách thức sự trôi giạt đầy nguy hiểm của nó vào trong sự tự hủy diệt.
Nhận định về lời tiên tri nói tới kỳ tận thế
Kinh thánh cung ứng một nhận định về lời tiên tri nói tới kỳ tận thế. Các chi tiết đã được rãi khắp Kinh thánh.
Chính mình Đức Chúa Jêsus Christ cung ứng một nhận định về lời tiên tri nói tới kỳ tận thế rất ngắn ngủi trước khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Trong đó, Ngài nói trước các biến cố của kỳ tận thế hay sự cuối cùng của kỷ nguyên tự cai trị của con người dưới ảnh hưởng của Satan.
Ngài đã chia sẻ với các môn đồ những dấu hiệu chính nói tới sự cuối cùng của kỷ nguyên nầy. Những biến cố chính trong lời tiên tri của Ngài – được ghi lại ở Mathiơ 24, Mác 13 và Luca 21 – tương ứng với những cái ấn trong sách Khải huyền. Cứ mỗi lần Đấng Christ mở một cái ấn ra (Khải huyền 6:1), ấn ấy cứ giữ mở ra cho tới thời điểm nói tới sự cuối cùng của sự cai trị của con người và sự tái lâm của Đấng Christ.
Muốn có hướng dẫn chi tiết đến các lời tiên tri nói tới kỳ tận thế, hãy tải hay xin những quyển sách miễn phí của chúng tôi The book of Revelation Unveiled, You Can Understand Bible Prophecy, The Middle East in Bible ProphecyAre We Living in the Time of the End?
Cái ấn thứ nhứt, ở Khải huyền 6:2 và tương ứng với Mathiơ 24:4-5, báo hiệu sự khẫn cấp, sự lan rộng và sự thống trị của một Cơ đốc giáo giả hiệu, bắt đầu ngắn ngủi sau sự phục sinh của Chúa Jêsus và sự bắt đầu của Hội thánh Tân Ước. Cơ đốc giáo giả hiệu nầy là một hỗn hợp tôn giáo được rút ra một phần từ Kinh thánh và một phần từ những tín điều và các truyền khẩu phi Kinh thánh bắt nguồn từ tà giáo cổ xưa.
Chúng ta biết rằng Cơ đốc giáo giả hiệu nầy đã bắt đầu ở thế kỷ thứ nhứt vì một số trước giả Tân Ước đã nói tới nó (Công Vụ các Sứ Đồ 20:16-17. 28-31; II Côrinhtô 11:4, 13-15; Giuđe 3-4; 1 Giăng 2:18-19; 1 Giăng 4:1). Hệ thống tôn giáo giả hiệu nầy, là thứ mà sứ đồ Phaolô đã gắn cho cái nhãn: “sự mầu nhiệm của điều bội nghịch”, cứ tiếp tục cho tới cuối cùng, ở đó nó đóng vai chính trong sự dối gạt ở kỳ tận thế dẫn tới sự tái lâm của Đấng Christ (II Têsalônica 2:7-12).
Cái ấn thứ hai, ở Khải huyền 6:3-4 và tương ứng với Mathiơ 24:6-7, cho thấy rằng sẽ có: “chiến tranh và tiếng đồn về chiến tranh”. Mặc dù sẽ luôn có chiến tranh và tiếng đồn về chiến tranh, Chúa Jêsus phán chúng sẽ tiếp diễn cho tới cuối cùng và lên tới một cuộc tắm máu sau cùng sẽ lấy đi nhiều sinh mạng 1/3 nhân loại (Khải huyền 9:15-16).
Cuộc chiến tối hậu sau cùng, Kinh thánh mô tả là: “chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng” (Khải huyền 16:14), không diễn ra ở Atmaghêđôn (núi Mêghiđô nằm ở phía Bắc Israel), ở đó nhiều lực lượng quân sự nhóm lại (Khải huyền 16:14, 16), mà là gần thành Jerusalem (Xachari 14:1-4, 12-14). Mọi điều kiện đều rất nguy hiểm đến nỗi nếu Đấng Christ không can thiệp vào các vụ việc của con người, không một xác thịt nào sẽ sống mà được cứu (Mathiơ 24:21-22).
Cái ấn thứ ba, ở Khải huyền 6:5-6 và tương ứng với Mathiơ 24:7, cho thấy rằng đất sẽ bị hành hại với đói kém, và hạn hán. Trong khi luôn luôn có đói kém ở nhiều khu vực khác nhau, khi thời gian trôi qua, chúng sẽ cứ tiếp diễn ngày càng tệ hại hơn. Nhiều cuộc đói kém bám theo gót chơn của những cuộc chiến tranh. Hàng triệu người sẽ ngã chết từ chỗ đói kém.
Cái ấn thứ tư, ở Khải huyền 6:7-8, và tương ứng với Mathiơ 24:7, cho thấy rằng thế giới sẽ bị hành hại với các thứ tật bịnh gây chết chóc và các thứ bịnh tật khủng khiếp. Tất nhiên là đói kém dẫn tới các chứng bịnh. Và cả hai tuôn tràn ra từ những sự chém giết do con người tạo ra và các thảm họa trong thiên nhiên. Những trận dịch lan rộng sẽ sát hại nhiều cư dân, như trận dịch hạch đã sát hại vào thế kỷ thứ 14, khi nó hủy diệt 1/3 dân cư của châu Âu, Nga sô và Trung hoa, và các thành phố nằm trên con đường tơ lụa.
Cái ấn thứ năm, ở Khải huyền 6:9-11 và tương ứng với Mathiơ 24:9-12, chỉ ra sự bắt bớ lớn lao và sự tuận đạo của các tôi tớ trung thành và chơn thật của Đức Chúa Trời. Sự bắt bớ nhắm vào các thánh đồ của Đức Chúa Trời. Như chính mình Chúa Jêsus đã nói: “Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi” (Giăng 15:20). Phaolô tương tự đã viết: “Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ” (II Timôthê 3:12).
Sự bắt bớ dân sự của Đức Chúa Trời vốn là một sự kiện sống động trải qua các thế đại, nhưng nó sẽ gia tăng trong thời kỳ sau rốt. Trong thời điểm rối loạn về mặt xã hội, thường thì người ta sẽ tìm kiếm một kẻ giơ đầu chịu báng. Giống như ở các thời buổi xa xưa, giới cầm quyền tôn giáo sẽ tìm thấy nơi một Cơ đốc nhân chơn thật một nhóm thích ứng để mà đổ thừa.
Điều nầy khởi sự thời điểm của Kỳ Đại Nạn. Các phân đoạn khác cho thấy rằng sự bắt bớ ghê khiếp sẽ kéo dài không những đối với các Cơ đốc nhân, mà còn đối với dòng dõi thuộc thể của Israel xưa kia nữa. Dân sự Israel sẽ kinh nghiệm sự bách hại kinh khủng từ những kẻ thù vào thời điểm nầy, như đã được nói trước ở Phục truyền luật lệ ký 28 (xem quyển The United States and Britain in Bible Prophecy).
Cái ấn thứ sáu ở Khải huyền 6:12-17 tương ứng với Mathiơ 24:29. Cả hai đều mô tả những dấu lạ kinh khiếp ở trên trời – mặt trời và mặt trăng bị tối tăm – và những gì là khí tượng đánh vào quả đất. Điều nầy giới thiệu thời điểm nói tới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Khải huyền 11:18; 14:10, 19; 15:1, 7; 16:1; 19:15), là điều Kinh thánh gọi là: “ngày của Đức Giêhôva” (I Têsalônica 5:2; Malachi 4:5). Điều nầy dẫn trực tiếp vào sự đến lần thứ hai của Đức Chúa Jêsus Christ.
Tất cả các biến cố chính trong lời tiên tri nầy dẫn tới và là một phần của kỳ sau rốt, được nhắc tới bởi các thuật ngữ ấy như ngày sau rốt, ngày cuối cùng, Ngày của Đức Giêhôva ( xem “Just What Is The End Time?)
Những biến cố thực và lời tiên tri nói về kỳ tận thế
Không phải mọi lời tiên tri đều là dễ hiểu cho hôm nay đâu, nhưng hết thảy chúng đều trở nên rõ ràng trong tương lai khi những thay đổi về chính trị và công nghệ diễn ra. Ai có thể nhìn thấy sự tiến bộ của ngành thông tin qua phương tiện máy tính và Internet? Đức Chúa Trời vẫn hứa tỏ ra cuộc tương lai cho dân sự trung tín của Ngài được sai đi lo rao giảng lẽ thật của Ngài: “Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các Đấng tiên tri” (Amốt 3:7).
Và quả thật Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho môn đồ Ngài một vài điều kiện của kỳ tận thế phải được đặt đúng vị trí trước khi Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm. Những điều kiện nầy đã được thỏa chỉ trong thế kỷ sau cùng:
+ Thứ nhứt, khả năng hủy diệt con người đang tồn tại.
Nhân loại giờ đây có khả năng quét sạch sự sống của con người qua những đầu đạn nguyên tử. Khía cạnh ấy đang hiện hữu rồi với Hoa kỳ và Nga sô; và Anh quốc, Pháp, Trung hoa, Ấn độ và Israel cũng có những đầu đạn nguyên tử tầm cỡ nữa.
Đặc biệt, mối nguy hiểm là sự phát triển các thứ vũ khí nguyên tử bởi các quốc gia không ổn định như Pakistan và North Korea, có lẽ không bao lâu nữa thì Iran cũng tham gia vào.
Chúa Jêsus đã phán về kỳ tận thế: “vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa. Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các ngươi được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt” (Mathiơ 24:21-22).
Nhân loại luôn luôn tham gia vào những cuộc chiến tranh, nhưng cho tới mới đây, chúng ta chưa hề có khả năng tiêu diệt từng người ra khỏi đất. Kể từ năm 1945 và vụ nổ các quả bom nguyên tử đầu tiên, thậm chí nối theo sau bởi nhiều bom hydrogen có tính cách hủy diệt, giờ đây nhân loại có khả năng hủy diệt hết thảy sinh mạng con người gấp nhiều lần hơn.
Đức Chúa Jêsus Christ phải can thiệp để cứu nhân loại ra khỏi việc tự – tự hủy diệt.
+ Thứ hai, một quốc gia Do thái phải ở đúng vị trí và nắm quyền điểu khiển thành Jerusalem để một số lời tiên tri nói tới kỳ tận thế sẽ được ứng nghiệm.
Điều nầy không khả thi trước năm 1948, khi nhà nước hiện đại Israel ra đời – một việc tưởng chừng bất khả thi trải qua nhiều thế kỷ.
Văn hóa và tôn giáo của người Do thái đã tồn tại qua nhiều thời kỳ khi họ bị thống trị hay bị đánh bại bởi Babylôn, Batư, Hylạp và Lamã. Sử gia nổi tiếng ở thế kỷ thứ 19 là Heinrich Graetz nói: “Một quốc gia … đã chứng kiến sự dấy lên và suy tàn của nhiều đế quốc cổ, và vẫn tiếp tục nắm lấy vị trí của nó trong thời hiện tại, đáng … được chú ý cho kỹ vào” (History of the Jews, 1895, p. 705).
Napoleon, vị Hoàng đế nước Pháp, khi đi ngang gần một nhà hội của người Do thái và nghe thấy tiếng khóc lóc bên trong, đã lưu ý: “Một dân tộc ao ước nhiều về thành phố và đền thờ của nó một ngày kia sẽ phục hồi chúng lại!”
Chúa Jêsus đã nói tiên tri rằng khi kỳ cuối cùng đến gần, người Do thái một lần nữa sẽ kiểm soát thành Jerusalem và “nơi thánh”. Sau đó, Chúa Jêsus phán nơi thánh sẽ bị báng bổ với sự gớm ghiếc hoang vu, y như tiên tri Đaniên đã viết trước đó (Mathiơ 24:15-16).
Ngày nay, người Do thái đang kiểm soát thành Jerusalem. Sau Cuộc Chiến Sáu Ngày vào năm 1967, khi người Do thái chiếm lấy thành Jerusalem, họ đã cho phép người Ảrập Hồi giáo tiếp tục kiểm soát Núi Đền Thờ. Kể từ năm 1989, một số người Israel đã bắt đầu sửa soạn cho việc xây dựng một đền thờ mới hay “nơi thánh”. Thỉnh thoảng người Do thái tin kính đã nổ lực đặt viên đá đầu tiên, nhưng không thành công. Các điều kiện trong lời tiên tri của Chúa Jêsus đang từng phần vào đúng vị trí, nhưng nhiều việc phải thay đổi trước khi các biến cố được nói trước có thể hiển hiện.
+ Thứ ba, một cuộc phục hưng sau cùng của thế lực chính trị ở châu Âu phải diễn ra.
Một cơn phấn hưng sau cùng của Đế quốc Lamã cổ đại, được nói trước trong các sách Kinh thánh như Đaniên và Khải huyền, phải nổi bật lên. Đaniên 2:40-44 cho thấy rằng vương quốc bằng sắt, vương quốc thứ tư tính từ Babylôn cổ đại, sẽ cai trị cho tới kỳ cuối cùng. Điều đó chỉ có thể áp dụng cho Đế quốc Lamã cổ đại cùng 10 vị vua, bảy trong số đó đều chịu ảnh hưởng bởi Giáo Hội Lamã (so sánh Khải huyền 17).
Trong kỳ cuối cùng, 10 vị “vua” hay những người cai trị tự họ đứng chung hàng trong một thứ siêu quyền lực sau cùng cấp thế giới mà Kinh thánh gọi là “con thú”, được lãnh đạo bởi một nhà độc tài cũng được gọi là “con thú” (các câu 12-13). Bối cảnh thời gian của lời tiên tri nầy rất rõ ràng từ sự kiện 10 nhà cai trị nầy sẽ “chiến tranh cùng Chiên Con” – Đức Chúa Jêsus Christ tái lâm – “và Chiên Con sẽ được thắng, vì là Chúa của các chúa, Vua của các vua” (câu 14).
Chỉ có châu Âu mới có thể phu phỉ vai trò nầy. Chỉ có châu Âu và giáo hội Lamã cùng nhau hành động qua những lần phấn hưng trước đây của Đế quốc Lamã thánh. Không một vương quốc hay đại lục nào khác có thể khoe khoang về mối quan hệ lâu dài cả 1.500 năm như vậy hết.
Phóng viên tờ Newsweek Michael Elliot tường trình rằng “vào tháng Giêng năm 1957, sáu quốc gia đã ký một hiệp ước bên bối cảnh Thủ đô Lamã cũ, và đưa vào hiện thực Cộng Đồng Kinh Tế Châu Âu” (Newsweek, Jan. 29, 1996). Paul-Henri Spaak, bộ trưởng ngoại giao của Bĩ, đã nói về thời điểm ấy: “Bạn không nghĩ là chúng tôi đã đặt viên đá đầu tiên cho Đế quốc Lamã mới sao?” Trợ tá của ông nhắc lại: “Chúng tôi cảm thấy mình rất mạnh vì chúng tôi là người Lamã trong thời điểm đó” (ibid.).
Lời tiên tri nói tới kỳ tận thế giúp đỡ bạn thế nào?
Loạt sách Left Behind các quyển sách tiểu thuyết không thể cung ứng tri thức thật có tính tiên tri nói tới kỳ tận thế. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể thôi.
Đức Chúa Trời cung ứng những lời tiên tri nói tới kỳ tận thế để khiến cho một nhân loại tự ý phải quay trở lại với Ngài. Ngài muốn chúng ta ăn năn và hoàn thành mọi ưu thế của mình để trở thành con cái của Ngài cho đến đời đời! Ngài muốn chúng ta bước theo Ngài và chia sẻ những Tin Tức Tốt Lành nói tới sự tái lâm của Đấng Christ và Vương quốc của Đức Chúa Trời với tha nhân. Mặc dù vậy, như chúng ta đã thấy, nhiều Cơ đốc nhân sẽ bị bắt bớ và tuận đạo trong kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời có một chương trình để bảo hộ nhiều người trong số những kẻ xây lại với Ngài tránh khỏi các biến cố ghê khiếp đã được nói trước phải xảy đến.
Đối với nhiều người quan sát tin tức thế giới trong ánh sáng của lời tiên tri nói tới kỳ tận thế của Kinh thánh, họ đang tỉnh thức về tình trạng thuộc linh của họ và họ đang cầu nguyện liên tục để đến gần Ngài, Đức Chúa Trời hiến cho sự bảo hộ trong những thời điểm đầy hiểm họa như thế nầy (Luca 21:29-36). Như chúng ta đã thấy trước đây ở Phục truyền luật lệ ký 28, chúng ta có thể vâng theo Đức Chúa Trời và được phước ngay bây giờ và, quan trọng hơn, trong đời hầu đến nữa.
Mục đích cố ý của Satan là phải tiêu diệt nhân loại. Hắn nghĩ rằng hắn có thể hủy diệt hết thảy những con người sống qua Kỳ Đại Nạn trước khi Đức Chúa Jêsus Christ có thể can thiệp để cứu vớt chúng ta. Mặc dù hàng tỉ người sẽ ngã chết (sau đó được phục sinh trong chương trình của Đức Chúa Trời), nhiều triệu người sẽ cứ sống để bắt đầu một đời mới, tái thiết lại những nơi hoang vu và sống trong vườn Êđen toàn cầu mới dưới quyền trị vì của Đức Chúa Jêsus Christ ở trên đất (Êxêchiên 36:33-35).
Những lời tiên tri trong Kinh thánh là kế hoạch của Đức Chúa Trời hòng cứu nhân loại ra khỏi chính họ. Những lời tiên tri nói tới kỳ tận thế nầy có thể giúp giải cứu bạn và gia đình bạn ra khỏi thời kỳ ghê khiếp hầu đến – nếu bạn chịu chú ý đến chúng lúc bây giờ.

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2011

Mác 6:37: "HÃY CHO HỌ ĂN"

HÃY CHO HỌ MỘT THỨ GÌ ĐỂ ĂN

Mác 6:37

MS Ray Pritchard

Người dịch: Đoàn Danh/MS Nguyễn D. Tân

(Sứ điệp cho Lễ Tốt nghiệp ở Trường Kinh Thánh New Brunswick Bible, Ngày 1 Tháng 5 năm 2011).

Khi tôi suy nghĩ về những điều tôi sẽ nói với các bạn trưa nay, lý trí tôi bị kéo đến phép lạ duy nhứt của Chúa Jêsus được nhắc lại trong cả bốn sách Tin Lành. Chúng ta biết rõ nếu có điều chi từng được đưa ra trong Kinh thánh, thì điều đó là sự thực và chúng ta nên tin theo điều đó, thế nhưng khi Đức Thánh Linh cứ nhắc đi nhắc lại điều mình nói, chắc phải là có một bài học gì rất là quan trọng. Có một phép lạ và là phép lạ duy nhứt mà Mathiơ, Mác, Luca và Giăng hết thảy đều ghi lại. Tất nhiên là tôi đang đề cập tới câu chuyện cung cấp đồ ăn cho 5000 người ấy.

Tôi muốn tập trung vào một chi tiết của câu chuyện. Khi đoàn dân đông đến với Chúa Jêsus trong đồng vắng, Ngài đã cảm động với lòng đầy thương xót vì Ngài nhìn thấy họ quá mệt mỏi và đói khát nữa. Đến cuối ngày, các môn đồ đề nghị rằng Ngài phải để cho họ trở về nhà đặng họ tìm thứ chi đó để mà ăn. Mác 6:35-37 cho chúng ta biết sự việc đã xảy ra:

“Trời đã chiều, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Chỗ nầy là vắng vẻ, và trời đã chiều rồi; xin cho dân chúng về, để họ đi các nơi nhà quê và các làng gần đây đặng mua đồ ăn. Ngài đáp rằng: Chính các ngươi phải cho họ ăn".

Các bạn biết rõ phần còn lại của câu chuyện rồi, thể nào họ đã tìm được đứa trẻ với năm ổ bánh và hai con cá và thể nào Chúa Jêsus đã chúc phước cho bữa ăn trưa sơ sài ấy khiến nó đủ cho 5000 người ăn với 12 giỏ còn thừa lại.

Đây là một trong những phép lạ vĩ đại của Kinh Thánh. 5000 người đang đói meo không được mời và rồi họ ở lại để dùng bữa. Tất nhiên, hãy tưởng tượng việc dọn ra 5000 đĩa bánh pizza, kiểu Chicago xem. Dĩ nhiên một đĩa bánh ấy cũng đã tốn bộn xu. Giả sử bạn phải cho 5000 người ăn tối nay đi. Bạn sẽ làm gì chứ?

Trời xế chiều rồi, dân chúng thì mệt mỏi và đói meo, và tiệm Burger King ở địa phương đã đóng cửa để chuẩn bị cho ngày mai. Tiệm gần nhất là Tim Horton thì ở trong thành Jerusalem, và tiệm Pizza Hut không đưa bánh ra đồng vắng được. Các môn đồ đưa ra một đề nghị rất thực tế: “Hãy bảo họ về để họ tự tìm đồ ăn”. Lời đề nghị ấy quả là hợp lý lắm. Lời đề nghị đó không đưa ra từ những động cơ xấu xa. Tự bản thân họ, các môn đồ chẳng có một nguồn lực nào để làm thỏa mãn nhu cần quá lớn lao như thế nầy. Họ chẳng có thứ đồ ăn hay chút tiền bạc nào cả. Họ có thể làm chi được ư? Đáp: Họ chẳng thể làm gì được cả!

Họ không nhìn thấy 5000 người; họ đã nhìn thấy 5000 nan đề mà họ không thể giải quyết được.

Phần lớn chúng ta cũng sẽ nói y như họ. Chúng ta mau mắn nhìn thấy những việc chúng ta không thể làm và mau mắn nói tới những điều chúng ta không có. Các môn đồ đã nhìn thấy đoàn dân đông và nhận ra tính cách bất khả thi của họ. Không cứ cách nào đó, họ đã quên rằng Con của Đức Chúa Trời đang đứng ngay đó cùng với họ.

Chuyến phiêu lưu vĩ đại cứu giúp tha nhân

Tôi yêu câu nói đó, khi Chúa Jêsus phán: “Chính các ngươi phải cho họ ăn” (câu 37). Thật là buồn cười vì các môn đồ chỉ có biết giải thích lý do tại sao họ không thể cho đám dân đông nầy ăn. Tôi tự nghĩ lúc đó có thể trong lòng họ đang suy nghĩ như thế nầy: “Ngài muốn chúng tôi cho đám dân đông nầy ăn chăng? Ngài nói đùa hả! Bộ Ngài không nghe chúng tôi vừa nói gì sao? Chúng tôi không có đồng nào và chúng tôi chẳng có chút thức ăn chi hết. Chắc là chúng tôi thất bại không truyền đạt được điều chúng tôi muốn nói với Ngài”. Chúa Jêsus không để cho người của Ngài rơi vào cảnh chẳng đặng đừng. Ngài muốn họ dấn thân vào chuyến phiêu lưu vĩ đại lo cứu giúp người khác.

Đây là cách Chúa Jêsus thường làm việc với các môn đồ Ngài. Rất nhiều lần Ngài đặt chúng ta vào những tình trạng chúng ta thấy mình vô dụng trong đó, và rồi Ngài phán: “Hãy làm việc gì đó đi!” Trong nổi thất vọng, chúng ta kêu la với thiên đàng: “Làm sao đây?” và Ngài đáp: “Ta rất vui khi các ngươi kêu cầu”. Ấy chẳng phải Chúa Jêsus muốn chúng ta phải thất bại đâu, song Ngài muốn chúng ta nhìn biết rằng không có Ngài chúng ta chẳng làm chi được. Sự thành công của chúng ta hoàn toàn nương vào Ngài, và chúng ta mau học biết rằng, chúng ta sẽ là người sung sướng nhất.

Câu chuyện của Giăng nói tới phép lạ nầy cho chúng ta biết rằng chính Anhrê là người đã tìm được cậu bé với năm ổ bánh và hai con cá rồi đem nó đến với Chúa Jêsus. Chúng ta không bỏ qua bài học hiển nhiên ở đây: Đừng xem khinh ngày của những việc nhỏ. Chỉ vì một việc nhỏ chúng ta hay xem như vô nghĩa thôi, không có nghĩa là Đức Chúa Trời không thể sử dụng nó. Ngài đã sử dụng mấy giọt nước mắt của một đứa trẻ để lôi cuốn con gái của Pharaôn, và con trẻ Môise được cứu ra khỏi cái chết trước mắt. Sau đó Ngài sử dụng cây trượng của Môise để giải cứu con cái của Israel. Và về sau một gã thiếu niên có tên là David đã sử dụng một hòn đá trơn nhẵn để đánh bại gã Gôliát khỗng lồ kia. Giờ đây, Chúa Jêsus sắp sửa cho 5000 người ăn với năm ổ bánh và hai con cá. Tầm cở không là vấn đề với Đức Chúa Trời. Ngài có thể sử dụng bất cứ thứ gì mà chúng ta dâng hiến cho Ngài.

Những tình huống căng thẳng

Khi tôi đứng lui lại rồi suy gẫm về phép lạ kỳ diệu nầy, một lẽ thật dường như trỗi hơn lên trên mọi sự khác. Nếu bạn muốn, hãy gọi đây là phần đạo đức của câu chuyện: Đức Chúa Trời thường đặt chúng ta vào những hoàn cảnh mà ở đó chúng ta bị định phải thất bại để buộc chúng ta hoàn toàn nương cậy vào Ngài để khi phép lạ xảy đến, chỉ một mình Ngài nhận được sự khen ngợi. Đây là chiến lược thiêng liêng đã được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Kinh Thánh và trong kinh nghiệm của chính chúng ta. Chúng ta thường thấy mình ở chỗ thất bại không lối thoát, không có một sự lựa chọn tốt đẹp nào cả, và chẳng có một phương thức chữa chạy nào của con người cho tình huống của chúng ta. Đức Chúa Trời cho phép điều nầy xảy ra để chúng ta sẽ kêu la với Ngài. Và khi sự giải cứu đến, chúng ta buộc phải dâng hoàn toàn sự ngợi khen lên cho Đức Chúa Trời.

Chúng ta hãy gói ghém sứ điệp nầy với ba bài học dường như đặc biệt thích ứng cho phần tiếp thu của chúng ta hôm nay. Gần như hết thảy chúng ta, các bạn sẽ đi ra từ đây để phục vụ trong các hoàn cảnh đầy thách thức. Chẳng sớm thì muộn (có lẽ đối với đa số các bạn), các bạn sẽ đến với tận cùng tri thức, sự khôn ngoan, năng khiếu, sức lực, tài hùng biện, tính sáng tạo, và sức lôi cuốn của chính các bạn. Sự phục vụ có một phương thức vắt cạn tính tự phụ tự mãn của chúng ta và tỏ ra cho chúng ta thấy chúng ta thực sự yếu đuối là dường nào.

Khi điều đó xảy ra, các bạn sẽ khám phá ra thực sự các bạn đang tin theo điều gì!?! Các bạn đã học thần học từ các giáo sư của mình, song các bạn sẽ khám phá ra điều các bạn thực sự tin khi giây phút khủng hoảng đến và Chúa Jêsus phán với các bạn: “Hãy cho họ ăn”.

Hãy tin tôi đi, đúng là một việc rất căng khi không có đồng bạc nào, không có thế lực của con người, và chẳng có cách nào để thỏa mãn mọi nhu cần đang có ở trước mặt các bạn. Và Chúa Jêsus vẫn phán với các bạn chính câu nói mà Ngài đã phán với người của Ngài từ lâu lắm rồi: “Dân nầy đang đói khát. Các ngươi hãy cho họ ăn”.

Bất khả thi, Khó khăn, Làm Xong

Bài học #1: Sự thực cho thấy rằng điều chi bất khả thi không được thoái thác vì chưa nổ lực để thực hiện công việc ấy. Thường thì chúng ta kết luận rằng điều chi không thể làm được thì chúng ta không mắc mớ gì phải nổ lực để làm công việc ấy. Nếu Môise nắm lấy thái độ ấy, người Do thái vẫn còn ở trong xứ Aicập. Nếu Giôsuê đã cảm nhận theo cách ấy, các bức tường thành Giêricô vẫn sẽ còn nguyên xi. Nếu David có định kiến ấy, Gôliát vẫn còn gây khủng khiếp cho dân Israel. Các bạn chưa hề biết được điều Đức Chúa Trời sẽ thực hiện, vì vậy đừng gạt bỏ tính khả thi của một phép lạ xảy đến trên đường lối của các bạn.

Bài học #2: Đức Chúa Trời yêu cầu chúng ta phải thực hiện điều bất khả thi và rồi Ngài ban cho bất cứ điều chi chúng ta cần để vâng theo mạng lịnh của Ngài. Erwin Lutzer chỉ ra rằng Chúa Jêsus thường bảo dân sự phải thực hiện những việc bất khả thi. Đối với một người què, Ngài phán: “Hãy chỗi dậy, vác lấy giường ngươi mà đi”. Đối với một người đã chết, Ngài kêu lên: “Hỡi Laxarơ, hãy ra”. Có một ý nghĩa trong đó từng mạng lịnh của Đức Chúa Trời là bất khả thi cho chúng ta để vâng theo. Chúng ta luôn luôn thiếu thốn những gì chúng ta cần có để vâng theo các mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời là thành tín ban cho chúng ta bất cứ điều chi chúng ta có cần khi chúng ta cầu hỏi Ngài. Những gì Đức Chúa Trời đòi hỏi, Ngài cung ứng cho. Ngài “bảo chúng ta bay và Ngài ban cho chúng ta đôi cánh”.

Bài học #3: Khi chúng ta dâng hiến các tài nguyên sơ sài của mình cho Đức Chúa Trời, chúng ta khám phá ra rằng điều bất khả thi chẳng còn là bất khả thi nữa. Cách đây nhiều năm, tôi có một dẫn chứng từ J. Hudson Taylor, một nhân vật đức tin lỗi lạc, mọi nổ lực truyền giáo của ông đã giúp mở mang đạo Tin lành tại Trung quốc. Có nhiều lần ông đã nhìn thấy Đức Chúa Trời thực hiện những công việc lạ lùng khi đối diện với các hoàn cảnh vô vọng và đầy thù nghịch chết người. Khi suy gẫm đến các kinh nghiệm của ông, ông lưu ý rằng “có ba giai đọan trong bất kỳ công việc nào mà chúng ta nổ lực vì Đức Chúa Trời: Bất Khả Thi, Khó Khăn, và Làm Xong” (“Impossible, Difficult, Done”). Tôi thấy mình được khích lệ rất nhiều bởi câu nói ấy vì có nhiều thời điểm khi hết thảy chúng ta dường như bị dính vào chặng đường “bất khả thi” trong cuộc sống. Hãy phấn khởi lên, các bạn chưa hề biết, nhưng tính bất khả thi của các bạn chỉ có thể là “giai đoạn 1” của một phép lạ đầy quyền năng mà Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành vì lợi ích cho các bạn đấy.

Điều Harry Ironside nói với Jack Wyrtzen

Phần nhiều người trong các bạn đều biết về Word of Life, chức vụ thanh niên toàn cầu được khởi động bởi Jack Wyrtzen ở thành phố Nữu Ước cách đây bảy mươi năm. Một thanh niên có tên là Harry Bollback hiệp với Jack là tay đánh dương cầm của ông. Khi nhớ lại các năm tháng đầu đời đó trong một sứ điệp có đề tựa là: “Bạn đang làm gì với phần đời còn lại của mình?” Harry nhớ lại khi ông và Jack Wyrtzen du hành qua Chicago viếng thăm Harry Ironside, lúc bấy giờ ông là Mục sư của Hội thánh Moody. Harry nói họ đã đi ngang qua một thư viện đầy những sách báo để đến tại văn phòng của Mục sư Ironside. Khi sau cùng họ đến nơi, Mục sư Ironside đã hỏi Jack Word of Life cần bao nhiêu tiền mỗi tuần. Khi Jack nói họ cần US$3000 mỗi tuần (nên nhớ đó là ở thập niên 1940), Harry Ironside nói: “Số tiền ấy nhiều đấy. Điều chi sẽ xảy ra nếu các bạn không có số tiền ấy?” Jack đáp: “Tôi đoán họ sẽ nhốt tôi vào tù thôi”. Mục sư Ironside nói: “Các bạn đừng lo về việc ấy, Đức Chúa Trời chưa hề bỏ rơi bất cứ ai, và các bạn chưa quan trọng đủ cho Ngài để Ngài cho bạn một ngoại lệ đâu”.

Đức Chúa Trời cũng sẽ không có một ngoại lệ đối với chúng ta nữa!

Tôi kết thúc bằng cách đề cập tới Lễ tốt nghiệp của NBBI. Chúng tôi rất tự hào về các bạn. Khi các bạn đi ra từ chỗ nầy, cho phép tôi in ấn tư tưởng nầy vào các bạn:

Đức Chúa Trời sẽ ban cho các bạn bất cứ điều chi các bạn cần để làm xong ý chỉ của Ngài. Và Ngài sẽ làm như vậy . . .

Theo thì thuận tiện của chính Ngài,

Trong đường lối của chính Ngài,

Theo chính ý chỉ của Ngài.

Khi Ngài phán: “Hãy cho họ ăn”, Ngài sẽ ban cho các bạn bất cứ điều chi các bạn cần để không một ai ra về mà đói khát hết. Ngài sẽ làm chính xác như thế, chẳng có ai dám nói khác đi.

Với sự tin tưởng ấy, các bạn có thể nhận bằng cấp của mình rồi dấn thân vào trong thế gian mà hầu việc Chúa.

Lời khuyên của tôi dành cho các bạn rất đơn sơ:

Đừng sợ hãi.

Hãy mơ những giấc mơ lớn.

Phải dạn dĩ lên.

Phải can đảm.

Đức Chúa Trời sẽ ban cho các bạn bất cứ điều chi bạn cần để làm theo ý chỉ của Ngài. Trong sự tin cậy đó, chúng tôi sai các bạn ra đi từ đây với sự vui mừng và niềm hy vọng thật lớn lao. Giờ đây, hãy đi ra và làm nhiều việc lớn cho Đức Chúa Trời.

Lạy Chúa, Ngài không đưa chúng con xa đến điểm nầy để rồi bỏ chúng con tại đó. Chúng con đã đi xa đến chỗ nầy bởi đức tin, chúng con cứ thẳng tiến bởi sự thành tín của Ngài. Như Ngài đã ở với chúng con trong những năm tháng qua, chúng con cầu xin Ngài tiếp tục dẫn dắt chúng con vào cuộc tương lai. Chúng con vui sướng dâng lễ tốt nghiệp nầy vào trong tay của Ngài. Xin hãy quan phòng họ. Xin dẫn dắt họ. Xin bảo hộ họ. Xin chúc phước cho họ. Hãy lấy mọi điều họ có và nhân rộng nó ra vì sự vinh hiển của Ngài. Xin ban cho họ từng phước hạnh khi họ hầu việc Ngài. Chúng con cầu nguyện mọi sự nầy trong danh đầy quyền năng của Chúa Jêsus. Amen.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Mathiơ 27:15-26: "Baraba hay Jêsus?"



Baraba hay Jêsus?
Mathiơ 27:15-26
"Việc ấy chẳng đúng đâu”
Đấy là điều mà Roger đã nói sau khi nó xem phim Sự Khổ Nạn của Đấng Christ với một nhóm bạn từ nhà thờ của chúng ta. Roger đã học lớp 7 khi nó xem cuộn phim nầy. Nó vò vò hai bàn tay, đôi mắt của nó đẫm nước mắt, đôi môi nó cứ rung lên. Trong một thời gian dài, nó chẳng nói được gì hết. Sau cùng, với cảm xúc nặng nề, nó thốt ra câu nói nầy: “Việc ấy chẳng đúng đâu”.
Cách thức mấy tên lính đối xử với Chúa Jêsus chẳng đúng đâu.
Cách thức mấy kẻ làm chứng đã nói dối về Ngài chẳng đúng đâu.
Cách thức Philát đã hèn nhát tìm cách rửa tay ông chẳng đúng đâu.
Mão gai kia chẳng đúng đâu.
Sự khạc nhổ kia chẳng đúng đâu.
Những gì họ đã làm với Chúa Jêsus là tội ác trọng đại nhất trong lịch sử. Tại sao Ngài phải chết chứ? Để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi kia, chúng ta hãy thực hiện chuyến hành trình ngược thời gian để học biết về một kẻ có tên là Baraba, là nhân vật đóng vai chính trong các biến cố dẫn tới sự chết của Chúa Jêsus.
Ông ta không hề nói một lời nào trong các bản tường trình Tin Lành.
Tuy nhiên, tất cả bốn sách Tin Lành đều nhắc tới ông ta đích danh.
Câu chuyện chiếm ít nhất 38 câu trong Tân Ước.
Chúng ta không biết một điều gì về gia đình của ông ta.
Chúng ta không biết ông ta đã lập gia đình hay còn sống độc thân.
Chúng ta không biết ông ta bao nhiêu tuổi.
Chúng ta có thể thuật lại những gì chúng ta biết rõ trong ba câu ngắn ngủi:
Baraba là kẻ có tội.
Chúa Jêsus thì vô tội.
Baraba sống, còn Chúa Jêsus thì chết.
Với mấy câu đó, chúng ta chuyển sang một số thắc mắc cơ bản về nhân vật nầy và vai trò ông ta đã đóng trong sự chết của Đấng Christ.
I. Baraba là ai?
Tất cả bốn trước giả sách Tin lành đều nhắc tới ông ta.
Mathiơ gọi ông ta là “tên phạm nổi tiếng” (27:16).
Mác nói ông ta còn ở trong tù với “kẻ làm loạn” (15:7) đã phạm tội giết người.
Luca nói ông ta còn ở trong tù vì dấy loạn và giết người (23:19).
Giăng nói thêm rằng ông ta đã dự phần trong cuộc nổi loạn (18:40).
Khi Phierơ giảng ở cổng Solomon gần hành lang đền thờ, ông gọi hắn là kẻ giết người (Công Vụ 3:14).
Ông ta là kẻ giết người có máu lạnh. Giống như với nhiều tên khủng bố trong thời buổi của chúng ta, ông ta trông chẳng có gì nguy hiểm hết. Nhưng ông ta là mối đe dọa cho một xã hội tử tế. Khi ông thêm từ “nổi tiếng”, điều nầy có ý nói rằng ai nấy đều biết rõ về Baraba.
Nhà tù là nơi mà ông ta thuộc về. Ông ta có mặt ở đó vì cớ những tội ác cực kỳ ghê tởm. Tại sao mọi người đều mong muốn ông ta được buông tha?
II. Jêsus là ai?
Thắc mắc về lai lịch Chúa Jêsus không được giải đáp dễ dàng. Rõ ràng là Philát đã phấn đấu rất nhiều để tìm hiểu con người lạ lùng nầy đang đứng trước mặt ông ta. Philát biết nhiều về con người nầy:
Ngài là một người Do thái.
Ngài là một rabi.
Ngài không phải là một người giàu có.
Ngài đã làm ra nhiều phép lạ.
Ngài phán dạy bằng các ví dụ.
Ngài đưa ra những lời xưng nhận lạ lùng về chính mình Ngài.
Ngài có một đoàn dân đông theo sau.
Ngài có nhiều kẻ thù quan trọng.
Philát nghĩ tới nghĩ lui mọi sự nầy trong lý trí mình khi ông xem xét vụ án của Chúa Jêsus, là người đang đứng trước mặt ông, đang bị đánh đập, chắc chắn dường như không phải là mối đe dọa cho bất cứ ai.
Philát là một nhà chính trị rất thận trọng bị chẹt giữa một tình thế chẳng đặng đừng.
Ông ta biết rõ Chúa Jêsus là vô tội.
Hay ít nhất bất kỳ “tội ác” nào Ngài đã phạm đều chẳng phải là thứ tội ác chống lại luật pháp của người Lamã.
Chúa Jêsus chẳng làm một việc gì đáng chết cả.
Ba lần ông ta nói: “Ta chẳng thấy người có tội lỗi chi cả” (Giăng 18:38; 19:4, 6 ).
Nan đề của Philát có thể được trình bày theo cách nầy. Ông ta biết Chúa Jêsus không phải là tội phạm, nhưng ông ta không biết Ngài là ai. Ngài chẳng phải là một tội phạm, một tên lừa đảo, một tên cướp, một tên trộm, một người làm cách mạng, một kẻ giết người, hay một tay phá luật pháp. Sâu xa như Philát nhìn biết, Chúa Jêsus chẳng làm một điều gì sai trái, chắc chắn không làm một việc gì đáng chết cả. Nhưng ông ta không biết Ngài là ai. Liệu Ngài có phải là một nhân vật thần bí, một kẻ hay chiêm bao mộng mị, một giáo sư duy tâm, hay có phải Ngài là một thứ gì đó? Dưới áp lực từ người Do thái, Philát phải đưa ra một quyết định nhanh chóng.
Trong cú sốc và lòng thương hại khi liếc nhìn nơi Chúa Jêsus, Philát nói: "Ngươi há chẳng biết rằng ta có quyền buông tha ngươi và quyền đóng đinh ngươi sao?” (Giăng 19:10). Đấy chẳng phải là một lời nói khoe khoang đâu. Đấy là một câu nói nhắc tới đúng một sự thực. Là quan Tổng đốc Lamã xứ Giuđê, một mình ông mới có quyền xét đoán người nào đó phải chết. Nếu sự thực có nhiều người trong hàng ngũ lãnh đạo Do thái mong muốn Chúa Jêsus phải chết, thì cũng rất thực khi không có phép của Philát thì họ chẳng làm gì được cả.
Điều nầy đưa chúng ta đến với dòng sau cùng. Chúa Jêsus chẳng làm một điều gì đáng chết. Bị giục giã bởi các cấp lãnh đạo người Do thái, e sợ phải đứng thay cho lẽ thật, khi tìm kiếm một lối thoát ra, Philát quyết định rửa tay mình về toàn bộ vụ việc bẩn thỉu nầy.
Tất nhiên là việc rửa tay ấy chẳng có hiệu lực chi hết. Sau 2000 năm, chúng ta có thể nhìn thấy ông ta rất rõ ràng. Philát đứng thay cho tất cả những người nào có quyền lực mà lại thiếu can đảm trước sự tin quyết của chính họ.
Vì vậy, ông ta đã hiến cho đám dân đông một sự lựa chọn. Chúa Jêsus hay Baraba? Họ sẽ chọn ai?
III. Tại sao đám dân đông lại chọn Baraba?
Các trước giả Tin lành cẩn thận ghi chú rằng Philát đã thử mấy lần để thả Chúa Jêsus đi. Khi nhìn biết rằng vào dịp Lễ Vượt Qua hàng năm một tù phạm được tha ra khỏi ngục (Lễ Vượt Qua kỷ niệm sự người Do thái được tha ra khỏi vòng nô lệ ở xứ Aicập), ông ta hiến cho họ Chúa Jêsus hay Baraba, với sự suy nghĩ rằng chắc chắn họ sẽ thích nhà truyền đạo trẻ tuổi nầy rất được lòng người hơn (thậm chí nếu người ấy rơi vào chỗ tranh chấp nào đó) so với tay sát thủ giết người khát máu Baraba.
Ai sẽ chọn kẻ giết người hơn là chọn Chúa Jêsus?
Nhưng Philát đã đánh giá thấp cấp lãnh đạo Do thái, họ có lòng thù hận nên mới dấy lên nghịch cùng Chúa Jêsus. Ông ta tưởng rằng lời tuyên bố của ông ta về tình trạng vô tội của người nầy là đủ rồi. Hơn nữa, ông ta không thể nghĩ ra một lý do để giết Ngài. Tại sao các ngươi muốn giết một người như Jêsus?
Thực vậy, tại sao chứ? Loại người nào lại ưa thích một tay sát thủ hơn là một vị giáo sư dạy lẽ thật của Đức Chúa Trời?
E là chính chúng ta đã đi quá xa, thật là quan trọng khi nhớ lại rằng Caiphe và Anne cùng các thuộc viên khác của Tòa Công Luận rõ ràng đã quyết định trong lý trí họ từ lâu rồi.
Jêsus phải chết!
Vì vậy, họ đã hoạch định, đã âm mưu và đã lên kế hoạch, hết thảy mọi sự đang khi cơn giận của họ cứ sủi bọt càng lúc càng thêm và rồi sau cùng nó sôi sụt lên.
Jêsus phải chết!
Khi Giuđa chạy đến với việc nộp Chúa, hết thảy họ đều nhảy cởn lên mừng vì điều đó, họ bố thí cho hắn ta 30 miếng bạc. Giuđa cầm lấy bạc, hắn đã bán linh hồn mình trong sự mặc cả.
Các cấp lãnh đạo tôn giáo từng nắm bắt được Chúa Jêsus trong tay của họ, họ sẽ không để cho Ngài đi đâu. Họ có bằng chứng! Đừng cho rằng sự việc nầy được bịa ra để đánh lừa, hầu hết đều là những lời dối trá và phân nửa sự thật, và những câu nói đầy quanh co. Không một điều gì trong số đó là vấn đề đâu.
Jêsus phải chết!
Vì vậy, những lần “xét xử” Chúa Jêsus đã được tiến hành trong đêm. Họ xáo trộn hết phiên tòa nầy tới phiên tòa khác, hai bàn tay Ngài bị trói chặt để Ngài không thể thoát đi. Hêrốt nắm lấy cơ hội của ông ta. Caiphe cũng vậy. Philát trao đổi với Ngài hai lần. Qua mọi sự xét xử ấy, Chúa Jêsus gần như chẳng nói gì hết.
“Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng” (Êsai 53:7).
Có kỳ phải nói và có kỳ nói cũng chẳng ăn nhằm gì cả. Đây là thời kỳ mà nói năng chẳng ăn nhằm gì hết. Khi biết rằng tòa án được sắp đặt nghịch lại Ngài và kết quả đã được định trước, hầu như Chúa đã giữ im lặng trong suốt cả đêm hôm ấy. Ngài đã có sự trao đổi với Philát, một người vừa bối rối lại vừa thấy mình bị Chúa Jêsus thu hút lấy.
Nhưng mọi sự ấy không giải thích được sự lựa chọn của đám dân đông. Có lẽ họ bị kích động bởi sự thù nghịch đến nỗi họ thích tay sát thủ kia hơn là thích Chúa Jêsus. Hay có lẽ họ sợ Chúa Jêsus hơn là sợ Baraba. Trong những thời điểm ôn hoà điều nầy sẽ không sao có được, nhưng khi ấy chẳng phải là thời điểm ôn hòa. Khi đám dân đông bị phủ lấy với sự điên cuồng, họ sẽ tin theo điều tệ hại nhất về người tốt đẹp nhất, và mọi sự thực không phải là vấn đề nữa. Mác 15:11 chép các thầy tế lễ cả đã xui cho đám dân đông đã giục họ chọn Baraba. Mathiơ nói thêm rằng “các trưởng lão” cũng dính dáng vào, nghĩa là hạng người già dặn hơn, những người râu ria ưa thích kiếm được một sự vô tư. Bất kỳ sinh viên nào nghiên cứu về triết lý của đám đông đều biết điều nầy tác động ra sao rồi. Chỉ cần bốn hay năm người đứng ở những vị trí chiến lược khởi sự bài ca: “Hãy tha Baraba cho chúng tôi! Chúng tôi cần Baraba!”
Sau khi nhận ra ý muốn của đám dân đông, Philát đưa ra nổ lực sau cùng, lờ mờ nơi sự xét đoán: "Vậy thì các ngươi muốn ta dùng cách nào xử người mà các ngươi gọi là Vua dân Giu-đa?" (Mác 15:12). Nhưng khi ấy đã quá trễ rồi. Đám dân đông bắt đầu hô to lên: “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự! Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự!”
Jêsus phải chết!
IV. Điều nầy tạo nên sự khác biệt gì?
Trong một số bản thảo cổ xưa, tên của hắn ta được chép là: “Jêsus Baraba”. Nói như thế có nghĩa là phải lựa chọn giữa Jêsus Baraba, hay Jêsus người Naxarét.
Đúng là một sự lựa chọn!
Giữa một tay sát thủ và một người vô tội.
Giữa sự tối tăm và sáng láng.
Giữa thiện và ác.
Hãy xem những hậu quả của sự lựa chọn mà đoàn dân đông đã đưa ra. Đối với họ sự lựa chọn nầy có nghĩa là nhìn nhận tội lỗi về cái chết của Chúa Jêsus. “Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!” (Mathiơ 27:25). Thái độ tàn nhẫn kinh khủng của lời lẽ ấy có ý nói rằng đám dân đông hoàn toàn có thái độ say mê chém giết. Họ muốn Chúa Jêsus phải chết và bất cần cái chết ấy có ý nghĩa như thế nào đối với họ và con cháu của họ.
Đối với Chúa Jêsus thì cái chết ấy có nghĩa là cái chết đầy đau thương, tàn bạo, đổ máu ra trên thập tự giá.
Đối với Baraba cái chết ấy có nghĩa là hắn, kẻ tội phạm sẽ được tha trong khi Chúa Jêsus người vô tội sẽ chịu chết trong chỗ của hắn. Một truyền khẩu xưa nói rằng sau khi hắn được tha, Baraba đã ra đến đồi Gôgôtha để xem Chúa Jêsus chịu chết. Chẳng có gì đáng ngờ về việc ấy cả. Tại sao hắn không ra đấy nhìn xem người mà sự chết của người ấy khiến cho hắn được tự do chứ?
Khi Thomas Whitelaw viết về sự lựa chọn của đám dân đông về Baraba so với Chúa Jêsus, ông nhắc tới 7 từ ngữ tóm tắt biến cố trọng yếu đó:
1. Sự lựa chọn ấy là sự lựa chọn của nhân dân (popular), nhưng sự lựa chọn của nhân dân thường thì sai trái.
2. Sự lựa chọn ấy là sự lựa chọn điên cuồng (frenzied). “Khi dục vọng ngự trị, sự xét đoán gục chết”.
3. Sự lựa ấy là hành động tội ác (criminal) khi ưa thích kẻ giết người hơn Chúa của Sự Sống.
4. Sự lựa chọn ấy là sự lựa chọn dại dột (foolish) khi chọn một kẻ thù và chối bỏ một thiết hữu giống như Chúa Jêsus.
5. Sự lựa chọn ấy là sự lựa chọn tai hại (fatal) trong đó nó bảo đảm cả nước sẽ bị xét đoán.
6. Sự lựa chọn ấy đã được biết trước ở Êsai 53:3.
7. Sự lựa chọn ấy đã được Đức Chúa Trời tể trị để đem ơn cứu rỗi đến cho thế gian.
Ở điểm sau cùng ấy, chúng ta nhìn thấy sự khôn ngoan và sự cả thể của Đức Chúa Trời là Đấng có thể sử dụng sự lựa chọn gian ác của đám dân đông dại dột để đem ơn cứu rỗi đến cho cả thế gian. Đây là sự mỉa mai hoàn toàn một khi những kẻ không tôn trọng Chúa Jêsus sẽ được cứu bởi sự chết mà họ đã chọn cho Ngài.
V. Sự chết nầy có ý nghĩa gì đối với chúng ta?
Có ba vai quan trọng trong tấn thảm kịch nầy: Philát, Chúa Jêsus và Baraba. Chúng ta rất giống với Philát và Baraba, nhưng rất khác trong nhiều phương thức. Và các phương thức ấy cho chúng ta thấy Chúa Jêsus là ai.
A. Chúng ta hết thảy đều giống như Philát.
Một trong những phần mô tả nổi bật nhất về Baraba và Chúa Jêsus đến từ một người có tên là George Tinworth, ông sống vào thập niên 1870, viết một quyển sách có đề tựa là The Release of Baraba (Thả Baraba). Philát đứng rửa tay giữa đám dân đông cuồng nhiệt kia. Đứng bên trái Philát là Chúa Jêsus, hai bàn tay bị trói chặt, bị dẫn đi đóng đinh trên thập tự giá. Về người nầy có một nỗi buồn rầu trang trọng lắm. Nhưng trường hợp của Baraba thì lại khác. Hắn bước tới phía trước, giống như thể thong dong thoải mái lắm. Dường như hắn sung sướng, sôi nổi, hai bàn tay hắn giang ra tiếp lấy những lời tung hô từ mấy tên lính. Toàn bộ thái độ của hắn dường như thư thái lắm vậy. Bên dưới tấm ảnh Baraba là hàng chữ: “Sự lựa chọn của thế gian”.
Đúng là như vậy đấy.
Thế gian luôn luôn chọn Baraba vì họ ưa thích kẻ phá luật pháp hơn là “Đấng Chăn Hiền Lành”, phần mô tả ghi dưới hình ảnh Chúa Jêsus. Tinworth muốn chúng ta phải nhận biết rằng thế gian chăm lo kẻ thuộc về mình. Ngay cả những tên lính cũng ưa thích Baraba hơn là Chúa Jêsus.
Xưa sao, thì nay vậy. Đấng Christ có thể không bao giờ là “sự lựa chọn của thế gian”, đấy là lý do tại sao họ đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá.
Có thể chúng ta cảm thấy vui mừng vì chúng ta không phải đưa ra cùng một quyết định mà Bôntu Philát đã đưa ra trong ngày náo động ở thành Jerusalem. Nhưng thắc mắc mà ông ta đưa ra vẫn còn ở trên bầu không khí:
“Ta phải xử thế nào với Chúa Jêsus?”
Sự lựa chọn đặt trước mặt chúng ta còn khó khăn hơn nhiều vì chúng ta biết Ngài nhiều hơn là Philát từng biết. Ông ta tin Chúa Jêsus là vô tội nhưng bị động dưới áp lực và phải thả một tên tội phạm. Sự cuối cùng của chúng ta sẽ ra thể nào một khi chúng ta biết sự thực về Chúa Jêsus mà vẫn ưa thích Baraba hơn?
Không một ai có thể tránh thoát câu hỏi ấy.
Đấng Christ được lòng người, họ cùng đi với Ngài, bước theo Ngài, chọn lấy Ngài thật là dễ dàng. Thế nhưng giờ phút khó quyết định chẳng chóng thì chày sẽ đến với hết thảy chúng ta.
Chúng ta mỗi người đều có Tuần Lễ Vượt Qua của riêng mình, nó phủ lấy trên chúng ta. Thế gian đã đưa ra sự lựa chọn của nó.
Jêsus phải chết!
Chúng ta phải đưa ra sự chọn của chính mình. Liệu đấy là Chúa Jêsus hay là Baraba?
B. Hết thảy chúng ta đều giống như Baraba.
Chúng ta không đọc câu chuyện nầy theo cách đúng đắn nếu chúng ta nghĩ rằng Baraba là tồi tệ vì hắn là một tên tội phạm, và chúng ta là tốt lành vì chúng ta không sống giống như hắn.
Tôi là Baraba. Mỗi người là Baraba.
Giết người, trộm cướp, gian ác, kẻ nổi loạn, kẻ phá luật pháp, kẻ ăn chơi phóng đảng. Bị tù, bị xét đoán, được buông tha khỏi án phạt bởi một người thay thế chịu chết trong chỗ của tôi.
Baraba đứng thay cho từng con cái của Ađam, là người từng bước đi trên hành tinh địa cầu nầy.
Baraba đứng thay cho tôi.
Tương truyền rằng Bernard xứ Clairvaux vào thế kỷ thứ 12 đã viết ra lời của bài thánh ca O Sacred Head Now Wounded. Câu thứ hai nói tới vấn đề tội lỗi của chúng ta và sự chết của Đấng Christ:
Lạy Chúa tôi, Ngài đã gánh chịu mọi sự mà hạng tội nhân đáng phải chịu;
Sự phạm pháp thuộc về tôi, về tôi; còn Ngài thì đau khổ vô cùng.
Cứu Chúa tôi, nầy, tôi vấp ngã đây! Tôi đáng chịu ở chỗ nầy;
Xin ngó tôi bằng sự ưu ái của Ngài, và hãy ban cho tôi ân điển Ngài.
Câu hát ấy bắt lấy toàn bộ nan đề của dòng giống con người -- "Sự phạm pháp thuộc về tôi, về tôi”. Chúng ta rất hoàn hảo trong câu nói ấy, có phải không? Tội lỗi của chúng ta đã làm cho chúng ta tẻ tách ra khỏi Đức Chúa Trời, vì thế chúng ta bị bỏ lại đây với những mưu chước không tốt của mình. Phần lớn chúng ta đều suy nghĩ bản thân mình là hạng người thiện hảo, hay ít nhất chúng ta không tồi tệ như gã đang ngồi cạnh cánh cửa kia kìa. Và đấy là thực theo một ý nghĩa. Chúng ta không làm từng việc kinh khiếp mà nhiều người khác đã làm. Nhưng hai bàn tay của chúng ta vẫn chưa được sạch. Chúng ta đã lừa đảo. Chúng ta đã nói dối. Chúng ta hay ngồi lê đôi mách. Chúng ta đã vu cáo. Chúng ta đã đưa ra những lời cáo lỗi. Chúng ta đã cắt góc. Chúng ta đã mất đi tính khí của mình. Chúng ta đã ngược đãi nhiều người khác. Khi chúng ta sau cùng có cái liếc nhìn vào thập tự giá của Đấng Christ, chúng ta nhìn thấy tội lỗi của chúng ta lớn lao là dường nào. Trong ánh sáng của đồi Gôgôtha, mọi sự chúng ta xem là tốt lành chẳng khác gì hơn mấy cái giẻ rách.
Vẻ đẹp của Tin lành Cơ đốc chiếu sáng ra từ câu chuyện nầy. Chúa Jêsus con người vô tội gánh lấy chỗ của Baraba kẻ tội phạm.
Tội phạm được tha!
Người vô tội chịu chết!
Thế là trong sự khôn ngoan cả thể của Đức Chúa Trời, những gì là tai vạ ghê khiếp (sự chết của Con Đức Chúa Trời) cung ứng ơn cứu rỗi cho thế gian.
Êsai 53 chứa những tin tức tốt lành mà hết thảy chúng ta đều có cần. Ngài bị vết – vì chúng ta. Ngài bị thương – vì chúng ta. Ngài bị đánh đập, bị nộp, bị chế giễu, bị khạc nhổ, phải đội mão gai, bị đóng đinh trên thập tự giá – vì chúng ta. Tội lỗi của chúng ta đã đưa Chúa Jêsus lên thập tự giá. Nhưng Ngài không lên đó mà không sẵn lòng đâu. Nếu tội lỗi chúng ta đã đưa Ngài đến đó, chính tình yêu của Ngài đối với chúng ta đã giữ Ngài tại đó.
Nếu bạn muốn lên Thiên đàng, hãy chú ý đến Êsai 53:6. Trong bản Kinh thánh King James, câu ấy đọc như vầy: “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người”. Hãy chú ý câu nói ấy bắt đầu và kết thúc với từ “hết thảy”. Một người đã làm chứng theo cách nầy: “Tôi nghiêng mình thật thấp rồi bước vào ở chữ ‘hết thảy’ thứ nhứt. Kế đến, tôi đứng thẳng dậy rồi bước ra ở chữ ‘hết thảy’ sau cùng”. Chữ “hết thảy” thứ nhứt cho chúng ta biết chúng ta là hạng tội nhân; chữ “hết thảy” sau cùng kia cho chúng ta biết Đấng Christ đã trả giá cho tội lỗi của chúng ta. Hãy bước vào ở chữ “hết thảy” thứ nhứt rồi bước ra ở chữ “hết thảy” sau cùng thì bạn sẽ khám phá là con đường cứu rỗi.
Sau đồi Gôgôtha, Đức Chúa Trời chẳng để lại một thứ gì để minh chứng cho bất cứ ai. Bạn có thể nghi ngờ tình yêu của Ngài như thế nào sau khi bạn nhìn vào hình thức đổ máu của Chúa Jêsus đang treo trên thập tự giá? J. C. Ryle đặt vấn đề theo cách nầy:
Chúng ta hãy thoải mái xưng nhận rằng, giống như Baraba, chúng ta đáng chết, đáng bị phán xét và đáng ở địa ngục. Nhưng chúng ta hãy bám chắc vào lẽ thật vinh hiển chỉ ra một Đấng Cứu Thế vô tội đã chịu khổ trong chỗ của chúng ta, và tin nơi Ngài rằng người có tội có thể được buông tha (Expository Thoughts on the Gospels, vol. 2, p. 459).
Sau cùng, chúng ta bị để lại với câu hỏi mà Philát đã đưa ra: “Ta phải xử thế nào với Chúa Jêsus?"
Bạn có thể đứng lui lại rồi nói: “Tôi không quan tâm lắm về Ngài”.
Bạn có thể xua Ngài đi rồi nói: “Xin để tôi yên”.
Bạn có thể mở lòng mình ra rồi nói: “Lạy Chúa Jêsus, con xin tiếp nhận Ngài vào đời sống của con”.
Đấy là việc tốt nhứt mà bạn có thể làm. Đấy là việc an toàn nhất mà bạn có thể làm. Hãy tin cậy Ngài. Hãy chạy đến với thập tự giá rồi nắm lấy Chúa Jêsus là Đấng đã yêu thương bạn và đã chịu chết vì bạn. Bạn có thể làm gì hơn những điều mà Ngài đã làm cho bạn?
Chúa Jêsus hay Baraba. Sự chọn lựa thuộc về bạn. Nguyện Đức Chúa Trời ban cho bạn ân điển để tin theo Chúa Jêsus và tôn Ngài làm Cứu Chúa và Chúa.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

I Samuên 3:26-33: "Không chết như kẻ dại!"


Không chết như kẻ dại!
I Samuên 3:26-33
Phần giới thiệu:
Trong câu 1 cho chúng ta biết rằng sau khi vua Saulơ ngã chết, đã có một cuộc chiến lâu dài giữa nhà Sau-lơ và nhà David. Sau cái chết của Sau-lơ, người dân Giu-đa đã lập David làm vua ở Hêprôn. Tuy nhiên, Ápne, một trong những tướng lãnh của Saulơ, đã chỉ định một trong các con trai của Sau-lơ, Íchbôsết lên làm vua ở Gabaôn. Tuy nhiên, Íchbôsết chỉ là một "vua bù nhìn" mà thôi. Ápne đã giựt dây và đã thực sự là một người đang kiểm soát mọi sự (câu 6)
Bây giờ chúng ta đều biết rằng David đã phạm nhiều sai lầm tồi tệ trong đời sống của ông. Hết thảy chúng ta đều phạm nhiều sai lầm tệ hạy hết lúc nầy tới lúc khác. Một điểm sai lầm, ấy là ông đã có QUÁ NHIỀU VỢ. Bạn sẽ thấy rằng có sáu lần nhắc tới ở đây trong các câu 2-5. Có ít nhất hai điều mà về sau chúng ta mới biết. Hãy hiểu rằng kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân đã được thành lập trong Vườn Êđen. Một người nam và một người nữ! Môise đã cảnh báo con cái của Israel về cách sống các vua của họ ở Phục truyền luật lệ ký 17:15-17

1. Các vua chẳng nên lo cho có nhiều ngựa. “. . . chẳng nên lo cho có nhiều ngựa, chớ vì muốn thêm nhiều ngựa mà dẫn dân sự trở lại xứ Ê-díp-tô"

2. Các vua cũng không nên kén nhiều phi tần…" e lòng người trở xấu xa…"

3. Các vua chẳng nên thâu góp nhiều bạc vàng. David có thể không có nhiều ngựa hoặc vàng bạc, nhưng ông đã có nhiều vợ.

Sau đó, Solomon con trai của ông đã có ba người vợ và ông đã có nhiều phi tần! Chúng ta biết rằng tấm lòng của Solomon không trọn lành đối với Chúa, mà đã xây khỏi Ngài!Có một bài học cho chúng ta trong đó. Chúng ta cần phải xem tội lỗi nào chúng ta để cho chúng bước vào đời sống của chúng ta. Vì chúng ta gieo ra một tội lỗi nhỏ trong chính đời sống chúng ta, chúng ta sẽ gặt lấy hậu quả trong đời sống con cái chúng ta!

I. SỰ THAN PHIỀN CỦA ÍCHBÔSẾT (các câu 7-11)

A. Ở đây chúng ta thấy Íchbôsết cáo buộc Ápne (đúng hay sai chúng ta không biết) về các mối quan hệ bất xứng với một trong những phi tần của Saulơ, cha người.

B. Cho dù đó là sự thật hay không, chúng ta thấy Ápne đã phản ứng thật sai trái. Ông ta để cho cơn thịnh nộ có một chỗ đứng trong cuộc sống của mình. (Êphêsô 4:31-30 cảnh báo chúng ta về điều này)

C. Chúng ta cần phải xem xét cách chúng ta xử lý với sự khiển trách. Đôi khi khiển trách là hợp lý và đôi khi nó rất phi lý. Chúng ta không thể kềm hãm ai đó đừng đưa ra sự khiển trách đối với chúng ta, nhưng chúng ta có thể kiểm soát phản ứng của chúng ta đối với sự khiển trách đó. Chúng ta có thể để một lời quở trách như thế làm cho chúng ta trở nên cay đắng hay chúng ta có thể sử dụng nó để làm cho chúng ta ra tốt hơn! Phản ứng của chúng ta là sự lựa chọn mà chúng ta đưa ra. D. Vì vậy, chúng ta thấy Ápne bị mất lòng và ông ta đã xây khỏi Íchbôsết. Châm ngôn 18:19: "Một anh em bị mếch lòng lấy làm khó được lòng lại hơn là chiếm thủ cái thành kiên cố; Sự tranh giành dường ấy khác nào những chốt cửa đền".

SỰ THAN PHIỀN CỦA ÍCHBÔSẾT.

II. THỎA HIỆP VỚI DAVID (các câu 12-16)

A. Chúng tôi có thể nhận ra Ápne là một kẻ cơ hội. Ông ta đã nhận ra chỉ còn là thời gian thôi, trước khi David lên làm vua trên cả Israel.

1. Ông ta biết rõ David ngày càng mạnh hơn (câu 1)

2. Ông ta biết rõ lời tiên tri của Chúa (17-18).

B. Vì vậy, ở đây chúng ta thấy rằng ông ta thương lượng với David ông ta sẽ thuyết phục Israel chấp nhận David. Phương thức duy nhất: ấy là David sẽ lập giao ước với Ápne là nếu ông ta giao Micanh, con gái của Saulơ và là vợ của David, là người đã bị gã cho một người chồng khác.

III. SỰ TRUYỀN ĐẠT CỦA ÁPNE (các câu 17-21)

A. Đây là lần đề cập đầu tiên của từ "truyền đạt" trong Kinh Thánh.

B. Ở đây Ápne thuyết phục dân Israel chấp nhận David là vua.

C. Chúng ta cần phải có cùng loại sốt sắng mà Ápne đã có khi chúng ta truyền đạt Tin Lành! chúng ta cần phải nhiệt thành trong việc khiến mọi người chấp nhận Đấng Christ là Vua!

IV. SỰ XẢO QUYỆT CỦA GIÔÁP (các câu 22-30)

Ápne đã phạm sai lầm trong việc giết chết em trai của Giô-áp, là Asaên (II Samuên 2:18-24) Asaên đã nóng nảy theo đuổi Ápne. Ápne đã cảnh cáo Asaên phải xây đi chỗ khác. Thực vậy, ông đã cảnh cáo đến hai lần. Asaên từ chối không chịu xây sang chỗ khác, vì thế Ápne đã giết chết Asaên. Chúng ta có thể gọi đó là tự vệ hoặc giết người chính đáng trong thời buổi của chúng ta. Tuy nhiên, theo thông lệ của người Do Thái thì người thân thuộc phải báo thù cho cái chết của một thành viên trong gia đình. Sau khi Ápne giết chết Asaên, sau đó các anh em của Asaên, Giô-áp, là tướng lãnh của David, và Abisai đã tuôn ra để trả thù cho cái chết của em trai mình.

MINH HỌA: bạn có từng chơi: "trò chơi sự sống" chưa? Trên bảng của trò chơi ấy có các khoảng trống ghi chữ "báo thù". Đây là một số trong những khoảng trống thích ứng nhất phải bước vào đó vì người chơi "có thể lui lại" trước người chơi khác một khi họ có thể sửa phạt mình.Đấy là sự thực trong cuộc sống thực nữa, có phải không? Có nhiều người đã làm điều sai trái, họ trông mong cái điều mà họ gọi là "trả thù ngọt ngào". Nhưng, sự trả thù đã đi lòng vòng, có phải không? Sự báo thù ấy sẽ không bao giờ kết thúc cho tới chừng nào ai đó quyết định không báo thù nữa thì thôi! (đối chiếu II Samuên 2:26)

Và Kinh Thánh nói gì về vấn đề báo phục thù? Rô-ma 12:19: "Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng".

A. Chúng ta thấy Ápne đã trở lại Hêprôn, là một trong sáu thành ẩn náu (Dân số ký 35:11-12; Giôsuê 20:1-7)

B. Theo Luật Cựu Ước, ông ta sẽ không bị kẻ báo thù huyết hãm hại bao lâu ông ta còn ở bên trong các cánh cổng của thành phố.

C. Nhưng chúng ta thấy Giô-áp đi đến Hêprôn để trao đổi với Ápne. Giô-áp là một người tinh vi lắm. Kinh Thánh chép rằng Giô-áp nói việc "kín" có nghĩa là [ riêng tư] với Ápne tại cổng thành (II Samuên 3:27). 1. Rõ ràng là Giô-áp gặp Ápne ngay ngoài cổng Khi Ápne ra khỏi cổng thành chừng vài bước, Giô-áp đâm ông ta nơi bụng báo thù cho cái chết của em mình.

3. Giô-áp là một hình ảnh rất hay nói tới sự cám dỗ và ma quỷ tìm cách quyến dụ con cái của Đức Chúa Trời ra khỏi các thành nương náu. Một khi ở bên ngoài thành phố, bạn đang "dự vào trò chơi công bằng" đối với kẻ báo thù!

\V. SỰ KHÓC THAN CỦA DAVID (các câu 31-39)

Trong câu 33, David khóc than cái chết của Ápne và nói: "Ápne đáng chết như kẻ ngu dại chết sao?" Tại sao ông nói như vậy? Bởi vì Ápne không đáng phải chết!

A. Ápne sống dưới bản án từ hình!

Ông ta biết rõ mạng sống ông ta bị săn đuổi! Bạn có biết chúng ta đang sống dưới bản án tử hình không?

1. Hét thảy chúng ta đều sẽ chết theo phần xác một ngày kia. Hêbơrơ 9:27: ". . . Theo như đã định cho loài người phải chết một lần,. . . "

2. Người nào không nhìn biết Đấng Christ sẽ chết cái chết thứ hai.

Khải huyền 20:14-15: "Đoạn, Sự Chết và Am phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa".

Giăng 3:18: ". . Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu. . . "

Cái chết đang đến gần! Nó đang theo đuổi bạn! Bạn đã sẵn sàng chưa?

B. Ápne đã xem thường nơi ẩn náu mà Chúa đã quy định! Đức Chúa Trời đã đặt ra sáu thành ẩn náu cho những gã giống như Ápne. Nếu ông ta chỉ ở lại bên trong các cánh cổng thành, ông ta đã không bị giết. Bên trong thành ẩn náu, ông sẽ được an toàn đối với kẻ báo thù. Bạn có biết rằng Đức Chúa Trời đã cung ứng cho chúng ta những nơi ẩn náu được Chúa quy định không? 1. Đấng Christ là nơi nương náu duy nhứt cho linh hồn chúng ta! Nếu bạn bị hư mất, bạn cần phải chạy đến với Đức Chúa Jêsus Christ! Một mình Ngài là nơi ẩn nàu cho linh hồn!

Thi Thiên 9:9: "Đức Giê-hô-va sẽ làm nơi náu ẩn cao cho kẻ bị hà hiếp, Một nơi náu ẩn cao trong thì gian truân"

Thi Thiên 46:1: "Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân"

Thi Thiên 62:7: "Sự cứu rỗi và sự vinh hiển tôi ở nơi Đức Chúa Trời; Hòn đá về sức lực tôi, và nơi nương náu mình cũng đều ở nơi Đức Chúa Trời"

Châm ngôn 14:26: "Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc; Và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn núp"

a. Có người sẽ không được cứu cho dù có ân điển và tình yêu thương của Đức Chúa Trời Toàn Năng!

1) Kinh Thánh minh chứng tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho con người.

2) Đức Chúa Jêsus Christ minh chứng tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho con người (Rô-ma 5:8)

3) Đức Thánh Linh minh chứng tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho con người. Ápne đã chết như một kẻ dại chết vì ông ta thất bại không thích ứng với những gì Đức Chúa Trời đã cung ứng cho. (Thí dụ: Hãy nhớ thể nào Đức Chúa Trời đã cung ứng Chiên Con Lễ Vượt Qua cho dân Israel!)

b. Có người sẽ không được cứu cho dù có sự rao giảng Tin lành! (I Côrinhtô 1:18-25; Rôma 1:16) 1) Đối với ai đó Tin Lành là rồ dại!

2) Đối với ai đó Tin Lành là hòn đá vấp váp!

3) Đối với chúng ta đã được cứu Tin Lành là quyền phép của Đức Chúa Trời!

Ápne đã chết như một kẻ dại chết vì ông ta chễnh mãng đối với việc rao giảng Tin Lành (nghĩa là: về các thành ẩn náu)

Bạn có thể nói: "Có ai đó cần nhà truyền đạo ấy, chớ không phải tôi!"

c. Có người sẽ không được cứu cho dù Tin Lành rất đơn sơ!

(II Côrinhtô 11:3: " lòng thật thà tinh sạch đối với Đấng Christ")

d. Có người sẽ không được cứu cho dù nhiều cơ hội sẵn có cho họ!

Mỗi khi Đức Thánh Linh chạm đến tấm lòng của bạn là có một cơ hội mới! Hãy suy nghĩ xem có bao nhiêu cơ hội được cứu đã bị bỏ qua! Cho phép tôi hỏi bạn điều này, bạn có sẵn sàng chết với những gì bạn có trong lòng mình không? Bạn có sự bình an ở trong lòng và sống để rồi chết chưa? 2. Hội Thánh là nơi ẩn náu cho những người đã được cứu! Nếu bạn đã được cứu, bạn cần phải gắn bó với Hội thánh! Có amen không? Đứng xa khỏi Hội thánh! Đừng rời bỏ Hội thánh! Đây là nơi ẩn náu đã được Chúa quy định cho đời sống Cơ đốc! Có người đã rời khỏi Hội thánh và tan vỡ trong cuộc sống của họ và cuộc sống của các thành viên trong gia đình của họ!

3. Kinh Thánh là nơi ẩn náu cho những ai đã được cứu! Lời Chúa cung ứng nơi ẩn náu tránh các cuộc tấn công của kẻ thù!

Hãy ở lại với QUYỂN SÁCH! Hãy yêu mến QUYỂN SÁCH!

Hãy sắp xếp cuộc sống của bạn theo QUYỂN SÁCH!

Ápne đã sống dưới bản án tử hình! Ápne đã xem thường nơi ẩn náu do Chúa quy định!

C. Ápne là nạn nhân của sự lừa dối xảo quyệt! Không ai lôi kéo Ápne ra ngoài hai cánh cổng của thành phố. Ông đã đi bên ngoài thành phố theo ý riêng mình. Ông ta là kẻ dại khi nghe theo lời đề nghị của Giô-áp và bị lôi ra ngoài cánh cổng của thành ẩn náu! Bạn có biết rằng Satan tiếp cận các Cơ đốc nhân từ ngoài cổng thành và thì thầm với chúng ta: "Tại sao bạn không đến đây trong một phút, và chúng ta hãy trao đổi". Hắn sẽ nói: "Thực sự thì không phải như bạn đã nghe họ nói năng trong Hội thánh Baptist đâu. Thế gian chẳng có gì tồi bại đâu. Rốt lại, bạn có nhiều thì giờ đấy chứ!" Satan tìm cách trao đổi với chúng ta ở gần đủ với cánh cổng, ở đo hắn quàng vai chúng ta rồi dẫn chúng ta ra ngoài cổng để hắn có thể đâm chúng ta khi chúng ta mê mẫn rồi cướp đi sự sống thuộc linh quí báu của chúng ta. Đứng để Satan mê hoặc ở gần cổng thành!

Phần kết luận

Đâu là nơi an toàn nhất trong thành ẩn náu? Hãy ở bên trong thành ấy! Đúng là nguy hiểm khi bám lấy quanh cổng thành! "Giô-áp" đang đến gần và đưa bạn vào sự thỏa hiệp rồi khiến bạn bước ra khỏi cổng hành và giết chết lời làm chứng và sự bạn đồng đi với Chúa.