Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

Thi thiên 73: "Bài Ca Của Thánh Đồ Sa Ngã"


Bài Ca Của Thánh Đồ Sa Ngã
– Thi thiên 73
Có bao giờ bạn thôi không tin Chúa nữa không?
Điều đó có thể xảy ra cho bất kỳ ai trong chúng ta bất cứ lúc nào vì cuộc sống khó khăn và có khi rất kỳ lạ nữa.
Nếu bạn sống thọ đủ, đức tin của bạn bị buộc phải chịu thử thách rất nhiều lần. Thi thiên 73 thuật lại câu chuyện nói tới một người tin kính cảm thấy đức tin mình đã lạc trôi thật xa rồi. Mặc dù mấy lời nầy đã được viết ra cách đây 3000 năm, chúng cũng được viết ra cho hôm nay. Chúng ta có thể đọc mấy lời nầy rồi nói: “Tôi giống như Asáp trừ ra điều nầy. Ông đã giữ đức tin mình, còn tôi thì mất đức tin. Ông đã gặp Đức Chúa Trời. Tôi không biết mình tin cái gì đây nữa".
Nếu bạn từng phấn đấu với mọi điều phức tạp trong cuộc sống, thì đây là một Thi thiên dành cho bạn. Nếu bạn từng cảm thấy đức tin mình bắt đầu sa ngã, hãy tiếp tục đọc và chúng ta sẽ học biết về một người tin kính đã đối diện với những gì mà bạn hiện đương đối diện đây.
Việc đặt tên mình lên đầu bài cho chúng ta biết rằng đây là một Thi thiên do Asáp sáng tác. Chúng ta biết từ chỗ khác trong Cựu Ước rằng ông là một người hướng dẫn cuộc thờ phượng tại đền thờ Jerusalem trong thời Vua David. Khi tôi xem xét sự kiện nầy, tôi nhận thấy có nhiều nhạc sĩ mà tôi quen biết vốn có tâm linh rất nhạy bén phát ra từ chỗ suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc. Bạn có thể gọi Thi thiên 73 là “nhận định từ vị trí của ban hát”. Trong Thi thiên nầy, Asáp mời chúng ta cùng đi với ông trên chuyến hành trình từ nghi ngờ đến đức tin.
Thi thiên nầy có hai phần: thắc mắc và giải đáp. Trong 14 câu đầu, Asáp tự hỏi tại sao kẻ ác dường như sống mạnh giỏi như vậy trong thế gian nầy. Tiếp đến, 14 câu sau cùng, chúng ta thấy đức tin đang dẫn ông đi từ chỗ thất vọng, giận dữ cho đến bình an và thỏa lòng.
I. Nghi ngờ làm dấy lên thắc mắc (các câu 1-14). Asáp bắt đầu bằng cách xưng ra cơn khủng hoảng đức tin khiến ông muốn chết đi.
“Đức Chúa Trời thật đãi Y-sơ-ra-ên cách tốt lành, tức là những người có lòng trong sạch. Còn về phần tôi, chân tôi đã gần vấp, xuýt chút bước tôi phải trợt. Vì khi tôi thấy sự hưng thạnh của kẻ ác, thì có lòng ganh ghét kẻ kiêu ngạo” (các câu 1-3). Chìa khóa cho toàn bộ Thi thiên đến từ câu 3: “Vì khi tôi thấy sự hưng thạnh của kẻ ác, thì có lòng ganh ghét kẻ kiêu ngạo”. Khi chịu khó nhìn đủ thì bạn có thể thấy ai đó, đâu đó, dường như họ sống sung sướng hơn, thỏa mãn hơn, hay khá hơn, với tiền lương thiệt là lớn, sức khỏe mỹ mãn hơn, ít nan đề hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, ngôi nhà khang trang hơn, một sự nghiệp thành công hơn, với nhiều bạn hữu hơn, mọi quan hệ tốt đẹp hơn, với tiếng tăm hơn, nhiều tiền bạc trong ngân hàng hơn, và nói chung dường như họ ở các nấc thang cao hơn bạn đấy.
Chúng ta đang sống trong một thế giới có những tỉ số như thế đó. Hết thảy chúng ta đều có một gu mà chúng ta thích ứng với nó, một chỗ mà chúng ta thuộc về, vị trí nhỏ nhoi của chúng ta trong một trật tự rộng lớn của cuộc sống. Tôi đã đi nhiều nơi trên thế giới và đã nhìn thấy nhiều nền văn hóa khác nhau, và dường như thì ở Thái lan hay Nigeria hoặc Thụy điển cũng giống như ở tại Hoa kỳ vậy. Bản chất của con người thì y như nhau cho dù là ở đâu.
Nếu tệ như thế chưa đủ, đây là một việc sẽ làm cho bạn xấu thêm suốt đêm nếu bạn suy nghĩ đến nó quá lâu. Có một số người dường như “cao cả” hơn bạn không phải là hạng người đàng hoàng. Có người rất xuẩn ngốc, có người là hạng lừa đảo, có người là du thủ du thực và thậm chí là đồ cặn bã, thế mà họ dường như đang sống phởn phơ. Thật là quá trơ trẻn khi phải chia sẻ không gian trên hành tinh với hạng người đầy tai tiếng, nhưng đôi khi chúng ta phải cùng làm việc với họ, cùng đến trường với họ, cùng sống chung với họ, nhận lịnh lạc từ họ, phục vụ trong các ban bệ với họ, và có khi chúng ta sống kề cửa nhà họ. Như vậy, quả là đáng thất vọng khi cảm thấy rằng mình phải bị hạng người không xứng đáng kia qua mặt ở cuộc chạy đường dài trong cuộc sống.
Không những đấy là nan đề của Asáp. Mà đấy cũng là nan đề của chúng ta nữa.
Nhưng có một việc sâu sắc hơn đã làm phiền Asáp khi ông quan hệ với nan đề nầy. Không những kẻ ác được thịnh vượng, điều nầy là đủ tồi tệ rồi. Thường thì khi kẻ ác được thịnh vượng thì người công bình lại phải chịu khổ. Từ một điểm phân tích kỹ càng, sự việc nầy quá kỳ cục.
Nếu chúng ta thực sự là dân sự của Đức Chúa Trời, chúng ta tìm cách làm theo ý chỉ của Ngài với mọi khả năng, nếu Ngài thực sự yêu thương chúng ta giống như Ngài phán Ngài yêu thương, thế thì tại sao Ngài là để cho những gã xấu xa thoải mái với tội giết người đang khi những người nhơn đức lại phải chịu khổ sở chứ? Đấy là một thắc mắc rất rắc rối. Có gì tốt lành khi để cho công lý phải đảo ngược như thế trong thế gian nầy? Sheldon Vanauken đóng khung vấn đề theo cách nầy:
Nếu chỉ có những kẻ gian ác bị gãy lưng hoặc ung thư, nếu chỉ có những tay lừa đảo và dối gạt bị bịnh Parkinson, chúng ta sẽ nhìn thấy một loại công lý của thiên đàng trong vũ trụ. Song khi một đứa trẻ dễ thương nằm chết với khối u trong não, một người vợ trẻ hạnh phúc nhìn thấy chồng con mình bị giết trước mặt bởi một tên tài xế say sượu và chúng ta hét lên đến tận trời: “Tại sao? Tại sao” (Cited by Lee Strobel in The Case for Faith, p. 28). + Tại sao những kẻ gian ác lên nắm quyền lực trong khi người công bình bị bắt bỏ tù?
+ Tại sao Đức Chúa Trời khiến cho những bạo chúa Trung Hoa sống đến tuổi già nua trong khi quí Mục sư tin kính phải chờ đợi nhiều năm trong những trại tù lao động?
+ Tại sao một vị giáo sĩ đầy ơn mắc phải chứng ung thư não ở giữa một chức vụ đầy hiệu quả chứ?
Tại sao? Tại sao? Tại sao?
Thi thiên 73 tô vẽ một bức tranh linh động về sự thịnh vượng của kẻ ác:
1. Sức khỏe của họ (câu 4): “Sức lực chúng nó vẫn đầy đủ”.
2. Đời sống “sung mãn” của họ (câu 5). “Chúng nó chẳng bị nạn khổ như người khác”.
3. Sự kiêu ngạo của họ (câu 6). “sự kiêu ngạo làm cây kiền cho cổ chúng nó”.
4. Sự bất công của họ (câu 7). “Tư tưởng lòng chúng nó tuôn tràn ra”.
5. Lời lẽ hung ác của họ (câu 8). “Chúng nó nhạo báng, nói về sự hà hiếp cách hung ác”.
6. Lời lẽ khoe khoang của họ (câu 9). “Miệng thì nói hành thiên thượng”.
7. Họ được lòng người ta (câu 10). “Vì cớ ấy dân sự Ngài xây về hướng đó”.
8. Thái độ phạm thượng của họ (câu 11). "Chúng nó rằng: Làm sao Đức Chúa Trời biết được?”
9. Cuộc sống vô tư của họ (câu 12a). “Chúng nó bình an vô sự luôn luôn”.
10. Sự giàu có của họ (câu 12b). “của cải chúng nó thêm lên”.
Sức khỏe và sự giàu có. Những gã xấu xa thì lại có được nhiều thứ tốt đẹp. Chúng ta phải công nhận rằng hình ảnh nầy rất là thực. Nó mô tả từng chi tiết bối cảnh cuộc sống không có Đức Chúa Trời!!! Câu 7 nói tới tấm lòng “chai lì” của họ. Đúng là một bản cáo trạng! Họ sống đúng theo đường lối của họ, họ sống đúng theo kiểu cách họ ưa thích, và dường như họ sống mà chẳng có chút lỗi lầm nào hết.
Trong khi suy nghĩ đến mọi sự nầy, chúng ta không cần phải “trả lời” cho thắc mắc ấy vì mọi sự rõ ràng là rất thực rồi. Trong khi đây không phải là bảng mô tả hoàn hảo về từng người bất kỉnh, nó chỉ là bức chân dung rõ ràng chỉ về một giai cấp tội nhân. Hết thảy chúng ta đều biết có một ít người thích ứng với khuôn mẫu nầy.
Asáp, ông là một người nhơn đức, đã phạm phải ba lầm lỗi cơ bản. Chúng ta có thể tiếp thu ba lầm lỗi nầy vì chúng ta cũng nhiều lần phạm phải chính các lầm lỗi ấy.
1. Chỉ xét đoán bởi những gì ông trông thấy. Có nhiều thứ cho cuộc sống hơn là làm thỏa mãn hai con mắt. Có loại người gian ác thịnh vượng trong một khoảng thời gian nào đó, điều nầy rất đúng. Nhưng kinh nghiệm cho bạn biết rằng không phải mọi kẻ ác sẽ cứ thoải mái như thế luôn hay các nhà tù đều sẽ trống rỗng đâu. Đường lối của kẻ vi phạm là con đường khó nhọc, và ngày nay luôn luôn đúng như thế.
2. Bỏ Đức Chúa Trời ở ngoài quỹ đạo.
Kinh thánh không hề phủ nhận rằng kẻ ác cứ mãi thịnh vượng. Hêbơrơ 11 nói tới việc “tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi” (Hêbơrơ 11:25). Người ta phạm tội vì họ thích như thế. Nhưng đấy chẳng phải là cứu cánh của câu chuyện đâu. Miếng cắn đầu tiên nơi trái cấm có thể nếm là ngọt ngào lắm, song cuối cùng thì chẳng là gì hết ngoài sự cay đắng.
3. Quên phứt về đời sống hầu đến. Đây là cái nhìn sâu sắc đã đưa Asáp trở lại với ý thức của mình. Đức Chúa Trời đã ấn định một ngày phán xét cho toàn thể dòng giống con người, và chẳng một người nào sẽ tránh thoát. Ngay cả trong đời nầy, kẻ ác thường bị hình phạt, nhưng ai có thể tránh khỏi việc bước vào cõi đời đời để gặp Đức Chúa Trời của công lý, là Đấng biết rõ mọi sự. "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hêbơrơ 9:27). Dường như Asáp rơi xuống tận đáy ở các câu 13-14: “Tôi đã làm cho lòng tôi tinh sạch, và rửa tay tôi trong sự vô tội, việc ấy thật lấy làm luống công, vì hằng ngày tôi phải gian nan, mỗi buổi mai tôi bị sửa phạt”. Hết thảy chúng ta đều cảm thấy như thế không lần nầy thì cũng lần khác. “Lạy Chúa, nếu đây là cách Ngài đối xử với bạn bè của Ngài, con sẽ là kẻ thù của Ngài rồi. Thực vậy, dường như họ sống còn tốt hơn cả con nữa đấy”. Ông không phải là mục tiêu, nhưng ông hoàn toàn sống chân thật với Đức Chúa Trời.
Cách đây nhiều năm, khi tôi dạy dỗ phân đoạn Kinh thánh nầy, tôi đã liệt kê ra hết thảy những ai mới qua đời trong hội chúng của chúng tôi. Một chiến binh cầu nguyện rất đáng yêu, một cấp lãnh đạo trung tín chương trình Awana, một người cha đã chết quá sớm, một người mẹ mới chết, người cha khác đã qua đời khi còn trẻ. Khi nhìn vào phần chú thích của tôi, tôi thấy mình đã ghi chú ở cuối trang (và tô sáng câu nói ấy): “Còn có gì nữa không?” Thỉnh thoảng hết thảy chúng ta đều cảm thấy theo cách ấy.
II. Đức tin tìm được một giải đáp (các câu 15-28).
Asáp đến với giải đáp đúng đắn ở các chặng đường. Thứ nhứt, ông nhìn thấy có một số việc không nên nói khơi khơi với người khác. "Nếu tôi có nói rằng: Ta sẽ nói như vậy; Ắt tôi đã phạm bất trung cùng dòng dõi con cái Chúa" (câu 15). Không phải từng điều hồ nghi cần phải đem chia sẻ với mọi người đâu. Có lúc chúng ta cần phải thốt ra nhiều việc, song khi chúng ta thốt ra, chúng ta nên tìm hạng người khôn ngoan hiểu biết, và nếu cần thiết, phải xem lại một số điều mà chúng ta cần nói. Tôi luôn thành thực với người khác, nhưng có một lằn ranh giữa thành thực và “nói khơi khơi”. Chia sẻ bừa bãi có thể làm tổn thương một số con cái của Đức Chúa Trời, họ không cần phải nghe nói về những điều chúng ta hồ nghi khi đang có đủ rối rắm trong cuộc sống của chính họ rồi.
Phần lớn thời gian chúng ta không hiểu lý do tại sao có nhiều việc xảy ra theo như chúng đang xảy ra. Tại sao một người nầy ngã chết, còn người kia thì sống? Tại sao một người gian ác giàu lên trong khi có người rất tin kính lại lâm vào nghèo khó? Tại sao cuồng phong hủy diệt ngôi nhà nầy còn ngôi nhà kế bên thì không sao? Làm thế nào mà gã kia không bị bắt vì đang lừa đảo trong khi người kia tuân theo quy định mà lại mất việc làm? Những thắc mắc nầy (và hàng triệu thắc mắc khác giống như thế) không bao giờ được giải đáp đầy đủ ở mặt nầy của thiên đàng.
Thứ hai, ông ra đúng chỗ để tìm một giải đáp. Chúng ta nhìn thấy điểm xoay chiều ở câu 17: “Cho đến khi tôi vào nơi thánh của Đức Chúa Trời, suy lượng về sự cuối cùng của chúng nó". Trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, chúng ta nhìn thấy mọi việc rất là khác biệt. Ngày kia, tôi đang đọc một bài viết nói về sự thờ phượng, tác giả đưa ra một điểm mà tôi chưa hề xem xét trước đó. Dường như chẳng có gì thực sự phản văn hóa khi người ta nhóm lại để ca hát ngợi khen Đức Chúa Trời. Nếu thờ lạy dường như không cực đoan với chúng ta, sở dĩ như thế là vì chúng ta bị mê mẫn với quyền lực của nó. Trong Đế quốc Lamã, các Cơ đốc nhân đầu tiên đôi khi bị vu cáo về tình trạng vô thần vì họ đã thờ lạy một Đức Chúa Trời mà họ không thể thấy được. Họ chẳng có một hình tượng nào hết, họ chẳng dâng một thứ của lễ nào cả. Khi họ nhóm lại, họ ca hát và cầu nguyện, lắng nghe Ngôi Lời được đọc lên, và dự Tiệc Thánh. Thờ lạy như thế thì chẳng giống với nhiều người khác thờ lạy, sự thờ lạy đó dường như là dị giáo, nguy hiểm, và vô thần. Nhiều tiếng đồn đại lan rộng về “các môn đồ Đấng Christ” nầy, họ đã thờ lạy một nhân vật bị đóng đinh trên thập tự giá và rồi đã sống lại từ kẻ chết.
Lố bịch!
Vô lý!
Ai dám tin một việc như thế chứ?
Vậy, điều chi xảy ra khi chúng ta thờ phượng? Khi Giám mục William Temple tìm cách định nghĩa sự thờ phương, ông đã viết một câu rất quan trọng và rất hay:
Thờ phượng là nhen lại lương tâm bởi sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, Trưởng dưỡng tâm trí với lẽ thật của Đức Chúa Trời, Gột rửa trí tưởng tượng bằng vẻ oai nghi của Đức Chúa Trời, Mở lòng ra với tình yêu của Đức Chúa Trời, Dâng ý chí cho mục đích của Đức Chúa Trời. Mọi sự ấy hoàn toàn là phản văn hóa. Bạn không nhận được điều đó do theo dõi kênh Fox News hay ESPN hoặc do theo dõi chương trình American Idol đâu. Hãy đến để suy nghĩ về việc ấy, bạn không nhận được điều đó trong các trường đại học lớn của thế gian. Đại học đường Cambridge và Harvard có thể hướng dẫn bạn cách suy nghĩ ở một cấp độ cao, nhưng nếu bạn muốn thờ phượng, bạn cần phải bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Tác giả của bài viết nói rằng chúng ta phải sử dụng các buổi thờ phượng của chúng ta để sửa soạn dân sự trở thành các đại biểu phản văn hóa của Vương quốc Đức Chúa Trời. Ông đã đúng một cách chính xác. Bởi sự cầu nguyện, bởi âm nhạc và bởi truyền thống đã chuyền xuống cho chúng ta, bởi chức vụ của Ngôi Lời, bởi phép báptêm và Tiệc Thánh, qua mối tương giao và sự khẳng định, bởi các tín điều và bởi ca đoàn, bất kể bối cảnh và phong cách, từng buổi thờ phượng cần phải trở thành bài học quan trọng để dạy dỗ dân sự của chúng ta: “Chúng ta không sống như thế gian. Chúng ta là hạng người như thế. Đây là lý do tại sao chúng ta tồn tại. Đây là những gì chúng ta tin. Đây là cách thức chúng ta sống”. Và vì áp lực của thế gian thường xuyên như thế trên chúng ta, chúng ta phải sử dụng từng cơ hội trong sự thờ phượng để làm cho họ những gì sự thờ phượng đã làm cho Asáp.
Sự thờ phượng đưa ông trở lại với mọi nhận thức của mình.
Sự thờ phượng giúp ông nhìn thấy những gì ông đã bỏ sót. Trên vùng đất trơn trợt
Thứ ba, ông đã nhìn thấy sự cuối cùng của kẻ ác và đấy chẳng phải là một cảnh đẹp mắt đâu (các câu 18-20).
Họ đang ở trên vùng đất trơn trợt.
Họ sẽ bị quăng xuống rồi thình lình bị hủy diệt.
Họ sẽ bị kinh khiếp quét sạch.
Họ sẽ biến mất khỏi đất.
Sứ điệp của Đức Chúa Trời là: “Tại sao bạn ganh tỵ với kẻ ác chứ? Họ sẽ tụt hậu!”
Họ không nhận biết điều đó.
Họ không nhìn thấy điều đó.
Họ không tin điều đó.
Nhưng Đức Chúa Trời đã phán và Lời của Ngài không thể luống nhưng đâu. Kẻ ác sẽ đến với một tận cùng tồi tệ. Họ sẽ không cười nổi, không cổ vũ và không thưởng thức những ly cocktail và cuộc sống cao cấp của họ, và họ sẽ không làm giàu từ những gian lận của họ trong ngày ghê khiếp kia. Trong chốc lát, dường như họ có lối sống ấy đấy. Nhưng chẳng bao lâu nữa thì ngày phán xét sẽ đến.
Chúng ta có thể nói ba điều về số phận tối hậu của họ:
Sự phán xét của họ là thình lình và bất ngờ. Sự hủy diệt họ là hoàn toàn và không thể đảo ngược.
Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là cá nhân và không thể tránh được.
Bạn có muốn đổi chỗ với họ không? Vào năm 1719, Isaac Watts đã cho in một phiên bản theo thể thơ của Thi thiên 73. Khi ông đến với phần nầy của Thi thiên, ông viết mấy lời nầy:
Ở đó, giống như tấm kính tiên tri,
Tôi nhìn thấy bàn chơn của tội nhân
Đang leo lên cao ở nơi trơn trợt,
Bên cạnh cái hố sâu khủng khiếp.
Tôi nghe thấy lời báng bổ kiêu ngạo,
Cho tới khi hắn cau mày té ngã;
Vinh quang hắn lạc mất trong chiêm bao,
Rồi hắn tỉnh thức trong địa ngục.
(Nếu bạn muốn nghe ý tưởng nầy theo phương thức hiện đại, hãy xem cuộn video nầy nói tới bài hát của Johnny Cash Gods Gonna Cut You Down. Asáp và Isaac Watts và Johnny Cash đang thốt ra cùng một sự việc). Các hình ảnh nổi bật nầy buộc chúng ta phải đến với phần kết luận quan trọng. Đức Chúa Trời một cách cá nhân chối bỏ kẻ ác. Vì họ chẳng có thì giờ dành cho Ngài, Ngài gửi họ đến địa ngục cho đến đời đời. Ngay bây giờ họ đang đứng trên vùng đất trơn trợt, nhưng không bao lâu nữa cửa sập sẽ mở toang và họ lọt xuống đó. Điều nầy nhắc tôi nhớ đến lời lẽ của Chúa Jêsus nói với những kẻ giả hình tôn giáo. Một ngày kia, Ngài sẽ phán với họ: “Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” (Mathiơ 7:23).
Thứ tư, ông thấy mình rất dại dột. “Khi lòng tôi chua xót, và dạ tôi xôn xao, thì bấy giờ tôi ở ngu muội, chẳng hiểu biết gì; Trước mặt Chúa tôi ở khác nào một thú vật vậy” (các câu 21-22). Sự ăn năn thật giống với điều nầy. Ăn năn công nhận tội lỗi, gọi nó đích danh, đến với tận gốc rễ của vấn đề, và công nhận lẽ thật. Một bản dịch chép: “Tôi hoàn toàn dốt nát, một con bò câm trước sự hiện diện của Ngài”. Sự thể ấy nói lên đúng sự việc.
Ganh tỵ và cay đắng làm đồi bại tấm lòng là dường nào! Chúng làm cho chúng ta rơi vào chỗ vô cảm và dốt nát, chẳng khác gì hơn loài súc vật.
Đức Chúa Trời là phần của chúng ta cho đến đời đời Thứ năm, ông kiếm được một nhận định mới về Đức Chúa Trời. Ở một khoảnh khắc cao độ của Cựu Ước, Asáp nhìn tới trước một ngày khi ông sẽ được ở với Đức Giêhôva cho đến đời đời:
“Song tôi cứ ở cùng Chúa luôn luôn: Chúa đã nắm lấy tay hữu tôi. Chúa sẽ dùng sự khuyên dạy mà dẫn dắt tôi, rồi sau tiếp rước tôi trong sự vinh hiển. Ở trên trời tôi có ai trừ ra Chúa? Còn dưới đất tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa. Thịt và lòng tôi bị tiêu hao; Nhưng Đức Chúa Trời là sức lực của lòng tôi, và là phần tôi đến đời đời” (các câu 23-26). Đây là sự bảo hộ cá nhân của người tin Chúa:
Trong quá khứ Ngài đã nắm lấy tay tôi.
Trong hiện tại, Ngài dẫn dắt tôi bằng sự khuyên dạy của Ngài.
Trong tương lai, Ngài sẽ đưa tôi vào trong sự vinh hiển.
Kẻ ác có gì đáng sánh với điều nầy? Điều gì có thể tương xứng với sự hiện diện riêng tư của chính mình Đức Chúa Trời? Thật là giá trị dường bao khi biết rõ một ngày kia bạn sẽ ở với Chúa trong sự vinh hiển?
Trong bài giảng của ông về Thi thiên 73, Robert Rayburn trình bày như sau:
Sự giàu có của kẻ ác chẳng có ý nghĩa chi hết. Họ chẳng có gì hết. Không có Đức Chúa Trời, không có sự tha thứ, không có thiên đàng, họ chẳng có chi hết. Với Đức Chúa Trời, chúng ta có mọi sự và luôn luôn có mọi sự, bất luận mọi hoàn cảnh bên ngoài của đời sống chúng ta có như thế nào đi nữa.
Là một Cơ đốc nhân khi bạn qua đời là một việc rất quan trọng.
Nếu bạn nhận biết Chúa Jêsus, phước hạnh tốt nhứt rồi đây sẽ đến.
Có phải bạn ganh tỵ với kẻ ác chăng? Dại dột làm sao, thiển cận làm sao! Họ giống như rơm rác gió thổi bay đi. Hãy để cho họ có những món nữ trang và đồ trang sức. Hãy để cho họ có khoảnh khắc ngắn ngủi của họ ở dưới mặt trời. Đối với kẻ ác địa cầu nầy là thiên đàng duy nhứt mà họ từng nhìn biết. Đối với người công bình địa cầu nầy là địa ngục duy nhứt mà chúng ta từng chịu đựng.
Cuối cùng, chúng ta sẽ khám phá ra rằng chẳng có gì trên đất hay trên trời đáng ao ước hơn là Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể qua đời nhưng ngay cả sự chết bản thân nó không thể làm phân cách mối giao thông của chúng ta với Đức Chúa Trời vì mối tương giao ấy vốn an toàn giống như chính mình Đức Chúa Trời vậy. Bao lâu Đức Chúa Trời còn ngự trị trên thiên đàng của Ngài, chúng ta sẽ ở với Ngài trong sự vinh hiển. Không một kẻ ác nào có thể tước điều đó khỏi chúng ta.
Khi chúng ta đặt sự vinh hiển hầu đến lên cán cân đời đời, sự thịnh vượng mau qua của kẻ ác sẽ chẳng là gì cả. Mượn một câu của Mục sư Jonathan Edwards: “Người tin kính có phần tốt hơn mặc dầu mọi sự họ có là Đức Chúa Trời”.
Thứ sáu, ông nhìn thấy sự khác biệt quan trọng giữa người công bình và kẻ ác (các câu 27-28). Chúng ta sẽ đi theo các hướng khác nhau. Kẻ ác một ngày kia sẽ hư mất trong địa ngục, còn người công bình nhìn biết Đức Chúa Trời lúc bây giờ và sẽ ở với Ngài cho đến đời đời.
Cho phép tôi đưa ra một số kết luận và chúng ta hãy để ý:
1. Trong đời nầy, kẻ ác đôi khi thịnh vượng trong khi người công bình dường như gánh chịu đau khổ.
2. Bao lâu chúng ta chơi trò so sánh, đời sống của chúng ta sẽ bị đầy dẫy với ganh tỵ, giận dữ và thất bại.
3. Người nào quên Đức Chúa Trời trong đời nầy một ngày kia sẽ khám phá ra rằng mọi sự họ dồn chứa sẽ thình lình bị hủy diệt.
4. Người nào bám lấy Đức Chúa Trời trong những lúc chao đảo sẽ thấy rằng Ngài là đủ cho đời nầy và cho đời hầu đến.
5. Một khi Đức Chúa Trời còn hơn là đủ nữa, khi chúng ta bị cám dỗ đến thất vọng, chúng ta hãy công bố sự đầy dẫy của Đức Chúa Trời cho bất cứ ai chịu lắng nghe.
6. Đức Chúa Trời ban sự thịnh vượng cho kẻ ác vì đấy là mọi sự mà họ sẽ nhận được.
7. Ngài ban cho chúng ta bàn tay dẫn dắt của Ngài qua những khó khăn vì mọi sự sẽ đi tới chỗ tốt hơn cho những ai yêu mến Chúa.
Thi thiên 73 nhắc cho chúng ta nhớ rằng đôi khi chúng ta cảm thấy đức tin của mình trượt ngã đi. Tôi đã bắt đầu bài giảng với một câu rất đơn giản: “Có bao giờ bạn thôi không tin Chúa nữa không?” Nhiều người sẽ trả lời “yes” cho câu hỏi ấy. Tôi không nghĩ giận dữ hay bối rối là sai với mọi việc đang xảy có ở chung quanh bạn. Đôi khi cuộc sống dường như rối reng đến nỗi bạn phải nhìn lên trời rồi nói: “Còn gì nữa không?” Chống lại mọi sự ấy, chúng ta có câu nói đầu tiên của Asáp phải xem xét: “Đức Chúa Trời thật đãi Y-sơ-ra-ên cách tốt lành” (câu 1). Nếu chúng ta có thể thốt ra câu nói đó, mặc dầu có nước mắt, mọi thắc mắc, mọi hồ nghi của chúng ta, khi ấy chúng ta sẽ kết thúc với đúng chỗ.
Clovis Chappell nói rằng ở bờ Tây của nước Anh có ngôi mộ của một người được yêu mến nhiều bởi mọi người quen biết ông. Khi ông qua đời, lời lẽ nầy được khắc trên mộ bia của ông: “Đây là một người lấy làm thỏa mãn với Chúa Jêsus”. Câu ấy có thể nói cho bạn không? Câu ấy có thể nói về tôi không?
Đức tin chọn tin rằng Jêsus là Chúa trên từng phần của cuộc sống, ngay cả những phần chẳng có ý nghĩa gì trong khoảnh khắc. Hãy biến Ngài thành vầng đá, nền tảng chắc chắn của bạn, thì bạn sẽ chẳng bao giờ bị lạc trôi.

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

Thi thiên 78:19: "Đức Chúa Trời há có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?"


Đức Chúa Trời há có thể
dọn bàn nơi đồng vắng sao?

– Thi thiên 78:19
“Họ nói nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà rằng: Đức Chúa Trời há có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?” (Thi thiên 78:19).
Không, Ngài không thể.
Đức Chúa Trời không thể dọn bàn trong đồng vắng.
Câu hỏi dại dột.
Đồng vắng là chỗ bạn đến để chết thôi.
Vậy, câu trả lời là “không”.
Đức Chúa Trời không thể dọn bàn trong đồng vắng.
Hoặc giả Ngài có thể, Ngài sẽ không dọn. Vậy thì, đâu là sự khác biệt?
Dân sự của Đức Chúa Trời đã nói như thế, họ nói nghịch cùng Đức Chúa Trời. Đây là những gì xảy ra bất cứ khi nào bạn quên những gì Đức Chúa Trời đã làm.
Đồng vắng là một nơi rất đáng sợ. Chẳng có chi hết trừ ra đồi núi trơ trụi, nhiều trũng sâu, nắng như nung, bụi đất xám xịt cứ thế cho đến đời đời. Một người nếu không có sự tiếp trợ sẽ chẳng sống lâu dài được trong đồng vắng. Hơn cả triệu người cứ lang thang quanh quẫn mãi chẳng chóng thì chày họ sẽ chết vì đói. Chẳng có đủ nước, không có đủ thực phẩm để ăn, mặt trời cứ rọi xuống suốt cả ngày, rồi ban đêm sa mạc trở tối tăm, lạnh lẽo và đầy nguy hiểm. Ít người sống sót được ở đó lâu dài.
Vì thế, những người đã tin cậy nơi Đức Chúa Trời của họ đã công khai nói nghịch cùng Đức Chúa Trời. Đấy chẳng phải là lần thứ nhứt đâu. Nếu bạn đi theo người Do thái kể từ khi có phép lạ lớn lao nơi Biển Đỏ, bạn sẽ nghe thấy họ than vãn và lằm bằm luôn: “Môise là ai chứ? Tại sao Đức Chúa Trời ban quyền bính cho ông ta? Chúng ta nhớ Aicập. Ít nhất là chúng ta có thực phẩm để ăn. Trời nóng quá ở đây. Chúng ta mệt mõi vì cứ lòng vòng lang thang mãi. Tại sao chúng ta có mặt ở đây chứ?"
Việc ấy cứ tiếp diễn trong nhiều ngày.
Ở một số phương thức, người ta đâm hồ nghi là điều rất dễ hiểu. “Bị treo giữa chừng” là một việc rất đáng sợ". Đấy là một ẩn dụ mà tôi đã học được cách đấy mấy năm mô tả giây phút đáng sợ khi bạn rời bỏ chỗ quen thuộc để đến chỗ không quen thuộc. Một tác giả đã mô tả sự thể ấy theo cách nầy:
“Chúng ta e sợ về sự thay đổi thì chẳng phải là nhiều, hoặc yêu thương với những cách thế cũ, song ở giữa chừng chỗ đó chúng ta sợ...giống như bị treo giữa chừng. Ấy là Linus khi tấm mền của anh ta đang ở trong máy sấy. Chẳng có gì để đắp hết”.
Để vào trong Đất Hứa, bạn phải rời khỏi Aicập. Thật dễ dàng cho người Do thái một khi băng qua Biển Đỏ rồi, họ đã bước thẳng vào xứ Canaan. Nhưng đấy chẳng phải là cách thức Đức Chúa Trời làm việc đâu. Hết thảy chúng ta phải nếm trải “thời điểm ở sa mạc” để tiếp thu từ chỗ chúng ta đã sống đến chỗ Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải sống. “Thời điểm ở sa mạc” giống như sống “treo giữa chừng” vậy. Người Do thái đương nhiên phải rời Aicập. Mặc dù họ có đủ ăn, Pharaôn đã tàn nhẫn bắt họ làm nô lệ. Ai mà chẳng muốn rời khỏi Aicập chứ?
Nhưng sau khi rời đi, họ khám phá ra rằng đồng vắng là một nơi rất khó sống. Họ đã sống như “bị treo giữa chừng”, trong chỗ đáng sợ đó, bạn phải lìa bỏ quá khứ nhưng tương lai thì chẳng thấy tăm hơi đâu hết. Bạn ra đi vì bạn phải đi, nhưng rồi bạn chờ đợi, treo trong không gian, hy vọng và cầu nguyện rằng nơi kế tiếp phải đến thật đúng lúc. Trong chỗ thất vọng đó, thật là dễ hồ nghi không biết Đức Chúa Trời có biết bạn đang nếm trải điều gì hay không nữa!?!
I. Đồng vắng vốn quạnh hiu.
Theo định nghĩa thì đồng vắng là một nơi vốn quạnh hiu. Đồng vắng thật rộng lớn, bao la, sa mạc kéo dài không dấu vết dường như rộng khắp cho đến đời đời vậy. Đi trong một dặm vào bất kỳ hướng nào thì địa thế trông cứ y như vậy mãi. Trèo lên một ngọn đồi thì mọi sự bạn nom thấy cũng chỉ y như thế thôi. Mặc dầu bạn có thể có nhiều người vây quanh, trong đồng vắng bạn cảm thấy mọi thứ đều cô độc hết.
Bị bỏ rơi.
Bị lãng quên.
Bị vứt bỏ.
Hết thảy chúng ta đều đã có mặt ở đó.
Chờ đợi phỏng vấn nhận việc làm.
Hy vọng có tin lành từ các bác sĩ.
Nhìn thấy tiền bạc cạn dần đi.
Lo âu về con cái của mình.
Ngạc nhiên không biết chúng ta có thể chịu nổi cho đến tuần khác không!?!
Thử tha thứ và thấy khó quá.
Cầu thay cho con trai hay con gái đang phục vụ ở Afghanistan.
Làm việc để vá lại mối quan hệ đã tan vỡ.
Cảm thấy lún trong bùn và tự hỏi không biết rồi đây cuộc sống sẽ đổi thay hay không!?!
Thử xây dựng lại các ước mơ của mình đã bị tan rãi đi.
Trong những giây phút căng thẳng, đáng sợ đó, thật dễ nghĩ rằng “Đức Chúa Trời đã quên tôi”.
Nhưng còn nhiều việc khác nữa ở quanh đây. Chúng ta là hạng người đã quên Đức Chúa Trời.
II. Đồng vắng vốn cần thiết.
Hãy chú ý câu hỏi của câu 19: “Đức Chúa Trời há có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?"
Cả gia đình cùng ngồi lại để dự bữa ăn. Các thành viên trong gia đình cùng nhau chia sẻ sự sống của họ tại nơi bàn. Hãy đến tại bàn và ở đó bạn sẽ thấy đồ ăn thức uống, mối tương giao, nụ cười và sự khích lệ. Hãy đến tại bàn và ở đó bạn sẽ khám phá ra rằng bạn không phải chỉ có một mình đâu. Hãy đến tại bàn thì ở đó bạn sẽ thấy nhiều người khác biết bạn đang nếm trải điều gì và không cứ cách nào đó họ tiếp đón bạn.
Trong Thi thiên 23, David thưa với Chúa: “Ngài dọn bàn cho tôi trước mặt kẻ thù nghịch tôi” (câu 5). Hãy đến với Tân Ước thì ở đó bạn sẽ thấy “bàn của Đức Giêhôva” ở đó các anh chị em trong Đấng Christ nhóm lại với nhau (I Côrinhtô 10:21). Chúa Jêsus thuật lại một câu chuyện nói tới người kia là chủ bàn tiệc lớn với nhiều chỗ trống vì một số người được mời đã quyết định không đến dự. Ngài bảo các tôi tớ đi ra ngoài và tìm bất cứ ai, bất cứ đâu để họ sẽ đến dự tiệc lớn của Ngài. Không một chỗ trống nào bị chừa lại!
“Hãy đi mau ra ngoài chợ, và các đường phố, đem những kẻ nghèo khó, tàn tật, đui, què vào đây” (Luca 14:21).
Và khi vẫn còn có chỗ trống, Ngài sai tôi tớ Ngài đi ra một lần nữa:
“Hãy ra ngoài đường và dọc hàng rào, gặp ai thì ép mời vào, cho được đầy nhà ta” (Luca 14:23).
Nếu người nào được mời lần thứ nhứt không chịu đến, khi ấy chủ sẽ đi kiếm những kẻ bị xã hội ruồng bỏ, là những người không bao giờ đến với một dịp như thế. Đấy là cách Đức Chúa Trời làm việc. Ngài đi theo hạng người mà thế gian không thèm ngó đến vì “hạng người xinh đẹp” chẳng có ích lợi gì trong việc đến với Ngài để được cứu.
Khi chúng ta đến với bàn của Chúa, mọi sự phân biệt đời nầy phải bị gạt hết qua một bên. Chúng ta thể nào thì đến thể ấy, hạng tội nhân có nhu cần đến ân điển của Đức Chúa Trời. Chúng ta gạt qua một bên mọi sự phân rẻ chúng ta, những thứ như phẩm tước, địa vị, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và văn hóa, và chúng ta đang đến với sự khát khao bàn tiệc của Đức Giêhôva. Chúa Jêsus hứa với các môn đồ Ngài rằng họ sẽ “ăn uống chung bàn trong nước ta” (Luca 22:30). Và bữa ăn long trọng sau cùng được gọi là “tiệc cưới Chiên Con” (Khải huyền 19:9).
Tất cả bốn sách Tin Lành đều ghi lại phép lạ vĩ đại của việc cho 5000 người ăn. Chúa Jêsus đã cho 5000 người ăn ở “nơi vắng vẻ” (Mác 6:35). Các môn đồ muốn người ta phải trở về nhà vì họ chẳng có đồ ăn. Nhưng Chúa Jêsus bảo họ ở lại. Ngài sẽ chu cấp đồ ăn, các môn đồ sẽ phục vụ cho đoàn dân đông đang bị đói.
Tại bàn của Đức Chúa Trời, đồ ăn không hề cạn kiệt. Không một ai từng ra về mà bị đói khát.
Hết thảy chúng ta đều biết rằng trẻ con vốn thích than phiền về thức ăn của chúng. Chúng không thích món spaghetti hay chúng không thích món broccoli hay chúng mệt mõi về sữa chocolate hoặc thay vì thế chúng có bánh rán hay tại sao chúng ta không thể có món tacos tối nay? Một bà mẹ phải tốn nhiều thời gian để sửa soạn một bữa ăn chỉ bị con cái phá hỏng nó bằng những lời phê phán không tử tế.
Cũng một thể ấy với dân sự Đức Chúa Trời trong đồng vắng. Khi Đức Chúa Trời cung ứng mana và chim cút để họ không bị đói, như thế vẫn chưa đủ đối với họ. Thức ăn ở Aicập dường như ngon hơn nhiều.
Ăn mana mỗi ngày quả là chán ngắt.
Có bao nhiêu cách bạn có thể dọn món chim cút?
Tôi không ngạc nhiên bởi thái độ chẳng biết ơn của họ khi xem xét cách thức tôi thường bỏ quên Chúa.
Chúng ta thường xem mọi ơn phước của chúng ta là tất nhiên.
Ngài dẫn họ ngang qua Biển Đỏ.
Ngài giải phóng họ ra khỏi quyền lực của Pharaôn.
Ngài buông tha họ ra khỏi vòng nô lệ.
Ngài bảo hộ họ khỏi mọi dịch lệ.
Ngài dẫn dắt họ với một đám mây ban ngày và trụ lửa ban đêm.
Ngài ban cho họ nước từ vầng đá.
Nhưng thế vẫn chưa đủ.
Không bao giờ đủ khi bạn không tin cậy Đức Chúa Trời!
Vì vậy, họ than phiền rồi nói: “Đức Chúa Trời há có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?”
Đối với họ việc ấy quả là khó lắm.
Vì vậy Đức Chúa Trời đã mưa mana xuống.
Khi ấy Ngài sai chim cút đến.
Nhưng họ vẫn nghi ngờ Chúa.
Chúng ta giống y như họ. Khi chúng ta lâm cảnh rối reng, chúng ta kêu gào: “Đức Chúa Trời đã quên chúng ta rồi”.
Đức Chúa Trời không quên chúng ta, nhưng chúng ta đã quên Đức Chúa Trời.
Chúng ta chẳng có ý tưởng gì về bao nhiêu thức ăn Đức Chúa Trời đã dọn cho chúng ta.
Chúng ta chẳng có ý tưởng gì về bao nhiêu nước có trong Dòng Sông Sự Sống.
Chúng ta hành động y như chúng ta đang phục vụ cho một Đức Chúa Trời khốn khó.
Giống như thể Đức Chúa Trời của chúng ta chẳng làm sao cứu giúp được dân sự của Ngài.
Chúng ta nói: "Tiền bạc ở đâu chứ?” và để nó lo liệu mọi sự cho chúng ta.
Nhưng mọi sự giàu có trên trời đã giấu trong Đấng Christ.
Đồng vắng cho chúng ta thấy cả hai: tình trạng yếu đuối của chúng ta và thể nào Đức Chúa Trời có thể làm thỏa mãn chúng ta bằng những cách thức đáng kinh ngạc nhất. Bao lâu bạn ở trong Aicập, bạn sẽ không bao giờ cần mana và chim cút, nhưng bạn cũng sẽ không kinh nghiệm quyền năng làm phép lạ của Đức Chúa Trời.
III. Đồng vắng là tạm thời.
Đồng vắng không phải là chỗ dễ dàng để sống. Dường như nó...
Rất nguy hiểm,
Cô độc,
Chết chóc,
Độc hại
Vô vọng,

Thật dễ bị hư mất ở đó.
Bạn sẽ tốn nhiều thời gian ở đó.
Nhưng đấy cũng là chốn mà ở đó . . .
Học biết mọi hạn chế của mình,
Đối diện với những thất bại của chính mình,
Vật vã với thử thách,
Lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời,
Thấy Đức Chúa Trời hành động bằng cách thức thật bất thường,
Học biết nương cậy vào người khác,
Tìm được sức lực bạn không biết mình vốn có,
Gặp gỡ điều bất khả thi,
Học biết Đức Chúa Trời là như thế nào.
Đâu là đồng vắng của bạn?
Một người khó chịu?
Tình huống công việc khó khăn?
Học biết xử lý với buồn rầu?
Mất việc làm ư?
Cuộc sống nhàm chán chăng?
Sợ hãi đang bám lấy tấm lòng của bạn chăng?
Ung thư đang phát triển bên trong bạn ư?
Người cha nào đang từ bỏ bạn chăng?
Một đứa con đau ốm chăng?
Bị tê liệt trầm cảm sao?
Mục sư trong nhà thờ chăng?
Bạn ghét thị trấn ư?
Bạn sẽ không gặp gia đình sao?
Mối hôn nhân từ từ dãy chết chăng?
Há Đức Chúa Trời có thể dọn bàn ở một nơi như thế sao?
Há Đức Chúa Trời có thể gặp gỡ bạn ngay nơi bạn sinh sống sao?
Há Đức Chúa Trời có thể trải rộng bàn tiệc giữa đồng vắng của chính bạn sao?
Cách đây không lâu, tôi đã dùng một tuần lễ ở Western Avenue Family Center tại Toledo, bang Ohio. Tôi đến giảng ở một bữa tiệc và rồi ở hai buổi thờ phượng ở nhà thờ vào ngày Chúa nhật. Nhưng sự việc đổi đi, tôi đã đến để thấy Đức Chúa Trời đang hành động ở một trong những địa điểm vô vọng nhất của con người trên nước Mỹ. Bạn tôi là David Kaiser hướng dẫn một đoàn người tiếp cận mọi nhu cần về vật chất và thuộc linh của dân sự trong khu vực tàn lụi của Nam Toledo đầy dẫy với bóng tối tăm và thất vọng. Ở giữa tình trạng vô gia cư tràn lan, lạm dụng ma túy, bạo lực, và sự đổ vỡ mọi cấu trúc bình thường của xã hội, người dân ở Western Avenue đang chiếu ra ánh sáng cho Chúa Jêsus.
Vào sáng thứ Bảy, tôi thấy có nhiều người nam người nữ từ cộng đồng đến ngồi ăn điểm tâm miễn phí. Sáu ngày một tuần những người tình nguyện lo dọn bữa ăn sáng tại trung tâm. David chỉ vào một cô gái đang lo dọn thức ăn. Cô ấy dường như sáng láng, vui vẻ và sung sướng khi có mặt ở đó. Cô ấy đã có thai ở tuổi 13 bởi một gã giờ đây đang ngồi tù. Bởi ân điển của Đức Chúa Trời, cô ấy tìm đến trung tâm và qua trung tâm cô ấy tìm được Chúa Jêsus rồi giờ đây ở tuổi 16, cô ấy đang chăm sóc đứa con của mình trong khi học trung học và có được điểm rất cao. Cô ấy hy vọng vào đại học một ngày kia, là điều sẽ trở thành một thứ phép lạ cho người láng giềng. Giờ đây, cô ấy tình nguyện bằng cách phục vụ cho tha nhân đang có cần. Đời sống của cô ấy đã được biến đổi bởi quyền phép của Đức Chúa Jêsus Christ. Khi tôi nhìn thấy nụ cười và nghe câu chuyện của cô ấy, tôi nhận ra rằng cô ấy đã tìm được “bàn trong đồng vắng”.
Đấy là điều Đức Chúa Trời đang lo làm. Ngài gặp gỡ chúng ta khi chúng ta cảm thấy bị từ bỏ và lãng quên, và Ngài phán: “Ta sẽ dọn bàn cho ngươi trong đồng vắng nầy”. John Piper có một lời rất hay ở điểm nầy:
Ôi, Đức Chúa Trời trở nên mệt mõi với cách thức chúng ta thắc mắc hành trình của Ngài dành cho đời sống của chúng ta. Chúng ta thường nghĩ mình sẽ khá hơn khi từ đây đi đến đó! Chúng ta có khuynh hướng lằm bằm với hướng dẫn viên khi đoàn xe quay hướng Nam, hơn là chúng ta ngồi kiên nhẫn và chờ đợi những bài học đến từ Chúa. Ngài là hướng dẫn viên rất kín nhiệm. Chúng ta hoàn toàn không biết có cái gì sẽ đến kế tiếp. Đức Chúa Trời không bao giờ ghi điều đó trong ngành du lịch vì Ngài luôn luôn dẫn khách hàng tốt nhứt của mình vào trong đồng vắng.
Há Đức Chúa Trời có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao? Phải, Ngài có thể. Nhưng bạn sẽ không bao giờ biết, bao lâu bạn còn ở lại trong xứ Aicập. Chắc chắn thì bạn phải ở trong đồng vắng trước tiên. Khi ấy và chỉ khi ấy Đức Chúa Trời mới có thể dọn bàn cho bạn đấy.
Trước khi chúng ta rời khỏi đề tài nầy, chúng ta hãy nhớ rằng Chúa chúng ta đã được Đức Thánh Linh dẫn vào trong đồng vắng. Ở đó Ngài đã kinh nghiệm sự thử thách lớn lao từ ma quỉ song đã ra khỏi đó được mặc lấy quyền phép bởi Đức Thánh Linh (Luca 4:1-14).
Đồng vắng không bao giờ là dễ dàng cả. Nhưng Đức Chúa Trời có mọi mục đích cho chúng ta trong đồng vắng không thể hoàn tất bằng việc ở lại trong xứ Aicập. Người nào hạ quyết tâm theo Chúa Jêsus chắc chắn phải dành thì giờ trong sa mạc với Ngài. Ở đó, trong chốn quạnh hiu ấy, họ kiếm được những thứ không thể mua sắm được trừ phi trải qua đau đớn và chịu khổ.
Thật là cần thiết cho Chúa Jêsus phải vào trong đồng vắng. Nó cũng cần thiết cho chúng ta nữa. Hãy suy nghĩ việc ấy theo cách nầy. Đồng vắng không là một nơi vui vẻ để sống đâu. Bạn luôn luôn kết thúc trong việc cảm thấy mình cô độc và kiệt sức. Có thể bạn không kiêng ăn trong 40 ngày, nhưng bạn sẽ xuống đến với tận cùng năng lực của con người. Và bạn sẽ cảm thấy giống như bỏ cuộc và chịu thua. Bạn sẽ tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời đã từ bỏ bạn. Sẽ chẳng có cảm xúc nào khác nữa đâu; mọi sự dường như lẫn lộn hết. Nhưng đừng thất vọng.
Hãy giữ vững lập trường của bạn.
Hãy nhớ đến mọi lời hứa của Đức Chúa Trời.
Hãy bám lấy Chúa.
Đừng xây lại với đường lối sống cũ mà chi.
Đừng nhượng bộ trước mọi cảm xúc của bạn.
Hãy dựa vào các anh chị em của bạn trong Đấng Christ.
Đức Chúa Trời không bao giờ dẫn chúng ta vào trong đồng vắng để hủy diệt chúng ta. Ngài dự tính thời gian thử thách để làm cho chúng ta được mạnh mẽ hơn. Hãy nghĩ đến những gì bạn tìm thấy trong sa mạc:
Đắc thắng đang có ở đây!
Sự thánh khiết đang có ở đây!
Sự lớn lên về mặt thuộc linh đang có ở đây!
Đức Thánh Linh đang có ở đây!
Chúa Jêsus đang hiện diện ở đây!
Thà là ở trong đồng vắng với Chúa Jêsus hơn là ở trong cung điện mà không có Ngài. Cuộc sống không phải chỉ là mọi ước mơ, chương trình nghị sự, các hy vọng, ý tưởng, hay chương trình của bạn. Cuộc sống luôn hướng đến các mơ ước của Đức Chúa Trời, chương trình nghị sự của Đức Chúa Trời, các ý tưởng của Đức Chúa Trời, và mọi chương trình của Đức Chúa Trời. Chính Nước của Ngài mà chúng ta cầu xin hãy mau đến, chớ không phải nước của chúng ta đâu.
Há Đức Chúa Trời có thể dọn bàn nơi đồng vắng sao?
Ngài có thể.
Ngài đang.
Ngài sẽ.
Bạn có thể lượng tính được điều đó.
Nguyện hết thảy dân sự của Đức Chúa Trời đều nói Amen!

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

II Các Vua 1: "Không Có Đức Chúa Trời Sao?"


Không Có Đức Chúa Trời Sao?
– II Các Vua 1
Đây là câu chuyện nói tới chuyến đi sau cùng của Êli. Đức Chúa Trời có một việc sau cùng dành cho sơn nhân của Ngài, và rồi Ngài sẽ đưa ông về trời. Câu chuyện bắt đầu theo cách nầy: “Sau khi A-háp băng hà, dân Mô-áp phản nghịch cùng Y-sơ-ra-ên. A-cha-xia…” (câu 1). Achaxia là con trai của Aháp. Chúng ta thấy sau đó Aháp có hai người con trai, và cả hai đều chống nghịch Đức Giêhôva. Khi Aháp qua đời, người con lớn là Achaxia lên nối ngôi của Israel. Hãy nhớ rằng Giêsabên hãy còn sống kia. Bà ta sẽ còn sống trong nhiều năm nữa. Bà ta thực sự là người trị vì rất hiệu quả trên xứ Israel. Nhưng một trong hai người con của Aháp giờ đây đang ngồi trên ngai vàng. Người nầy chỉ ngồi trên ngai vàng trong hai năm ngắn ngủi và rồi người ra đi. Và đây là câu chuyện nói tới cách ông ta qua đời, ngày nay câu chuyện chiếm lấy sự chú ý của chúng ta.
Bây giờ, đây là vấn đề. Achaxia đã té ngang qua song lầu phòng cao của mình ở Samari và bị thương nặng. Bậc vua chúa bị thương là điều thực sự hiếm khi lắm. Nếu nhà vua bị thương ngoài chiến trường, đấy sẽ chấn thương rất đáng nể và là phương thức danh dự để chết. Nhưng té ngang qua song lầu rồi chạm mặt đất ở bên dưới, điều nầy thì ly kỳ thay. Chắc chắn đây là điều mà bạn không muốn công khai. Chúng ta không biết tại sao điều nầy lại xảy ra. Có ai đó đẩy ông ta té ngã không? Ông ta vấp ngã ư? Ông ta có say rượu không đó? Chúng ta không biết. Khi ông ta chạm mặt đất, thì rõ ràng là ông ta đã bị thương nặng rồi đấy. Và chẳng có ai có thể giúp đỡ cho ông ta cả. Không một ai trong cả xứ Israel có thể chữa lành các thương tích của ông ta. Vì vậy, ông ta nhũ thầm: “Ta cần sự cứu giúp từ trên cao”. Chỉ bởi trên cao thôi, ông ta chớ hề nghĩ đến Giêhôva Đức Chúa Trời của Israel; ông ta đã nghĩ đến một đấng nào khác kìa.
Vì vậy, ông ta gửi lời các sứ giả: “hãy đi cầu vấn Ba-anh-Xê-bụt, thần của Éc-rôn, đặng cho biết ta sẽ lành bịnh này chăng?” (câu 2).
Danh xưng Baanh Xêbụt xuất hiện chỉ ở đây trong Cựu Ước. Tất nhiên, Baanh là tên của tà thần mà Giêsabên đã mang vào xứ. Hắn là thần mặt trời, thần của bão táp, thần của mùa màng. Hắn là thần của các xứ theo tà giáo ở chung quanh xứ Israel. Phần còn lại của danh xưng nghe rất kêu lắm. Xêbụt thực sự mang đến cho bạn âm thanh … X..x…x..êbụt, X..x…x..êbụt, từ nầy có nghĩa là tiếng vo vo của loài ruồi. Baanh Xêbụt theo nghĩa đen có ý nói tới “chúa tể của loài ruồi”. Baanh Xêbụt là danh xưng đặc biệt nói tới thần linh của dân sự thuộc khu vực Écrôn, một thành nằm trên bờ Biển Địa Trung Hải. Đây là một trong năm thành phố chính của người Philitin. Khi họ dâng các thứ của lễ cho Baanh Xêbụt, người Philitin đã tin thần nầy có thể tiên đoán cuộc tương lai. Điều nầy rất thực, đây là công việc của ma quỉ làm qua tà thần. Đấy là lý do tại sao Achaxia muốn tư vấn Baanh Xêbụt. Ông ta muốn biết ông ta sẽ khá hơn hay là không, hoặc ông ta sẽ chết đi vì các chấn thương của mình.
Có một cách duy nhứt nắm bắt câu chuyện nầy. Israel vốn có một Đức Chúa Trời rồi, là Giêhôva Đức Chúa Trời của Israel. Thay vì xây sang Đức Chúa Trời chơn thật, Achaxia đặt tương lai mình vào hai bàn tay của Baanh Xêbụt.
Ôi chao ôi!
Tôi dừng lại ở đây để bình luận rằng, ở một cấp độ chúng ta có thể hiểu nổi ao ước của Achaxia. Hết thảy chúng ta đều muốn biết rõ cuộc tương lai. Chúng ta muốn biết điều chi sẽ xảy ra vào ngày mai, ngày mốt, tuần kế, tháng tới, năm tới. Các tập đoàn lớn chi hàng triệu đôla cho những nhà tư vấn, họ có thể dự đoán mọi xu hướng làm ăn trong tương lai. Nếu bạn có người thân với bịnh ung thư, bạn muốn biết tương lai đang nắm giữ điều gì. Nếu bạn có con cái, bạn thường lấy làm lạ (và có khi lo lắng nữa) về mọi quyết định chúng đưa ra. Ngay giờ phút nầy, tôi muốn biết rõ tương lai của chính mình. Ít nhất, tôi nghĩ mình sẽ biết được đấy. Có lẽ tôi sẽ không vui nếu như tôi biết được cuộc tương lai đó. Ai biết nào? Nếu bạn là một nhà đầu tư, bạn sẽ muốn biết rõ về thị trường chứng khoán. Đấy là lý do tại sao người ta xem Cramer chọn cổ phiếu của mình trên CNBC gọi là “Mad Money” (tiền điên). Người ta gào lên “ôi chao ôi” với Cramer và ông hô to “ôi chao ôi” trả lại. Khi ấy, họ nói ra một việc đại loại như: “Jim ơi, ông nghĩ gì về Nước Sinh Tố của Bắc Dakota (Amalgamated Fruit Juice of North Dakota – viết tắt là AFJND)?” Ông ta đập vào cái nút, rồi đạt tới phần lịch sử thị trường chứng khoán mới đây của AFJND. Tiếp đến, ông ta bắt đầu gào lên về mùa cam ở North Dakota không được trúng năm nay và mùa cam thì trúng hơn ở Florida, còn lúa mì ở North Dakota trông rất trúng đấy, nhưng ông ấy nghĩ thị trường chứng khoán đã đắt lên. “Đúng là đồ đểu! Hãy bỏ đi”. Và ông ta đập vào cái nút, khi ấy bạn nghe thấy một âm thanh giống như nước xả ra vậy. Ông ta nói: “Tôi muốn nhắm vào hiệp hội củ hành Mỹ. Chúng là giống tốt nhứt”. Và rồi ông bước qua chỗ kế đó. Chỉ nghe thấy bang, bang, bang. Tiếng ấy không thể cưỡng lại được. Nó làm cho mê hoặc. Tôi nghĩ ông là người rất am hiểu và có nhận định tốt. Nhưng có một việc quan trọng ở đây. Cramer là một bậc thầy, một thiên tài ở thị trường chứng khoán. Hay dường như vậy. Tôi chưa đủ tư cách để xét nét. Nhưng tôi xem vì đây là buổi trình diễn rất hay, và tôi muốn biết tương lai cũng nhiều y như bao người khác. Và ngay cả tôi không có tiền ở AFJND hay ở hiệp hội củ hành Mỹ nữa.
Chuyện sẽ trở nên riêng tư hơn khi bạn lấy làm lạ về sức khỏe của chính bạn hay sức khỏe của người bạn đời hay của con cái bạn. Bạn muốn biết không hiểu con cái của mình có chịu kết hôn hay không, và nếu có, thì ai sẽ là người may mắn đây? Chúng sống có hạnh phúc không? Cuộc hôn nhân đó có kéo dài không? Và chừng bao lâu nữa thì chúng sẽ đem cháu qua đây chứ? Bạn suy nghĩ về sự nghiệp của chính mình rồi tự hỏi: “Lạy Chúa, phải chăng đây là điều mà con dự tính cho phần đời còn lại của mình? Nếu không phải vậy, không cứ cách nào đó Ngài có thể giúp cho con biết được chăng?” Điều đó hoàn toàn là dễ hiểu thôi. Hết thảy chúng ta đều tự hỏi những việc đại loại như thế. “Lạy Chúa, con có những ước mơ và mọi điều lo toan. Con có nhiều thứ làm nặng lòng con. Lạy Chúa, đâu là tương lai của chính con? Xin chỉ cho con đường lối con phải theo”.
Crossing Over
Tôi không phê phán Achaxia về việc muốn biết mình có được hồi phục hay không!?! Điều đó rất tự nhiên. Nhưng ông ta đến không đúng chỗ rồi. Đến không đúng chỗ sẽ cho thấy đấy là một sai lầm nghiêm trọng. Và chúng ta sẽ không lấy làm ngạc nhiên vì khi người ta đâm chán nản, họ sẽ xây qua bất kỳ nguồn nào hứa hẹn với họ sự cứu giúp. Bạn trao đổi với một người bạn trên điện thoại. Bạn gọi đường dây nóng đồng cốt. Bạn nhìn vào lá số tử vi của mình. Thậm chí bạn sẽ gọi một đồng cốt, một người theo thuyết duy linh. Hết thảy chúng ta có khuynh hướng nghĩ tới đồng cốt giống như thể chúng là mụ phù thủy trong truyện cổ tích vậy. Đồng cốt ngày hôm nay trông giống như bạn và tôi. Còn thanh niên điển trai trên vở kịch Crossing Over thì sao? Anh ta trông giống như gã bên cạnh đây. Dễ mến lắm. Đẹp trai nữa. Ăn mặc đàng hoàng nhưng không quá chải chuốt. Nụ cười thân thiện. Thái độ thật tự nhiên. Trông anh ta giống như vận động viên hàng đầu kia kìa. Anh ta thật giống như một gã toàn Mỹ. Loại láng giềng mà bất cứ ai cũng muốn có. Thậm chí anh ta còn có một quyển sách cầu kinh Mân Côi nữa. Bạn nhũ thầm: “Một thanh niên Công giáo đây mà”. Mà cũng phải đấy, anh ta xưng mình có thể tiếp xúc với những người thân đã quá cố. Người ta trả thật nhiều tiền để đến với các buổi nhóm, ở đó anh ta xưng mình có thể tiếp nhận các sứ điệp đến từ ai đó đã “qua đời rồi”. Anh ta cũng ăn mặc đàng hoàng lắm kia. Thiệt là may. Ăn nói lưu loát, hội hiệp cũng nhanh không kém, xưng mình có thể nghe thấy các giọng nói hay tiếp thu các hình ảnh đến từ “cõi kia”. Sứ điệp luôn luôn đến từ kẻ chết là: “Chúng tôi đang bình yên mà. Đừng lo về chúng tôi. Bạn đang ăn ở đàng hoàng đấy và chúng tôi yêu mến bạn”. Thiệt là an ủi.
Anh ta xưng mình là đồng cốt và là một nhà tâm linh với một khả năng kỳ lạ nói trước cuộc tương lai và giao thông với kẻ chết. Tôi hiểu lý do tại sao người ta đến gặp anh ta vì anh ta trông bình thường như bao người khác mà bạn từng gặp gỡ. Làm ơn hiểu cho. Nổi ao ước muốn biết cuộc tương lai tự bản thân nó chẳng có gì sai. Cái sai là đi tới chỗ không đúng. Người nào đi gặp đồng cốt đang uống từ một dòng suối bẩn thỉu, và những gì họ nhận lãnh không đến từ Đức Chúa Trời. Những điều họ nhận lãnh sẽ trở thành chất độc hủy diệt linh hồn họ.
Sứ điệp sau cùng của Êli
Có nhiều việc không thay đổi bao nhiêu trong ba ngàn năm. Lỗi lầm lớn lao của Achaxia là đến không đúng chỗ. Vì vậy, ông ta đã sai sứ giả mình đi xuống Écrôn. Ở đó họ sẽ tiếp xúc với Baanh Xêbụt để xem coi nhà vua có hồi phục từ các thương tích của ông ấy chăng!?! Chúng ta xem lại câu chuyện một lần nữa ở câu 3: “Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li, người Thi-sê-be, rằng: Hãy chổi dậy, đi lên đón các sứ giả của vua Sa-ma-ri, và nói với họ rằng: Trong Y-sơ-ra-ên há không có Đức Chúa Trời sao, nên ngươi đi cầu vấn Ba-anh-Xê-bụt, thần của Éc-rôn?”
Hãy chú ý cụm từ “đi lên”. Các bản dịch cũ sử dụng từ “trở dậy”. Cũng y như khi Đức Chúa Trời bảo ông phải đối diện với Aháp qua việc giết Nabốt. “Hãy chờ dậy” “Hãy đi lên, Êli ơi. Ta có một việc nhờ ngươi làm đây”. Hãy đi rồi hỏi ông ta một câu: “Trong Israel há không có Đức Chúa Trời sao?” Trong Isarel há không có Giêhôva Đức Chúa Trời Toàn Năng sao, để ngươi phải đi xuống gặp những kẻ theo tà giáo rồi ngươi cầu hỏi tà thần về tương lai chứ? Giờ đây, hãy đến với các tin xấu ban cho Achaxia: “Ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên, nhưng hẳn sẽ chết. Đoạn, Ê-li đi”. Đấy là mọi sự có trong tin xấu đó. Đức Chúa Trời đã ban cho ông sứ điệp, và Êli phải phát nó ra. Bùm! Giống như bao lần khác. Người ta chẳng thấy ông ở đâu hết, ông xuất hiện rồi ban ra sứ điệp, và ông biến mất. Rõ ràng các sứ giả bối rối đến nỗi họ không đi đến Écrôn. Họ quay trở lại với nhà vua bằng tường trình nầy:
“Có một người đi lên đón chúng tôi, và nói với chúng tôi rằng: Hãy trở về cùng vua đã sai các ngươi, và nói với người rằng: Đức Giê-hô-va đã phán như vầy: Trong Y-sơ-ra-ên há không có Đức Chúa Trời sao, nên ngươi sai đi cầu vấn Ba-anh-Xê-bụt, thần của Ec-rôn? Bởi cớ đó, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên, nhưng hẳn sẽ chết!” (câu 6). Vì thế, nhà vua muốn biết ai dám đưa ra một sứ điệp tiêu cực như thế. Tôi thích câu trả lời của họ vì rõ ràng là họ chẳng có ý niệm gì về ông là ai hết. Họ mô tả Êli như vầy: “Người đó mặc áo lông, và thắt lưng bằng dây da” (câu 8). Theo L.L. Bean, đây là cách ăn mặc của người vùng miền núi, họ luôn ăn mặc như thế. “Vua nói rằng: Ấy là Ê-li, người Thi-sê-be” .
Hạng người hư mất đang quan sát chúng ta
Hãy suy nghĩ về việc nầy trong một phút xem. Nhà vua biết rõ Êli. Tại sao chứ? Vì Êli đã xử lý với Aháp cha của ông ta. Hạng người hư mất quan sát chúng ta nhiều hơn là chúng ta biết nữa. Hạng người hư mất chú ý chúng ta nhiều hơn là chúng ta mong mõi nữa. Hạng người hư mất biết nhiều hơn chúng ta nghĩ họ biết nữa. Nhiều hơn bất cứ điều chi khác, hạng người hư mất biết chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời hay là không. Họ quan sát chúng ta để xem coi họ chúng ta có sống thực hay không!?! Họ quan sát chúng ta từ đàng xa. Những người bạn đồng sự của bạn đang quan sát bạn đấy. Những kẻ láng giềng đang quan sát bạn kìa. Những người bà con chưa được cứu của bạn đang quan sát bạn đó. Có thể họ không nói nhiều với bạn. Có thể bạn chưa nhận ra sự việc ấy. Có thể bạn chưa nghe biết về họ trong nhiều năm trời. Nhưng ngày sẽ đến khi bạn nhận ra rằng có người đang quan sát bạn mọi lúc mọi khi rồi đưa ra những kết luận về đức tin, sự ngay thẳng và tình trạng chơn thật của bạn. Và họ đang rút tỉa những kết luận về thực tại đức tin của bạn nơi Đức Chúa Trời.
Tôi tin Đức Chúa Trời thường ban cho hạng người hư mất cái nhìn sâu sắc vào các Cơ đốc nhân ở chung quanh họ. Nói như thế là nói tôi tin Thánh Linh của Đức Chúa Trời ban cho hạng người hư mất khả năng xem thấu tận cốt lõi chúng ta là ai. Nếu bạn đến với hạng người hư mất rồi cung ứng cho họ một bài tập về giáo lý, họ sẽ đánh hỏng nó. Nhưng nếu bạn lấy một người bị hư mất rồi đặt một nhóm Cơ đốc nhân mà họ biết ở trước mặt họ, tôi tin hạng người bị hư mất kia chẳng chút bối rối khi họ cho biết: “Ông, bà nầy là tín đồ ư, tôi không nhìn thấy họ có gì quan trọng hết”. Có thể họ chẳng hiểu gì về Ba Ngôi Đức Chúa Trời hay toàn bộ sự hư mất, và hết thảy quan niệm nói tới sự tái lâm trước thời kỳ thiên hi niên của Đấng Christ có thể là một lẽ mầu nhiệm đối với họ, song hạng người hư mất có thể nói ra sự khác biệt giữa thực và hư. Nếu bạn hồ nghi, chỉ cần hỏi ai đó trong số bạn hữu mình chưa được cứu xem: “Bạn thấy gì khi bạn nhìn vào tôi?” Bạn sẽ lấy làm kinh ngạc nơi câu trả lời cho xem.
Vì nhà vua biết rõ. Ông đáp: "Ấy là Ê-li, người Thi-sê-be”.
Giờ đây, nhà vua sai một số người đi bắt Êli. Ông ta sai một viên quan cai đi với toán quân 50 người. “Quan cai năm mươi lính đi với năm mươi lính mình lên cùng Ê-li Vả, Ê-li đang ngồi trên chót gò” (câu 9). Tôi thích ở chỗ Êli đang ngồi trên chót gò, đang trò chuyện với Chúa, ông đang hứng đón các tia sáng, ông đang thưởng thức ban ngày. Ông không còn ẩn trốn lúc bấy giờ. Ông ra chỗ công khai, ở đó ai nấy đều nom thấy ông. Và viên quan cai 50 người kia nói: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, vua đòi ông xuống”. Bạn nghĩ nhà vua muốn điều gì chứ? Nhà vua muốn quăng ông vào trong nhà ngục. Êli nói: “Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trên trời giáng xuống thiêu đốt ngươi, luôn với năm mươi lính của ngươi đi!” (câu 10). Tôi dám chắc rằng đấy là việc sau cùng mà viên quan cai rất muốn nghe. Kỳ thực, đấy là việc sau cùng ông ta đã nghe vì câu kế tiếp chép: “Lửa từ trên trời liền giáng xuống thiêu đốt quan cai và năm mươi lính của người”.
Rõ ràng nhà vua là một kẻ chậm tiếp thu vì ông ta đã sai quan cai khác đi với 50 lính mình đến bắt Êli. Cũng câu chuyện ấy, lần thứ nhì.
“"Hỡi người của Đức Chúa Trời, vua phán như vầy: Hãy mau mau xuống. Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trên trời giáng xuống thiêu đốt ngươi với năm mươi lính của ngươi đi. Lửa của Đức Chúa Trời liền từ trời giáng xuống thiêu đốt quan cai với năm mươi lính của người” (các câu 11-12).
Tôi sẽ đi đâu trừ ra đến với Chúa chứ?
Bùm! Cũng một thể ấy, lửa giáng xuống từ trời thiêu đốt viên quan cai thứ nhì cùng 50 lính của ông ta. Vì vậy, nhà vua sai viên quan cai thứ ba đến với 50 lính của mình. Tôi e họ là những kẻ tình nguyện. Tôi hình dung viên quan cai đã sử dụng một loại thuyết phục rất mạnh mẽ. Viên quan cai thứ ba, là kẻ lanh lợi hơn nhà vua, ông ta quyết định không muốn mình sẽ kết thúc trong ngọn lửa.
Viên quan cai thứ ba nầy đi lên rồi phủ phục xuống trước mặt Êli.
“cầu xin người rằng: Hỡi người của Đức Chúa Trời, xin ông xem quí trọng mạng sống của tôi và mạng sống của năm mươi người này, là kẻ tôi tớ ông! Kìa, lửa đã giáng từ trời, thiêu nuốt hai quan cai năm mươi lính trước, và năm mươi lính của họ; nhưng bây giờ, xin xem mạng sống tôi là quí trọng trước mặt ông!” (các câu 13-14).
Thiên sứ của Đức Giêhôva bảo Êli đi với ông ta để gặp nhà vua. Trước đây, ông đã đứng trước mặt Aháp là vua cha; giờ đây ông đứng trước mặt Achaxia là vua con. Điều nầy cần có một lượng dạn dĩ để thực hiện vì Achaxia đang đau bịnh. Giờ đây vị tiên tri đã nói cho ông ta biết là ông ta sẽ chết. Một trăm quân của ông ta đã ngã chết, bị lửa thiêu nuốt. Tôi dám chắc ông ta đang ở tâm trọng rối reng dữ lắm. Tôi dám chắc Êli biết rõ nhà vua sẽ ra sức tử hình ông vào bất kỳ giờ phút nào. Bạn nghĩ Êli sẽ làm gì nào? Ông không chờ cho Achaxia thốt ra một lời.
“Đức Giê-hô-va phán như vầy: Bởi vì ngươi có sai sứ giả đến cầu vấn Ba-anh-Xê-bụt, thần của Éc-rôn, (há trong Y-sơ-ra-ên chẳng có Đức Chúa Trời để cầu vấn sao?) nên ngươi sẽ không xuống khỏi giường ngươi đã trèo lên, vì ngươi chắc sẽ quả chết!” (câu 16).
Há trong Israel chẳng có Đức Chúa Trời sao? Đúng là một câu hỏi dành cho hết thảy chúng ta!
Há trong thành phố nầy chẳng có Đức Chúa Trời sao?
Há trong hội thánh của bạn chẳng có Đức Chúa Trời sao?
Há trong gia đình của bạn chẳng có Đức Chúa Trời sao?
Há trong cuộc hôn nhân của bạn chẳng có Đức Chúa Trời sao?
Há trong đời sống của bạn chẳng có Đức Chúa Trời sao?
Há chẳng có Đức Chúa Trời nơi người mà bạn cùng đi với trong kỳ hoạn nạn sao?
Abraham Lincoln đã nói: “Tôi đã quì gối xuống do suy nghĩ nhiều lần rằng tôi chẳng có chỗ nào khác để đi cả”.
Tôi sẽ đi đâu, tôi sẽ đi đâu chứ,
Tìm nơi trú ẩn cho linh hồn tôi.
Tôi cần một người bạn giúp đỡ tôi cho đến cuối cùng
Tôi sẽ đi đâu trừ ra đến với Chúa chứ?
Vì vậy, nhà vua đã qua đời y như Êli đã nói ông ta sẽ chết. Chẳng có một chi tiết nào nữa vì chẳng nhằm nhò gì cả. Ông ta đã qua đời rồi. Việc duy nhứt thực sự là vấn đề là phần thứ nhứt của câu 17: “Vậy, A-cha-xia thác, theo như lời Đức Giê-hô-va đã cậy Ê-li mà phán ra”.
Peter Blakemore
Chẳng chóng thì chày thì sự chết đến với hết thảy chúng ta. Mùa hè qua, tôi sử dụng cả tuần lễ rao giảng ở Trung tâm Hội Nghị Gull Lake ở bang Michigan. Hai lần tôi nghe Daniel Wallace, vị giám đốc nói: “Địa ngục nóng lắm; đời sống thì ngắn ngủi”. Đâu là đời sống của bạn chứ? Chẳng qua chỉ là hơi nước đọng lại một chút rồi tan ngay thôi. Môise đã cầu nguyện: “Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi, hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan” (Thi thiên 90:12).
Một thời gian ngắn trước khi bạn tôi là Peter Blakemore qua đời, tôi gặp ông ấy lần cuối trong buổi nhóm cầu nguyện của Mục sư vào ngày cầu nguyện quốc gia. Tôi đã không gặp Peter trong một thời gian vì ông ấy đang phấn đấu với bịnh ung thư. Tôi biết ông ấy đã trải qua một sự thử thách ác liệt lắm, nhưng tôi chẳng có ý kiến gì khi hay tin xấu đó. Khi tôi đến với buổi nhóm cầu nguyện, tôi quen biết hầu hết mọi người ở đó vì họ đều là quản nhiệm các nhà thờ trong cùng một địa hạt. Có một người ngồi trên chiếc xe lăn với hai thanh niên đứng hai bên. Vì lưng của ông quay về phía tôi, tôi không nhận ra cho tới khi tôi ngồi xuống trong vòng tròn kia. Khi ấy, tôi mới biết đấy là bạn tôi Peter Blakemore. Peter là Mục sư quản nhiệm hội thánh Harrison Street Bible ở Oak Park. Trước khi Peter là Mục sư, cha của ông đã hầu việc Chúa ở nhà thờ ấy trong hơn 30 năm rồi. Trừ ra các năm học đại học và tốt nghiệp, Peter đã dùng cả đời sống mình ở Oak Park. Khi ông hoàn tất học vấn của mình rồi, ông trở lại với Oak Park để hiệp cùng cha mình ở Hội thánh Harrison Street Bible. Và khi cha ông qua đời, ông đã gánh vác chức vụ quản nhiệm thay chỗ cho cha mình. Peter Blakemore là một trong những người dịu dàng, tử tế nhất, giàu ơn nhất mà tôi từng quen biết. Ông sắp sửa được 40 tuổi khi ông qua đời. Ông để lại sau lưng một vợ và 7 con. Ông mắc một chứng ung thư rất hiếm. Họ đã gửi mẫu đi nhiều nơi khác nhau trong nước, hy vọng tìm được phương cứu chữa. Ông đã nếm trải nhiều cách điều trị khác nhau song chẳng có hiệu quả chi hết. Chứng ung thư sau cùng đã gậm nhấm cơ thể ông như một sự báo thù vậy. Và ông có mặt ở đó trong ngày cầu nguyện của quốc gia với hai người con trai của ông.
Chúng tôi cúi đầu xuống khi chúng tôi cầu nguyện, tôi để ý thấy một âm thanh lạ lùng, một loại cọ xát hoặc đập nhịp rất nhịp nhàng. Tôi không biết đó là việc gì nữa. Peter Blakemore là người sau cùng cầu nguyện trong ngày ấy. Và ông nói: “Lạy Chúa, Ngài biết con đã cầu xin Ngài chữa lành cho con chứng ung thư nầy. Và nếu Ngài chữa lành cho con, con sẽ đứng dậy và dâng sự vinh hiển cho Ngài. Còn nếu Ngài quyết định đem con về thiên đàng, Lạy Chúa, con sẽ trung tín với Ngài bằng đời sống của con và bằng cái chết của con hầu cho trong mọi sự Ngài sẽ được vinh hiển”.
Khi buổi nhóm cầu nguyện kết thúc hầu hết mọi người đều rời khỏi phòng nhóm. Chỉ có bốn người chúng tôi còn ở lại – Peter, hai người con trai và tôi. Chúng tôi trao đổi trong một lúc. Ông nói cho tôi biết một chút về các cách chữa trị. Giống như mới đây họ đã nghe nói từ các y bác sĩ rằng có một loại khối u mới đang hình thành trong phổi của ông, và các bác sĩ chưa thể hình dung cách ấy như thế nào nữa là. Họ đã nói tới hai việc. Một, bạn sẽ sống từ một đến ba tuần nữa. Còn việc kia, bạn sẽ sống hai hay ba tháng nữa. Khối u đã lớn lên trong hai lá phổi của ông tới điểm nó sẽ làm gãy hai hoặc ba cái xương sườn của ông. Trong khi ông đang cầu nguyện, ông gập người xuống trên chiếc xe lăn. Tiếng đập nhịp nhàng mà tôi đã nghe thấy là âm thanh của đứa con trai lớn của ông đang đập vào lưng cha mình để làm giảm cơn đau một chút. Peter nói cho tôi biết Chúa nhật trước ông đã giảng ở nhà thờ lần đầu tiên trong 8 tuần lễ. Ông đã giảng luận từ chiếc xe lăn đề tài ở Rôma 11:33: “Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” “Mục sư Ray ơi, ông có biết câu Kinh thánh ấy nói gì không?” Peter nói giống như việc lần theo các ngôi sao ở trên trời vậy. Khi bạn nhìn lên bầu trời ban đêm rồi thấy một ngôi sao, bạn biết rằng ngôi sao ấy đang quay trên một quỹ đạo, song nếu bạn chỉ nhìn chăm vào nó, mọi sự bạn có thể làm là nhìn thấy chỗ ngôi sao ấy đang đứng mà thôi. Thực sự bạn không thể nói ngôi sao ấy ra từ đâu hay nó sẽ đi đâu. Và ông nói: “Cũng một thể ấy với Chúa. Không một ai có thể nói chỗ mà Ngài đã bắt đầu. Không một ai có thể nói chỗ mà Ngài sẽ tới đến. Mọi sự bạn nhìn biết là Ngài đang hiện diện ở đây và bạn ở đây với Ngài, còn cuộc tương lai thì nằm trong hai bàn tay của Ngài”. Khi ấy, ông nói thêm: “Tôi nói với dân sự tôi sáng Chúa nhật vừa qua: Tôi đã cho quí vị thấy tôi sống như thế nào rồi. Giờ đây, tôi sẽ cho quí vị thấy cách tôi qua đời”. Đây là lời lẽ sau cùng ông nói với tôi: “Suốt cuộc đời tôi, tôi đã rao giảng về ân điển của Đức Chúa Trời. Tôi đã có một thời khiến cho dân sự phải lắng nghe. Giờ đây, tôi không có chút bối rối nào vì họ đã nhìn thấy ân điển của Đức Chúa Trời đang tác động trong đời sống của tôi”.
Chúng tôi chào tạm biệt và hai con trai của ông đã đẩy ông ra khỏi phòng. Đây là lần cuối cùng tôi gặp ông hãy còn sống. Hai hay ba tuần sau ông đã qua đời nầy bước vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Jêsus Christ. Tôi suy gẫm những điều ông đã nói và tôi đã suy nghĩ rất nhiều lần kể từ dạo ấy. Ai có thể hiểu được đường nẻo của Chúa? Bạn không thể. Tôi không thể. Không một ai có thể. Nhận biết chúng ta thuộc về Ngài là đủ rồi. Ngài biết rõ những gì Ngài sẽ làm. Ngài biết rõ chúng ta sống ở đâu. Và khi mọi sự qua đi, chúng ta sẽ ở chính xác nơi mà Ngài muốn chúng ta phải ở, với Ngài cho đến đời đời ở trên trời.
Điều chi sẽ xảy ra cho hôm nay và ngày mai? Tôi không biết. Điều chi sẽ xảy ra vào tuần tới hay tháng tới? Tôi không biết. Điều chi sẽ xảy ra vào năm tới tính từ bây giờ trở đi? Tôi không biết. Nhưng tôi biết Đấng biết.
Há trong Israel chẳng có Đức Chúa Trời sao? Phải, có đấy. Và Ngài cũng là Đức Chúa Trời của tôi nữa đấy. Tôi không biết tương lai đang nắm giữ điều gì, nhưng tôi biết Đấng nắm giữ cuộc tương lai. Và chúng ta có thể tin cậy nơi Ngài. Amen.

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

I Các Vua 19:19-21: "Đốt Cày"


Đốt Cày
– I Các Vua 19:19-21
"Người ta hiểu chúng ta hay không hoặc nghĩ chúng ta có lý hay không thì không phải là vấn đề một khi chúng ta sống chơn thật với Đức Chúa Trời. Vâng theo Ngài là điều quan trọng” Theodore Epp
Êli không phải là con người cân xứng nhất trong Kinh thánh. Nếu bạn lập một danh sách các tĩnh từ mô tả ông, cân xứng có lẽ không nằm trong nhóm 50. Thật là khó khi gọi một sơn nhân sống vùng rừng núi là cân xứng.
Bạn nói gì về một người từng …
Chạm trán với nhà vua gian ác
Sống bên dòng khe được bầy quạ nuôi mình
Sống với một người đàn bà góa
Làm cho một đứa trẻ đã chết sống lại
Thách thức nhà vua một lần nữa
Được kêu gọi phải có một lần đối mặt công khai
Bị các tôn giáo khác chế nhạo
Bị các tiên tri Baanh cười cợt
Gọi lửa giáng xuống từ trời
Tàn sát các tiên tri Baanh
Chạy trước xe ngựa của nhà vua
Trốn tránh bà hoàng hậu
Cầu xin cho được chết
Băng 40 ngày qua sa mạc
Trốn trong một hang động
Nghe tiếng của Đức Chúa Trời
Xưng mình là người công bình còn sót lại
Bạn nói gì về một người giống như thế? Hãy nói ra điều bạn muốn đi, nhưng đừng gọi ông ta là cân xứng. Khi Tấn sĩ Ryrie viết quyển Cân đối đời sống Cơ đốc, ông không có nghĩ tới Êli đâu.
Cân xứng rất thịnh hành cho hôm nay. Hết thảy chúng ta muốn được cân đối hầu cho tất cả các lãnh vực trong đời sống đều được hài hòa. Khi chúng ta chọn các cấp lãnh đạo, chúng ta tìm kiếm hạng người có những tánh khí thật cân xứng, loại người có thể cân đối mọi đòi hỏi của gia đình và công việc, loại người biết phản ứng trước một cơn khủng hoảng với cách tiếp cận thật cân xứng, loại người biết cách thức cân đối mọi đòi hỏi có tính tranh cạnh rồi tìm một sự thỏa hiệp có cần.
Cân xứng là tốt lành. Cân xứng là nguội lạnh. Cân xứng là luồn lách.
Chẳng có nhiều nhân vật “cân xứng” trong Kinh thánh. Không phải Môise đâu. Ông rất nóng nảy, ông đã giết một người Aicập rồi tìm cách che đậy việc ấy. David chăng? Không phải đâu. Giacốp ư? Bạn có đùa không đấy? Đaniên sao? Không đâu, vì có bàn tay viết trên tường kia. Phaolô không phải là một con người thoải mái để làm việc với. Hãy hỏi Banaba xem. Còn Phierơ? Vâng, đúng đấy. Ông ấy là người với cái miệng bằng cái chân. Ông ấy rất can đảm cho tới chừng một đứa tớ gái kia thách thức ông. Thế rồi vị sứ đồ dũng cảm ấy đã ngã sụm xuống.
Êli không phải là một người cân xứng. Ông có lý trí rất cương quyết, thẳng thừng, hung hăng, dễ căng về tình cảm, và ông là một môn đồ rất tin kính của Đức Chúa Trời.
Ông là người của Đức Chúa Trời. Tiên tri của Đức Chúa Trời. Phát ngôn viên của Đức Chúa Trời cho một thế hệ vô tín và gian ác. Cân xứng là tốt lành, nhưng đôi khi bạn cần một người dường như “sôi sụt” hẳn lên. Những phong cách đều đặn không nhất thiết phải cần tới. Êli thích ứng trọn vẹn với danh mục đó.
Giờ đây, Đức Chúa Trời sắp sửa ban cho Êli một vị phụ tá, một người học việc, một thanh niên mà ông có thể tư vấn cho người ấy. Đức Chúa Trời biết rõ Êli cần một người bạn có thể đồng đi với ông và chia sẻ mọi gánh nặng của ông. Ông cần ai đó có thể tiếp tục công việc sau khi ông rời đi.
Hãy đến với Êlisê. Khi lần đầu tiên chúng ta gặp ông, ông đang cày một miếng ruộng. Nhưng không lâu sau đó ông sẽ đốt cày của mình, chào tạm biệt với gia đình mình, rồi từ bỏ tình trạng an ninh của mình để đi theo vị sơn nhân hoang dã nầy bất cứ đâu Đức Chúa Trời dẫn dắt ông ấy.
Trước tiên có Êli.
Giờ đây có Êlisê.
Đức Chúa Trời đứng sau lưng cả hai người ấy.
Chúng ta hãy xem xét các bài học nào chúng ta có thể thu lượm được từ sự kêu gọi của Êlisê.
I. Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời buộc chúng ta phải đưa ra những sự lựa chọn khác biệt. “Từ đó, Ê-li đi, gặp Ê-li-sê, con trai của Sa-phát đang cày có mười hai đôi bò trước mặt mình, chính người cầm đôi thứ mười hai. Ê-li đi ngang qua người, ném áo choàng mình trên người” (câu 19). Êlisê đang cày trong đồng ruộng khi Êli ném chiếc áo choàng mình trên người không phải là không có ý nghĩa đâu. Đối với chúng ta hành động đơn sơ ấy đã được làm ra như chẳng có ý nghĩa gì nhiều, song Êlisê vốn biết chính xác Êli muốn nói gì rồi. Chiếc áo choàng của vị tiên tri là một cái áo rất đặc biệt, giống như cái áo choàng bằng lông lạc đà của Giăng Báptít vậy (Mathiơ 3:4). Việc ném cái áo choàng lên mình của Êlisê thì giống như một vì vua ban cây trượng cho con trai mình vậy. Đây là một dấu hiệu nói tới ơn kêu gọi thiêng liêng.
Và Êli tìm người nầy ở đâu chứ? Trong đồng ruộng với 12 đôi bò cày (dấu hiệu cho thấy một gia đình giàu có), với chính mình Êlisê đang cày với đôi thứ mười hai. Sự việc cho thấy không phải là ông đang tìm kiếm một việc làm mới mẻ đâu. Hai bàn tay của Êlisê đã điều hành trọn vẹn nông trại của gia đình. Hãy hỏi bất cứ ai lớn lên trên đồng ruộng và họ sẽ nói cho bạn biết công việc không bao giờ chấm dứt. Chăm sóc bầy gia súc, giữ cho đồng ruộng đúng theo khuôn sáo, phải sẵn sàng gieo và gặt, phải xử lý với thời tiết thay đổi và mọi nan đề của tôi tớ, phải lo liệu cả ngàn chi tiết từng ngày một, để giữ cho mọi sự được yên ổn và cứ thế trọn thời gian, bạn phải thức dậy sớm rồi đi ngủ trễ. Hạng người biếng nhác không cần cho loại công việc ấy đâu. Nếu bạn là một nông dân, bạn đang sống theo công việc của mình suốt cả từng ngày một. Và tôi e Êlisê không có bất kỳ tư tưởng nào về việc ông sẽ giết bò và đốt cày mình đâu. Tôi dám chắc rằng trên màn hình radar của ông chẳng có điều chi khác khi ban ngày bắt đầu.
Nhưng mọi sự đà thay đổi khi Êli xuất hiện. Không một ai dám nói cho Êlisê biết ông ấy là ai. Ai nấy đều biết rõ tên tuổi mặt mày của ông. Dân chúng không thể thôi không nói về việc ông gọi lửa xuống từ trời và đã đánh bại các tiên tri Baanh. Cả xứ đều biết rõ về vị sơn nhân kỳ lạ, bí ẩn, thô kệch, quê mùa xuất thân từ xứ Galaát, dường như ông chẳng sợ sệt ai hết. Ông cũng hay xuất hiện rồi biến mất chẳng một lời báo trước. Không một ai biết ông ở đây hay ông đang làm gì, và rồi “bùm”, ông lại có mặt ở đàng kia kìa. Thình lình ông xuất hiện ở nông trại gia đình của Êlisê, cách hang động trên Núi Hôrếp những 300 dặm.
Sự việc dường như xảy ra theo cách nầy. Không có một lời nào hết, Êli bước tới gần Êlisê, cởi áo choàng mình ra rồi khoác nó lên người Êlisê. Và khi đó, ông bắt đầu bỏ đi. Êlisê biết rõ việc nầy là thể nào rồi. Êli đang hiến cho ông một việc làm. Giờ đây, chàng thanh niên có một sự lựa chọn phải đưa ra. Ông có thể ở lại với đôi bò hay ông có thể đi theo tiếng gọi của vị tiên tri. Đời sống của người nông dân tuy nhọc nhằn song đối với Êlisê thì cuộc sống ấy rất bình yên. Ông có thể ở lại với đôi bò rồi cứ cày xới, hết đường cày nầy tới đường cày khác, hoặc ông có thể rời bỏ hết mọi thứ ấy, bước vào một tương lai vô định, nếu bạn xem lại các biến cố mới đây trên Núi Cạtmên, nó sẽ đưa ông vào chỗ nước nóng.
Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi thấy Êlisê đã phản ứng như ông đã đáp ứng. John Eldredge (tác giả quyển Wild at Heart) nói rằng Đức Chúa Trời đã đặt bên trong từng người một sự ao ước muốn tìm chuyến phiêu lưu để sống. Đấy là lý do tại sao người ta thích loại xe hơi chạy thật nhanh, bóng đá, cùng những cuộn phim như BraveheartThe Dirty Dozen. Đấy cũng là lý do tại sao chúng ta không xem phim Sleepless in Seattle trừ phi có một phụ nữ theo cùng. Con người ra đời để tham gia vào các chuyến phiêu lưu, chúng ta được Đức Chúa Trời gắn cho mạch điện tử để dám liều lĩnh, chúng ta được dựng nên để lướt mấy cái thẻ của mình, nhìn quanh bàn, lấy một hơi thật dài rồi nói: “tôi theo”. Tôi không nói phụ nữ không làm như thế vì họ có làm đấy, nhưng có sự khác biệt vì người nam và người nữ vốn khác biệt nhau. Êlisê đã chọn con đường liều lĩnh khó nhọc thay vì sống trong an toàn. Êli không cung ứng cho Êlisê một bảng mô tả công việc với tiền thù lao hậu hĩ đâu. Cách đây nhiều năm tôi nhớ tới việc nhìn vào một bảng quảng cáo tìm người tham gia vào công ty California Conservation Corps. Bảng ấy ghi như sau “Làm nhiều giờ, công việc nặng nhọc, lương thấp”. Cũng y như thế cho vị tiên tri. Êlisê biết rõ mọi sự ấy, và ông không có chần chừ.
II. Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dẫn tới sự phân rẻ đau đớn lắm. “Ê-li-sê bèn bỏ bò mình, chạy theo Ê-li mà nói rằng: Xin cho phép tôi hôn cha và mẹ tôi đã, đoạn tôi sẽ theo ông. Ê-li đáp: Hãy đi và trở lại; vì ta nào có làm gì cho ngươi đâu?” (câu 20) Chúng ta tiếp thu nhiều điều hữu ích từ phản ứng của Êlisê. Thứ nhứt, đây là một đáp ứng ngay tức thì. Ông bỏ đôi bò lại rồi chạy theo Êli. Sao ông phải chạy chứ? Vì Êli không ở quanh đấy để thảo luận vấn đề đâu. Ông đã đặt chiếc áo choàng trên mình Êlisê và rồi khởi sự ra đi. Êlisê đã chạy vì nếu ông không chạy, chẳng bao lâu nữa Êli sẽ biến mất. Thứ hai, đây là một đáp ứng rất khiêm hạ. Trong khi ông tiếp nhận sự kêu gọi, ông xin Êli cho phép để chào từ biệt bố mẹ mình. Thứ ba, đây là đáp ứng của con người. Ông không muốn biến mất cách thình lình và khiến cho bố mẹ mình phải kinh ngạc không biết ông đi đâu và lý do tại sao. Êlisê đương nhiên là con người của gia đình theo ý nghĩa tốt nhứt của từ “gia đình” đó. Mặc dù ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời giờ đây đưa ông vào một lãnh vực sinh hoạt mới, sự ra đi ấy không phải là không thực hiện được nếu không dành thì giờ để nói lời chia tay. Mục đích ở đây rất rõ ràng. Êlisê không quay lại để xin phép bố mẹ mình đâu. Ông lớn tuổi đủ để đáp ứng bằng ý muốn của mình. Nhưng vì ông là một người con trung thành, ông sẽ không làm cho họ phải chao đảo. Có người nhớ lại trường hợp trở thành môn đồ khi Đấng Christ kêu gọi, đã xin phép quay lại lo chôn cất cha mình (Luca 9:59). Nhưng trong trường hợp đó, người ấy có ý nói: “Xin cho tôi về nhà, ở với cha mình cho tới khi ông ấy qua đời. Khi ông ấy qua đời rồi, tôi sẽ theo Ngài”. Nhưng một lý do như thế ít nhiều gì cũng là một lời cáo lỗi che giấu trong sự hiếu thảo. Người ấy không hề muốn đi theo Chúa Jêsus. Chăm sóc cha mình chỉ là một lời cáo lỗi rất đạo đức đấy thôi. Êlisê không giống như mọi người kia. Ông muốn chào tạm biệt gia đình mình (như ông muốn), và rồi ông sẽ vui vẻ bước theo Êli.
Ở đây chúng ta đối mặt với cái giá cao của việc bước theo Chúa Jêsus. Cách đây không lâu, tôi có gặp một cặp vợ chồng kia, con trai của họ đang hầu việc Chúa ở một vùng thật xa xôi. Anh ấy ở cách xa nước Mỹ và phải cần đến 9 chuyến bay mới đến tận thị trấn xa xôi đó trong rừng rậm ở phía bên kia thế giới. Họ đã từng đến với thị trấn ấy, họ phải sử dụng nhiều phương tiện đường bộ để đến với vợ chồng con trai của họ. Họ đã đi đến “tận cùng đất” đến đem Tin Lành đến với một bộ tộc chưa biết gì về Chúa Jêsus. Họ đã dâng mình vào việc học ngôn ngữ, rồi đến viết lách, biên dịch ra Tân Ước, và một ngày kia học biết rao giảng những Tin Tức Tốt Lành bằng chính ngôn ngữ ấy. Họ đã làm việc nầy vì cớ 500 người thuộc bộ tộc ở đâu đó trong rừng rậm thật xa của địa cầu. Khi chúng tôi trao đổi với bậc phụ huynh nầy, chúng tôi ý thức được niềm vui trang trọng pha trộn với nổi buồn con cái họ ở thật xa, đang sống trong những điều kiện nguyên thủy nhất.
Nhưng điều nầy luôn luôn là một phần giá cao của Sứ Mệnh Cao Cả. Bước theo Chúa Jêsus luôn luôn dẫn tới một thập tự giá, mọi ước mơ của chúng ta đều bị đóng đinh tại đó. Nếu bạn bước theo Ngài, có thể bạn sẽ kết thúc ở Tampa hay Sacramento hoặc Boston hay Singapore. Ai biết được? Bạn sẽ chấm dứt ở một dãy trang trại vùng ngoại ô hay một chung cư đông người ở Bắc Kinh. Thậm chí bạn sẽ kết hôn rồi hướng tới khu rừng nọ. Nhưng có một thập tự giá, luôn luôn là thập tự giá, dành cho những người chịu bước theo Chúa Jêsus. Nếu chúng ta xem trọng Lời của Chúa chúng ta, con trai và con gái chúng ta có thể kết thúc trong việc làm theo những việc gây sốc cho chúng ta và thậm chí làm cho chúng ta giận dữ nữa. Chúa Jêsus phán ở Luca 14:26: “Nếu có ai đến theo ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sự sống mình nữa, thì không được làm môn đồ ta”. Chúa Jêsus không có ý nói rằng theo Ngài sẽ khiến cho chúng ta phải ghét bỏ cha mẹ của chúng ta đâu. Còn hơn thế nữa. Theo Chúa Jêsus sẽ giúp thêm sức cho tình yêu của chúng ta dành cho gia đình của chúng ta. Nhưng nói thế không có nghĩa là theo Chúa Jêsus có một giá gắn vào đó đến nỗi chúng ta không dám xem thường. Trung tín với Đấng Christ có thể khiến chúng ta làm những việc mà những người gần gũi với chúng ta nhiều nhất sẽ không hiểu hay muốn ủng hộ. Có thể họ nghĩ rằng chúng ta thù ghét họ khi mọi sự chúng ta đang làm là bước theo Đấng Christ.
Bậc phụ huynh mà tôi vừa nhắc tới rất nhớ con trai và con dâu của họ và hiếm khi được gặp chúng. Nhưng họ đã dâng con cái họ cho Chúa khi nó chào đời, và họ không hề thối lui trước sự cam kết ấy. Vì vậy, có buồn rầu, vui mừng và niềm tự hào trang trọng trong giọng nói của họ khi họ nói về con cái của mình. Và khi tôi đọc bức thư mà hai người gửi về từ khu rừng đó, tôi nhận ra niềm vui mừng, sự quyết tâm và phấn khởi khi anh và cô dâu trẻ của mình hết ngày nầy sang ngày khác đang sống với người bộ tộc họ không hề tắm vì cớ nổi sợ hãi tà linh nơi đó. Họ ao ước cái ngày họ có thể rao giảng Tin Lành bằng lời lẽ của “bộ tộc họ” có thể hiểu được. Ngày ấy vẫn còn cách mấy năm, nhưng theo thời gian thì ngày ấy càng gần hơn. Nếu bạn hỏi họ việc ấy có đáng để hy sinh không, họ sẽ nói họ chẳng có hy sinh gì hết. Họ chỉ bước theo ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời mà thôi.
Nhiều năm trước đây, chúng tôi thường hát bài có đề tựa là Có sự vui mừng khi hầu việc Chúa Jêsus. Dòng đề tựa ấy thoạt đến với lý trí tôi khi tôi suy gẫm về bạn hữu tôi và con trai cùng con dâu của họ đang ở sâu trong rừng rậm. Bước theo Đấng Christ luôn luôn dẫn tới một sự phân cách đau đớn khỏi những việc trần gian và có khi phân cách máu thịt của chính mình nữa, song có niềm vui mừng bù lại cho giá phải trả đó.
Êlisê rất nhớ gia đình, và họ cũng nhớ đến ông nữa. Không một điều gì còn nguyên y như trước đây nữa. Không bao giờ Êlisê sẽ đứng ở đàng sau đôi bò trong khi họ cày xới đồng ruộng nữa. Để rao giảng Chúa Jêsus, giờ đây Êlisê sẽ cày xới loài người.
III. Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đòi hỏi hành động quyết liệt. “Ê-li-sê bèn lìa khỏi Ê-li trở về, bắt một đôi bò giết đi, và lấy cày làm củi mà nấu thịt nó, rồi cho các tôi tớ mình ăn. Đoạn, người đứng dậy, đi theo Ê-li, và hầu việc người” (câu 21). Bạn không thể ngồi ở lằn ranh mãi được. Êlisê đã có một vài giây đồng hồ để đưa ra một quyết định làm thay đổi đời sống. Ông đã từng đăng ký để trở thành người học việc của Êli, ông phải đốt mấy cây cầu để khi mọi việc trở khó nhọc, ông sẽ không nổ lực quay lại với đời sống cũ của mình.
Đấy là lý do tại sao ông đã giết đôi bò của mình.
Đấy là lý do tại sao ông đã đốt cày của mình.
Và ông cũng không làm việc ấy cách kín giấu đâu. Ông lao vào bữa tiệc đã dọn sẵn rồi mời mọi người ông quen biết. Ông đã nấu thịt bò mình rồi cung ứng thịt ấy cho dân sự. Đây là cách nói của ông: “Đời sống cũ đã qua đi vĩnh viễn rồi. Một ngày mới đã đến với tôi”. Khi tôi đã đánh máy mấy lời nầy, tôi suy nghĩ đến Billy Sunday, là cầu thủ bóng chày nổi tiếng đã trở thành nhà truyền đạo. Câu chuyện của ông có một chỗ đặc biệt trong lòng tôi vì trong hầu hết một thập niên, tôi đã đóng vai của Billy Sunday và tái diễn đời sống của ông bên mộ địa ông tại nghĩa trang Forest Home ở Forest Park, bang Illinois. Đây là một vai trong vở “Tale of Tombstones” được cộng đồng lịch sử địa phương bảo trợ. Tôi đã kể lại câu chuyện nói tới cuộc sống muôn màu của Billy Sunday và sự ông trở lại đạo vào năm 1886 tại Hội truyền giáo Pacific Garden. Khi đích thân Billy thuật lại câu chuyện, ông đứng ngoài một quán rượu cùng với mấy người bạn của mình ở Chicago White Stockings (ngày nay được gọi là Chicago Cubs) khi một “toa xe Tin Lành” từ hội truyền giáo đỗ lại trên đường phố. Bị sự thuyết phục về tội lỗi bắt lấy, ông quay sang mấy người bạn rồi nói: “Nè, tôi đã đến cuối lằn ranh rồi đấy. Tôi đã nếm trải đời sống cũ và tôi đang nhắm vào một hướng đi mới”. Câu nói ấy đánh dấu điểm xoay chiều của đời sống ông. Một vài bữa tối sau đó khi nghe Harry Monroe rao giảng ở hội truyền giáo, ông đã dâng lòng mình cho Đấng Christ. Trong phần còn lại của đời mình, kể cả sự nghiệp truyền giáo đáng kinh ngạc, trong đó đích thân ông đã rao giảng cho 100 triệu người, ông không hề mệt mõi khi đề cập tới cái ngày ông đưa ra quyết định bước theo Chúa Jêsus.
Khi Đức Chúa Trời kêu gọi, bạn phải đưa ra một quyết định. Việc đốt cày nắm lấy ý nghĩa sâu sắc trong ánh sáng lời lẽ của Chúa Jêsus ở Luca 9:62: “Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời”.
Cày một miếng ruộng chẳng có gì là sai cả, nhưng nếu việc cày bừa của bạn ngăn không cho bạn đến với Chúa Jêsus, tốt hơn bạn nên đốt cày đi.
Bất cứ điều chi tốt đẹp có thể trở thành một ngăn trở nếu nó giữ không bạn bước theo Chúa Jêsus.
Êlisê đang nói: “Tôi bước theo ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời và cho dù có việc gì xảy ra, tôi sẽ không quay lại. Đời sống cũ đã qua đi cho đến đời đời rồi. Một ngày mới đã đến cho tôi”.
Cái Khó Nhọc Làm Cho Trận Đấu Ra Hay Đấy Cách đây không lâu lắm, tôi có xem (lần thứ năm hay thứ sáu) phim A League of Their Own, do diễn viên Tom Hanks và Geena Davis đóng. Gần cuối phim, cả đội do Tom Hanks dẫn dắt sắp sửa dự loạt giải Bóng Chày Thế Giới Nữ trong Đệ II Thế Chiến. Geena Davis, cầu thủ bắt bóng chính, đã quyết định về nhà vì chồng của cô đã trở về từ cuộc chiến. Hanks đối diện với cô ấy bằng cách nhắc cho cô ấy nhớ cô yêu bóng chày là dường nào. Cô ấy nói: “Tôi không yêu nó”, Hanks đáp: “Thế chẳng phải là cô đâu, cô yêu nó mà, nó nằm trong máu của cô”. Cô ấy nói: “Tôi không thể thi đấu được”. “Việc ấy khó quá”. Ngay khi ấy, Tom Hanks xây nhẹ người đi, lúc lắc cái đầu rồi nói: “Cô nói đúng. Việc ấy khó lắm. Giả sử là nó khó đi. Cái khó làm cho trận đấu ra hay đấy”. Với câu nói đó, anh cùng với phần còn lại của đội bước lên xe trong khi Geena Davis ra về với chồng mình. Sau đó cô trở lại đúng lúc để dự hiệp thứ 7 và thi đấu trận quyết định.
“Giả sử là nó khó đi. Cái khó làm cho trận đấu ra hay đấy”. Câu nói đó không những đúng cho môn bóng chày. Mà câu nói ấy còn đúng cho đời sống Cơ đốc nữa.
Đời sống ấy khó lắm.
Giả sử là đời sống ấy khó đi.
Cái khó làm cho đời sống ấy ra tốt lành đấy.
Nếu đời sống ấy dễ dàng, bất kỳ ai cũng có thể sống được. Nhưng không phải ai cũng có thể sống đời sống ấy. Không phải ai cũng có thể bước đi trên con đường Đấng Christ.
Cái khó làm cho đời sống ấy ra tốt lành.
Nếu tên của bạn là Êlisê và một vị sơn nhân đến ném chiếc áo choàng lên lưng của bạn, tốt hơn là bên nên bước theo Ngài. Song trước khi bạn đi, phải biết chắc là bạn đã đốt cày để rồi bạn không thể quay lại khi mọi việc trở khó khăn hơn.
Và con đường ấy sẽ lỡm chỡm lắm. Luôn luôn là như vậy.
Sẽ có những ngày nhọc nhằn, những ngày tồi tệ, những ngày buồn rầu, những ngày thất vọng, những ngày khó hiểu, những ngày giận dữ, những ngày thất bại, những ngày nhàm chán, những ngày xáo trộn, những ngày bối rối, và rồi sẽ có một số ngày thực sự xấu xa.
Cái khó làm cho đời sống ấy ra tốt lành.
Martin Luther đã có đôi điều để nói về việc nầy:
Hãy để cho đồ đạt và bà con đi đi, đời sống hay chết nầy cũng vậy; Họ có thể giết thân thể, lẽ thật của Đức Chúa Trời còn đến đời đời. Vương quốc của Ngài còn đến đời đời. Hãy thôi đừng lằm bằm nữa. Hãy thôi đừng rên rĩ nữa. Hãy thôi đừng than phiền nữa. Hãy thôi đừng mơ đến những lúc sung sướng và con đường dễ dàng nữa.
Cái khó làm cho đời sống ấy ra tốt lành.
Và tốt lành thì đẹp đẽ hơn bạn từng ước mơ nữa. Điều đó nằm ngoài thế giới nầy.
Hãy vác lấy thập tự giá của mình lên rồi hãy bước theo Ngài. Việc ấy chẳng dễ dàng gì nhưng không nên xem nó là dễ dàng.
Hãy vác lấy thập tự giá cho dù là thế nào đi nữa. Hãy bước theo Ngài. Hãy đến nơi nào Ngài dẫn dắt. Đấy là một quyết định mà bạn không bao giờ nuối tiếc. Amen.