Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

Giăng 14:6: " Có Phải Chúa Jêsus Thực Sự là Con Đường Duy Nhứt dẫn đến Thiên Đàng không?"

Có Phải Chúa Jêsus Thực Sự là

Con Đường Duy Nhứt

dẫn đến Thiên Đàng không?


Giăng 14:6



Kathleen Parker không phải là một fan hâm mộ của Franklin Graham.
Bà ấy nói rõ trong quyển sách mới đây phê phán nhà truyền đạo nổi tiếng (và là con trai của Mục sư Billy Graham) vì đã nói rằng những người theo đạo Hồi cần được cứu. Sự khẳng định thật dạn dĩ của Ông Graham khiến ông bị thải ra không được làm diễn giả cho buổi thờ phượng Cầu Nguyện Quốc Gia tổ chức tại Ngũ Giác Đài vào đầu tháng 5. Đây là cách mà Bà Kathleen Parker đóng khung thắc mắc:
Lời phát biểu của Graham đã thốt ra niềm tin của ông cho rằng chỉ có Cơ đốc nhân mới có lỗ tai của Đức Chúa Trời, rằng Hồi giáo là độc ác, và đạo Hồi và Ấn giáo không cầu nguyện với cùng một Đức Chúa Trời mà ông đang cầu nguyện.
Graham đã nói trong cuộc phỏng vấn của tờ USA Today: “Không một con voi nào với 100 cánh tay có thể làm gì được tôi”, ông đề cập tới một trong năm vị thần linh chính của Ấn giáo. “Không một thần linh nào trong 9.000 thần linh của họ sẽ dẫn tôi vào sự cứu rỗi. Chúng ta tự làm cho mình dại dột nếu chúng ta nghĩ chúng ta sẽ có một buổi thờ phượng kumbaya thật lớn và mọi người đều nắm tay nhau rồi sẽ khá hơn trong thế gian nầy. Không có việc khá hơn đây”.
Bà chỉ ra rằng quan điểm của Graham: “không ở yên với những người Mỹ thế tục hay thậm chí những Cơ đốc nhân không phải là Tin Lành”, một sự kiện mà tôi không phải nghi ngờ nữa. Tôi cũng dám chắc 100% rằng Franklin Graham biết rõ như thế. Parker nói thẳng thừng rằng “Những người theo đạo dưới 30 tuổi đều tin có nhiều con đường dẫn tới Đức Chúa Trời, chớ không phải chỉ qua Chúa Jêsus thôi đâu”. Bà trưng dẫn một nghiên cứu cho thấy rằng gần 2/3 người theo đạo dưới 35 tuổi tin rằng chẳng có một Cơ đốc nhân nào được lên thiên đàng cả.
Lý lẽ đanh thép ấy đi suốt cho đến gần cuối quyển sách ấy, bà nói rằng “chỉ có một số lời cầu nguyện là lời cầu nguyện đúng đắn sẽ đưa chúng ta đến gần với sự soi sáng mà chúng ta cố ý tìm kiếm”.
Sự soi sáng. Đấy là một cụm từ rất hay, rất lịch sự, rất hiện đại, rất đáng hoan hô. Hết thảy chúng ta đều muốn được soi sáng, có phải không? Cụm từ chỉ ra sự sáng láng của lẽ thật đang vỡ ra trong bóng tối tăm, đang xua đi những mê tín cũ xưa. Và đâu là những điều mê tín xưa cũ đó? Đứng ở giữa chúng nhất định là quan điểm cho rằng chỉ có một con đường duy nhứt dẫn đến Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể tin bất cứ điều gì chẳng còn hợp thời giống như thế nữa.
Đồng thời, Franklin Graham đã không rút lại bất cứ điều gì ông đã nói trước đây. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ Newsweek Web Exclusive (Ngày 5 tháng 5 năm 2010), ông phát biểu như sau:
“Tôi là tôi như vốn có đây. Tôi không tin bạn có thể được nhận vào thiên đàng qua việc trở thành một người theo Phật giáo hay theo Ấn giáo. Tôi nghĩ Muhammad chỉ dẫn tới mồ mả. Bây giờ, đấy là điều tôi tin, và tôi không xin lỗi vì đức tin của tôi. Còn nếu điều đó gây bất hòa, tôi rất lấy làm tiếc”.
Mấy tuần sau đó, sau ngày Cầu nguyện Quốc gia, tôi tham dự cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh với Franklin Graham, ở đó ông buộc phải nhắc lại niềm tin của ông cho rằng Chúa Jêsus là con đường duy nhứt dẫn tới thiên đàng. Ông cũng nói về các biến cố trên thế giới hiện đại theo ánh sáng Sự Đến Lần Thứ Hai của Đấng Christ. Bạn có thể lắng nghe cuộc phỏng vấn trên mạng.
Nhà thần học Al Mohler đã ghi lại một bài viết nhắm vào toàn bộ cuộc trao đổi với đề tựa: Mọi Con Đường Đều Dẫn Tới Thiên Đàng? Trích đoạn nầy cung ứng một hương vị trong phần đáp ứng của ông:
Bài viết của Kathleen Parker quả thực đang mở ra. Nhưng khía cạnh mặc khải nhất trong bình luận của bà là thái độ thù nghịch khư khư của nó nhắm vào bất cứ niềm tin nào cho rằng có một con đường cứu rỗi duy nhứt. . . .Quyển sách của Kathleen Parker viết là một biển chỉ đường khác của kỷ nguyên hiện đại và thế giới quan của giai cấp thế tục. Theo nhận định của họ, những gì người theo đạo tin về Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ đều rất hạn chế và lắm ngăn trở.
Không nghi ngờ chi nữa, Al Mohler đã nói đúng. Sứ điệp nói tới sự cứu rỗi chỉ nhờ vào Đấng Christ chưa hề được phổ cập, nhưng ngày nay người nào nắm giữ nhận định nầy đang đối diện với hình thái phê phán kịch liệt vì dám nói rằng Chúa Jêsus là con đường duy nhứt dẫn tới thiên đàng. Và quả thực như thế, giữa vòng nhiều người trẻ tuổi theo đạo, có một loại ướt át về lẽ đạo nói tới nhận định đặc biệt nầy.
Có phải Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời không? Phải, chẳng có vấn đề gì ở đây.
Có phải Ngài đã chịu chết trên thập tự giá rồi sống lại từ kẻ chết không? Phải, quả thực vậy.
Có phải Ngài là con đường cứu rỗi duy nhứt không? Chúng ta chẳng yên tâm lắm với ý tưởng ấy.
Chúng ta đang sinh sống trong một thế giới co rút lại
Tại sao chúng ta không thoải mái với những lời xưng nhận của đức tin Cơ đốc? Có nhiều lý do lắm, nhưng tôi nghĩ Internet đã thay đổi sân chơi theo một phương thức lớn lao. Cách đây một thế hệ, nếu bạn lớn lên ở Cleveland hay Jacksonville hoặc Spokane, bạn sẽ không bao giờ gặp một người Hồi giáo và bạn sẽ không bao giờ có một cuộc trao đổi với một người theo Ấn giáo. Mạng Internet đã làm thay đổi hết mọi sự ấy. Qua Facebook và Skype và Twitter và tin nhắn có ngay, qua hàng triệu trang web và các nhóm thảo luận trực tuyến, bạn kết thúc trong việc gặp gỡ nhiều người có lai lịch rất khác với lai lịch của bạn.
Được cung ứng cho tính năng động của sinh hoạt hiện đại, đặc biệt ở ở các thành phố lớn, có lẽ bạn có gặp nhiều người đến từ Nhật bản, Ấn độ và Trung hoa đang sinh sống trong vùng phụ cận của bạn. Có một ngày khi chúng ta nói về Ấn độ giáo hay Phật giáo hoặc Hồi giáo theo một tư thế riêng lẽ vì các tôn giáo ấy đã “ở đàng kia kìa”, bên kia đại dương, cách hàng ngàn dặm đường. Giống như Cơ đốc giáo đã chuyển vào những vùng đất xa xôi ấy, cũng một thể ấy các tôn giáo không thân quen nọ đã đến ngay trước ngưỡng cửa chúng ta. Nhất định bạn đang làm việc với nhiều người xuất thân từ các lai lịch và tôn giáo khác nhau. Giống như thế giới đã thu hẹp lại, một số những ngăn trở phân cách chúng ta đã bị triệt hạ.
Thế nhưng hoàn cảnh nầy đặt chúng ta vào một tình huống rất khó xử. Làm sao chúng ta dám tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ là con đường có một và duy nhứt dẫn đến Đức Chúa Trời? Đấy là quan điểm “chẳng có gì sáng sủa” trong thế giới ngày nay. Quan điểm đó đang “ở ngoại biên” của các mối quan hệ. Cơ đốc nhân ở nơi sở làm hay trong các bối cảnh xã hội thường cảm thấy mình luôn ở trong chỗ phải phòng thủ về vấn đề nầy. Không một ai thích mình bị gọi là kẻ làm cho người ta ghét bỏ hoặc kiêu căng hay cố chấp. Chúng ta có thể xem vấn đề nầy chẳng quấy rối chúng ta gì hết, nhưng nó có quấy rối đó.
Chắc chắn là chúng ta đã gặp nhiều người đã nhận ra sự bành trướng của đạo Hồi trong mấy năm gần đây. Tôi nhắc tới bộ mặt đang thay đổi của nước Mỹ vì văn hóa xã hội chúng ta đang lớn lên với hiện đang phôi pha thật nhanh chóng. Chúng ta không có một sự lựa chọn nào cả trừ ra học biết phải tìm hiểu một xứ sở mà ở đó những người láng giềng của mình chạy theo các tôn giáo khác biệt rất lớn so với tôn giáo của chúng ta. Khi nước Mỹ thay đổi, chúng ta đối diện với mối nguy hiểm phải thu nhỏ lại những dị biệt tôn giáo với một loại mẫu số thấp nhứt, tiếp cận “mọi tôn giáo đều bình đẳng”. Nhưng khi bạn nghe người ta nói: “mọi tôn giáo đều bình đẳng”, bạn phải biết chắc về hai việc:
A) Họ không biết họ đang nói tới điều gì, và
B) Họ chưa thực sự nghiên cứu kỹ chính tôn giáo có người kia.
Khi nói: “mọi tôn giáo đều bình đẳng” là nhục mạ những môn đồ chín chắn của từng tôn giáo. Hãy trao đổi với các bạn bè Hồi giáo của bạn trong một lúc xem, thì bạn sẽ khám phá ra các tín điều của họ và các tín điều của chúng ta hoàn toàn khác biệt. Nhưng hãy trao đổi với một Phật tử xem, thì bạn sẽ khám phá ra mọi tín điều của họ rất khác biệt với tín điều của chúng ta và tín điều của đạo Hồi. Cũng thực như thế đối với các môn đồ Do thái giáo, Ấn giáo, và còn nhiều nữa. Thật là dễ nói: “Mọi con đường đều dẫn tới thiên đàng” khi bạn chưa nghiên cứu kỹ tấm bản đồ. Cái điều chúng ta có cần là một bản đồ lộ trình chính xác cho chúng ta biết con đường nào dẫn tới thiên đàng. Hãy tìm con đường đó thì bạn sẽ kết thúc đúng nơi đúng chỗ.
Cách đây mấy năm, Tổng Thư Ký Các Giáo Hội Trên Thế Giới, người ta đến hỏi ông về danh nghĩa vấn đề thần học #1 đang đối diện với Cơ đốc nhân trên khắp thế giới. Câu trả lời của ông thật là rõ rệt: “Tính độc nhất vô nhị của Đấng Christ”. Nếu Chúa Jêsus không độc nhất vô nhị, thì chẳng có Tin Lành gì hết và chúng ta chẳng có Những Tin Tức Tốt Lành nào để rao giảng cho thế gian.
Vì vậy, chúng ta đang đối diện với những thắc mắc về một vài góc cạnh trong sứ điệp nầy:
1) Kinh thánh thực sự nói gì về vấn đề nầy?
2) Chúng ta truyền đạt vấn đề nầy ra sao với tha nhân?
3) Chúng ta sinh sống thế nào trong một thế giới đa nguyên ngày càng tăng?
I. Kinh thánh thực sự nói gì về vấn đề nầy?
Hãy xét qua lời nói của Chúa Jêsus ở Giăng 14:6: “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha”. Nếu lời lẽ có ý nghĩa, thì đây là một lời xưng nhận hoàn toàn độc quyền bởi Chúa chúng ta. Không có Ngài, và tẻ tách ra khỏi Ngài, thì chẳng có một con đường nào dẫn tới Đức Chúa Cha ở trên trời. Nếu bạn quyết định Chúa Jêsus không phải thuộc về bạn, Đức Chúa Trời không có một Phương Án B đâu.
Hãy chú ý câu nói nầy riêng tư là dường nào. Chúng ta không được cứu bởi tôn giáo hay bởi nhà thờ, mà là bởi chính mình Chúa Jêsus. Chúa Jêsus không phán: “Ta biết đường đi” mà đúng hơn: “Ta là đường đi”. Chúa Jêsus không hề cung ứng cho chúng ta một công thức để làm theo đâu. Thay vì thế, Ngài kêu gọi người ta phải theo Ngài một cách riêng tư vì chính mình Ngài là đường đi dẫn tới lẽ thật dẫn tới sự sống với Đức Chúa Cha ở trên trời.
Hãy thêm vào lời lẽ của Phierơ trong Công Vụ các Sứ Đồ 4:12: “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”.
Thế rồi bạn có lời lẽ của Phaolô ở I Côrinhtô 3:11: “Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jêsus Christ”.
Ba câu nầy dường như dứt khoát một cách tuyệt đối.
Không có con đường nào khác.
Không có một danh nào khác.
Không có một cái nền nào khác.
Sau cùng, hãy xem xét I Timôthê 2:5: “Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người". Toàn bộ Tin Lành sôi sụt lên với lẽ thật nầy. Vì tội lỗi của chúng ta đã làm phân cách chúng ta ra khỏi Đức Chúa Trời, chúng ta cần một “Đấng Trung Bảo” để đem chúng ta về với Đức Chúa Trời. Vì “lỗ hỗng tội lỗi” rộng lớn cho đến đời đời, chúng ta cần ai đó đến từ trời, chính mình Ngài là đời đời để bắc nhịp cầu trám lỗ hỗng cho chúng ta. Chúa Jêsus là Đấng duy nhứt có thể bắc nhịp cầu trám lỗ hỗng ấy. Bởi sự chết của Ngài, Ngài đã trả giá cho tội lỗi của chúng ta và trám bít lỗ hỗng làm phân cách chúng ta với Đức Chúa Trời. Bởi sự sống lại của Ngài, Ngài đã chứng minh Ngài là Con của Đức Chúa Trời.
Không một đấng trung bảo nào khác là cần thiết nữa.
Không một đấng trung bảo nào khác là khả thi.
Chỉ có Chúa Jêsus, là Con trọn vẹn của Đức Chúa Trời, mới có thể phó chính mình Ngài vì tội lỗi của chúng ta. Ngài đã làm những điều mà chẳng có một lãnh tụ tôn giáo nào khác có thể làm được. Trong lời lẽ của Mục sư R. C. Sproul:
Môise có thể làm trung gian về luật pháp, Mohammed có thể khua gươm, Thích Ca có thể cung ứng mưu luận riêng, Khỗng Tử có thể đưa ra lời nói khôn ngoan. Song chẳng ai trong số những người nầy đủ tư cách để cung ứng một sự chuộc tội cho tội lỗi của thế gian (Reasons to Believe, p. 44).
Chỉ có Chúa Jêsus mới có thể phó chính mình Ngài làm của lễ thiêng liêng vì tội lỗi chúng ta hầu cho chúng ta sẽ được cứu. “Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta" (I Giăng 4:10).
Chúng ta có thể thêm vào hàng tá câu nói vào danh sách nầy. Đức Chúa Trời của Kinh thánh là một Đức Chúa Trời độc nhất vô nhị. Ngài chẳng có một ai tranh cạnh hết. Ngài là Đức Chúa Trời chơn thật hằng sống và không ai giống như Ngài trong cõi vũ trụ. Ngài sẽ không chia sẻ sự vinh hiển của Ngài với bất kỳ một hữu thể nào được dựng lên. Chỉ một mình Ngài xứng đáng với sự thờ phượng và sự ngợi khen của chúng ta. Và khi Con Ngài công bố: “Chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha”, Ngài nhất quyết như thế.
Vấn đề không phải là tình cảm hay sự ưa thích của chúng ta. Vấn đề là lẽ thật. Sự thành thực trong các vấn đề tôn giáo không bao giờ là đủ. Chúng ta không hồ nghi sự chơn thật của những người theo đạo Hồi hay Ấn giáo. Chúng ta thán phục trước sự cung hiến của họ cho mọi điều họ tin theo. Nhưng sự chơn thật chỉ là vấn đề khi nó được áp dụng cho đối tượng thích ứng. Bạn có thể sai lầm cách chơn thật và bạn vẫn sẽ là sai lầm. Bạn có thể uống thuốc chuột cách chơn thật và bạn sẽ thành thực chết đi. Tin vài thứ sai lầm không làm cho nó ra đúng được. Mọi sự thực đều hạn hẹp lắm. Cách đây nhiều năm, hết thảy chúng ta đều học biết 2 + 2 = 4. Nó không bằng 5 hay 3, bất luận bạn có thành thực đến dường nào.
II. Chúng ta truyền đạt điều nầy cho tha nhân như thế nào?
Vấn đề không phải với những gì chúng ta tin hay điều chi Kinh thánh dạy. Cơ đốc nhân luôn luôn tin rằng Chúa Jêsus là con đường duy nhứt dẫn tới thiên đàng. Chúng ta không luôn bày tỏ ra điều đó với tính thuyết phục tương xứng, mà chính bản thân sự dạy không có gì mới mẻ. Khi thế giới của chúng ta càng thu hẹp lại và chúng ta rùng vai với hạng người có lai lịch tôn giáo khác, làm sao chúng ta giải thích những gì chúng ta tin theo với một phương thức họ cần phải hiểu? Câu trả lời cơ bản nhất là, đừng sợ. Thường thì quá sợ hãi khiến chúng ta cứ lo phòng thủ về đức tin của chúng ta.
Đừng sợ có ai đó không chia sẻ nhận định của bạn.
Đừng sợ về bạn cùng làm việc với bạn là người Hồi giáo hay Ấn giáo.
Đừng sợ phải tranh luận với một sinh viên nào đó chẳng theo một tôn giáo nào cả.
Có quá nhiều Cơ đốc nhân rập khuôn khít khao với việc sống bằng môi miệng mà không có cái lỗ tai nào hết. Chúng ta nói năng nhưng chúng ta không lắng nghe. Hay chúng ta lắng nghe chỉ để cáo lỗi không nói chuyện với ai đó nữa. Ấy chẳng phải là tội lỗi khi để cho ai đó giải thích họ quan sát thế giới như thế nào!?! Lắng nghe ai đó giải thích cách thực hành tôn giáo của họ không phải là tội lỗi đâu. Thực vậy, khi tỏ ra sở thích đôi chút về lai lịch của người khác thì đấy là phần lịch sự tối thiểu thôi. Bạn làm quen với ai đó như thế nào nếu bạn không trước tiên nhận biết họ chứ?
Hãy khép miệng lại, hãy mở tai ra, chăm chú lắng nghe, và để cho Đức Chúa Trời hướng dẫn cuộc trao đổi. Hãy cầu nguyện khi bạn lắng nghe. Nhưng không những vì “cánh cửa rộng mở” để bạn có thể chia sẻ Đấng Christ. Hãy lắng nghe và tiếp thu. Hãy đưa ra những câu hỏi. Hãy tìm kiếm tri thức. Hãy tìm kiếm đâu là cái nền chung một khi bạn có thể. Bạn không phải thỏa hiệp Cơ đốc giáo của bạn bằng cách tỏ ra sự tử tế với các môn đồ của tôn giáo kia. Hãy thưởng thức mối quan hệ bạn bè với một người không phải là Cơ đốc nhân vì cớ riêng của nó. Hãy tỏ chính mình bạn ra thật thân hữu và Đức Chúa Trời sẽ mở ra những cánh cửa cho bạn trong khi bạn không bao giờ mở cánh cửa riêng của mình được.
III. Chúng ta sống trong một thế giới đa nguyên ngày càng tăng như thế nào?
Không có việc vặn lại chiếc đồng hồ đến với “ngày xưa hoàng thị” khi thế giới vẫn còn “ở đàng kia” ở mé bên kia của đại dương. Thành thực mà nói, tôi thích cách nầy hơn. Tôi thích sống trong chỗ náo động không báo trước về một thế giới mà ở đó cả ngàn quan điểm khác nhau xô đẩy nhau để có được một chỗ bên cái bàn.
Chúng ta không phải suy nghĩ về sự thách thức chia sẻ Đấng Christ trong một thế giới đa nguyên. Đây là ba đề nghị về chỗ phải bắt đầu:
A. Đặt mình trong Lời của Đức Chúa Trời.
Phải biết chắc bạn biết rõ những điều bạn đang tin theo. Đừng chỉ đọc Kinh thánh suông. Hãy nghiên cứu. Hãy học hỏi. Hãy học thuộc lòng. Hãy tìm xem Kinh thánh dạy điều gì. Hãy tiếp thu những lẽ đạo của đức tin chúng ta. Hãy để cho Lời của Đức Chúa Trời trở thành cái nền chắc chắn cho chính đời sống của bạn và cũng cho gia đình bạn nữa. Hãy mua một quyển Kinh thánh để nghiên cứu và rồi sử dụng nó! Hãy làm theo những gì I Phierơ 3:15 chép và phải sẵn sàng để đưa ra một câu trả lời cho những gì bạn đang tin và lý do tại sao bạn tin. Hãy đọc một số sách hay nói về lẽ đạo Kinh thánh như The Good News We Almost Forgot (Những Tin Tức Tốt Lành Mà Hầu Hết Chúng Ta Đều Quên), Grounded in the Gospel (Lập Nền Trên Đạo Tin Lành), Basic Christianity (Cơ đốc Giáo Cơ Bản),Know What You Believe (Nhận Biết Những Điều Bạn Đang Tin). Bạn cũng phải muốn kiểm tra quyển Cương Lĩnh của tôi nữa: Credo: (Tin Vào Điều Mà Mình Dám Chịu Chết Cho).
B. Phải dạn dĩ về đức tin của bạn với một nụ cười trên gương mặt.
Phần nhiều người trong chúng ta thất bại ngay ở điểm nầy. Chúng ta tỏ ra giận dữ và bối rối khi có ai đó bất đồng với chúng ta và sự vui vẻ của Chúa bị thay thế bằng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trên gương mặt của bạn. Không có gì phải ngạc nhiên, có người không muốn trò chuyện với chúng ta. Nếu chúng ta nói nhiều giống như Jonathan Edwards, ông giảng “tội nhân ở trong tay của một Đức Chúa Trời hay giận dữ” (một bài giảng rất hay), chúng ta không lấy làm lạ vì chúng ta đã làm cho một số người lo sợ và phần còn lại thì giận dữ.
Nếu người ta nổi giận, nguyện cơn giận ấy là vì cớ lẽ thật mà chúng ta rao báo, chớ không phải vì lời lẽ giận dữ của chúng ta.
Nếu họ từ chối chúng ta, nguyện sự từ chối đó không phải vì chúng ta cư xử bất lịch sự với họ.
Nếu hạng tội nhân chối bỏ Đấng Christ, nguyện sự chối bỏ đó là vì họ thực sự chối bỏ Ngài, chớ không phải vì chúng ta không giữ được tánh khí của mình.
Hãy nhớ rằng "Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận; Còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm" (Châm ngôn 15:1). Bạn không thể tranh luận với một người về Vương quốc của Đức Chúa Trời. Và bạn không thể sỉ nhục họ khi muốn họ tin theo Chúa Jêsus. Nếu bạn thực sự nổi giận, bạn sẽ khám phá ra việc thề thốt nơi hạng người hư mất sẽ khiến cho họ không muốn “chạy đến bên thập tự giá”. Sự cứu rỗi là một phép lạ của Đức Chúa Trời đang chiếm chỗ trong tấm lòng của con người. Chỉ có Đức Thánh Linh mới có thể làm biến đổi linh hồn. Ấy chẳng phải những sự tranh luận của chúng ta mà kiếm được kẻ bị mất đâu. Trừ phi Đức Giêhôva hành động luôn trên tấm lòng, lời nói của chúng ta sẽ chẳng tạo ra sự khác biệt nào.
Vì vậy, chúng ta phải dịu dàng, mềm mại dưới áp lực và tử tế dù khi bị đẩy tới giới hạn. Chúng ta phải nhịn nhục đối với những ai chống đối chúng ta và chúng ta phải, với sự mềm mại, nói cho họ biết lẽ thật. Nếu chúng ta đánh mất đi nhuệ khí của mình, có thể chúng ta thắng trận đánh bằng môi miệng, nhưng chúng ta sẽ không đem họ về được với Đấng Christ.
Hãy nói ra sự thực mà không cảm thấy bạn đã áp lực người khác đến chỗ nhất trí với bạn. Nếu bạn có thể nói ra lẽ thật với một nụ cười và với sự vui vẻ của Đức Giêhôva, như thế thì hay hơn. Và nếu mở miệng cười dường như là khó, ít nhất đừng để mất đi sự điềm tỉnh của bạn. Lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chơn thật luôn luôn là điều luật tốt nhứt.
C. Hãy nhận biết rằng có một sự khao khát thuộc linh mãnh liệt lắm trong thế hệ của chúng ta.
Đấy là lý do tại sao Hồi giáo đang trên đà dấy lên ở nước Mỹ. Đấy là lý do tại sao người ta hướng vào những pháp sư Kỷ Nguyên Mới. Đấy là lý do tại sao các tôn giáo Đông phương lôi cuốn thật nhiều người. Sự đa dạng tôn giáo không thể tin được đang xác nhận nỗi khao khát ở trong từng tấm lòng. Chúng ta được dựng nên để nhìn biết Đức Chúa Trời, và nếu chúng ta không làm đầy dẫy “khoảng trống Đức Chúa Trời dựng nên” với lẽ thật, chúng ta sẽ làm đầy dẫy nó với bất cứ thứ chi thay thế mà chúng ta có thể tìm gặp.
Tôi nghĩ chúng ta đang sống trong những ngày trọng đại nhất của lịch sử con người. Có thể lắm chúng ta là thế hệ sau cùng trước khi Đấng Christ tái lâm. Điều đó sẽ giải thích lý do tại sao Satan đã thực hiện một nổ lực mạnh mẽ để cho mọi lời dối trá của hắn được lan rộng. Nhưng ở đâu tội lỗi dư dật, ân điển càng dư dật hơn. Chính sự thực cho thấy rằng chúng ta đang sống trong sự tối tăm thuộc linh và khi sự sáng đà soi sáng, thực sự sự sáng đang soi sáng. Chúng ta đừng để rơi vào chỗ ngã lòng bởi sự khó khăn của công việc. Thay vì thế, chúng ta phải được khích lệ bởi những cơ hội của thì giờ nầy. Có hai việc chúng ta không nên làm:
1) Nổ lực ép uổng hay đe dọa hoặc hăm he khiến cho người ta trở lại đạo.
2) Đứng bên cạnh mà không nói ra những điều chúng ta thực sự tin theo.
Nếu Chúa Jêsus thực sự là con đường duy nhứt, việc không tử tế sẽ giữ con đường ấy cho chính mình.
Nếu Chúa Jêsus thực sự là con đường duy nhứt, việc đáng yêu mến nhất là phải chia sẻ con đường ấy với nhiều người khác.
Chúng ta hãy giả sử rằng bạn và tôi đang đứng cách rìa một vực sâu 50 feet. Nếu bạn ngã xuống, bạn sẽ rơi 1800 feet xuống đụng vào những hòn đá lỡm chỡm dưới hẽm núi kia. Chẳng có một hàng rào nào canh giữ cho bạn khỏi ngã hết. Khi chúng ta đứng đó trò chuyện, chúng ta nhìn thấy một cụ già đang đi chậm rãi hướng về mép núi. Khi ông cụ đến gần rìa ấy, chúng ta nhận ra rằng ông bị mù và chẳng biết gì về mối nguy hiểm mà ông cụ sắp rơi vào. Thình lình ông cụ kêu lên: “Tôi sẽ đi đường nào?” bạn sẽ nghĩ sao nếu tôi hô lên: “Có gì đâu, cụ cứ đi đường nào cụ thích"? Có phải là tôi cẩu thả ác ý khi ông cụ rơi xuống sự chết của ông ấy không? Nếu tôi quan tâm đến ông cụ đó, tôi sẽ la lên: “Đừng đi thêm bước nào nữa hết. Tôi sẽ đến rồi dẫn ông cụ đi”. Và khi ấy, tôi sẽ đến nắm tay ông và dẫn ông đi thật an toàn. Tình yêu thương buộc tôi phải nói ra lẽ chơn thật và phải làm những gì tôi có thể đặng cứu lấy sự sống của ông cụ.
Tấm lòng của Đức Chúa Trời rất rộng rãi ... con đường sự sống thì eo hẹp. Cả hai đều là sự thực.
Có nhiều tôn giáo, và nhiều việc lành cần phải học hỏi từ các tôn giáo trên thế gian, nhưng chỉ có một con đường duy nhứt dẫn tới Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus là con đường đó.
Sau đây là năm từ sẽ đưa bạn đi suốt con đường đến thiên đàng. Nếu bạn hiểu rõ năm từ ấy nói điều gì, bạn có thể qua cõi đời đời trên thiên đàng với Chúa. Và năm từ nầy chứa đủ lẽ thật để cứu cả thế gian.
Only Jesus and Jesus only (chỉ có Chúa Jêsus và chỉ có Chúa Jêsus mà thôi).
Tôi khích lệ bạn nên thốt ra những từ ấy thật lớn tiếng ngay bây giờ:
Only Jesus and Jesus only (chỉ có Chúa Jêsus và chỉ có Chúa Jêsus mà thôi).
Nếu bạn muốn tìm đường dẫn đến nhà của Đức Chúa Cha, bạn phải đi con đường mà Chúa Jêsus đã đề ra cho bạn. Các con đường khác có thể trông hấp dẫn lắm. Dường như chúng ngắn hơn song chỉ có một con đường duy nhứt dẫn tới chỗ mà bạn muốn tới mà thôi. Chúa Jêsus là con đường duy nhứt dẫn tới thiên đàng. Nguyện Đức Chúa Trời giúp bạn biết đặt lòng tin cậy của bạn nơi Ngài.

Giăng 6:60-71: " KHÔNG PHẢI MỌI NGƯỜI ĐỀU LUI ĐI ĐÂU"

Giăng 6:60-71




KHÔNG PHẢI MỌI NGƯỜI ĐỀU LUI ĐI ĐÂU




Phần giới thiệu: Từng chức vụ phải đối diện với những thời điểm khó khăn. Đấy chỉ là một sự ban cho! Có những lúc khi mọi việc lên cao và có nhiều khi mọi việc trầm hẳn xuống. Trong suốt những thời điểm đó, có một vài chức vụ mà cấp lãnh đạo đang nắm lấy, họ có thể nhìn thấy chức vụ mất đi những người ủng hộ. Thực vậy, người nào được kêu gọi vào các địa vị lãnh đạo trong nhà thờ và các chức vụ Cơ đốc khác đang làm mọi sự họ có thể để bảo đảm sự thành công và sự tấn tới liên tục của chức vụ.
Trong Giăng chương 6, Chúa Jêsus dường như đang làm mọi sự Ngài có thể để lèo lái nhiều người như Ngài có thể để đẩy họ ra khỏi chức vụ của Ngài. Rõ ràng, Ngài không đọc một số sách báo mà chúng ta đã đọc về đề tài lãnh đạo và thành công trong chức vụ. Tôi muốn nói, chúng ta luôn luôn cố gắng tìm kiếm một chiến dịch “mở rộng” thật thành công, ở đây, Chúa Jêsus đang điều hành một chiến dịch "thu nhỏ” thật thành công! Khi Giăng chương 6 mở ra, Chúa Jêsus đã có hơn 5.000 người đi theo Ngài và lắng nghe Ngài phán dạy. Khi chương nầy kết thúc, Ngài chỉ có 12 người ở với Ngài và một trong số họ thậm chí chưa được cứu nữa là.
Nếu Chúa Jêsus đang làm bất cứ điều chi trong mấy câu nầy, Ngài đang đưa ra một lời kêu gọi phải đầu phục. Ngài biết có nhiều người trong vòng những kẻ đi theo Ngài chỉ vì những gì họ muốn đạt được cho xác thịt của họ mà thôi. Chúa Jêsus đưa ra sự thách thức rồi kêu gọi từng người trong số những người đi theo Ngài phải đầu phục Ngài và chỉ một mình Ngài mà thôi. Sự kêu gọi phải đầu phục của Ngài có kết quả gấp bằng hai. Thứ nhứt, nó làm cho sự kêu gọi, sứ mệnh của Ngài thật sáng tỏ đối với người nào chịu theo Ngài. Thứ hai, nó luyện lọc hàng ngũ các môn đồ Ngài, loại bỏ thật hiệu quả hầu hết những ai không chơn thật trong đức tin hay trong sự đầu phục của họ.
Phân đoạn Kinh thánh gốc của chúng ta chỉ ra Chúa Jêsus trình bày rõ ràng sự thực về chính mình Ngài và chức vụ của Ngài. Ở đây, chúng ta được phép nhìn thấy hàng ngàn người xây lưng họ lại với Ngài rồi lui đi. Sau khi đám đông rời đi, câu 66, Chúa Jêsus ngay lập tức xây sang 12 môn đồ của Ngài ở câu 67, và cũng yêu cầu họ đưa ra sự cam kết riêng tư nữa. Một người có thể nghe thấy tấm lòng Ngài tan vỡ khi Ngài hỏi họ: "Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng?"
Hỡi quí bạn, chúng ta đang sống trong thì giờ khi có nhiều người lui đi khỏi những vụ việc của Chúa. Điều nầy sẽ không làm cho chúng ta phải ngạc nhiên vì đấy chính xác là những gì Kinh thánh phán sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng sẽ có "sự bỏ đạo", II Têsalônica 2:3. Kinh thánh cũng cho chúng ta biết rằng trong kỳ tận thế, người ta sẽ "bề ngoài giữ điều nhân đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhân đức đó", II Timôthê 3:5. Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn thấy sự việc ấy đang xảy ra ở chung quanh chúng ta, chúng ta lấy làm ngạc nhiên. Chúng ta bị sốc!
Tôi nghĩ những câu Kinh thánh chúng ta đã đọc sáng nay tỏa ra chút ánh sáng trên vấn đề nầy. Có một số sự thông sáng trong phân đoạn nầy cũng như lý do tại sao người ta đưa ra quyết định liên quan tới sự họ ăn ở với Chúa. Xin cho phép tôi chia sẻ một vài vấn đề với bạn khi chúng ta xem xét tư tưởng: Không Phải Ai Cũng Lui Đi Đâu.
I. KHÔNG PHẢI AI CŨNG CÓ THỂ NẮM VỮNG LẼ THẬT (các câu 60-66)
(Minh họa: Sự thực của vấn đề, ấy là trong khi chẳng phải ai cũng lui đi khỏi Chúa, có người lui đi rồi. Tại sao phải như thế? Nếu chúng ta lấy phân đoạn nầy làm câu trả lời cho câu hỏi đó, thì rõ ràng là Không Phải Ai Cũng Lui Đi Đâu).
A. Khi chương nầy mở ra, thì rõ ràng rằng nghi ngờ, và thù nghịch càng leo thang chống lại Chúa Jêsus. Hạng người nầy họ muốn lập Ngài làm vua sau khi Ngài cho họ ăn, câu 15, chẳng muốn làm chi khác hơn là sống với Ngài sau khi họ nghe sứ điệp của Ngài, các câu 26-65.
B. Tại sao lại có sự thay đổi? Chúa Jêsus đã nói cho họ biết sự thực và họ không thể nắm được lẽ thật đó! Hãy chú ý mọi lời xưng nhận của Ngài:
1. Là Con Đường Cứu Rỗi - câu 29
2. Là Con của Đức Chúa Trời - câu 32
3. Rằng Ngài là siêu đẳng hơn Môise và bánh mana – các câu 35; 49-58
4. Rằng sự cứu rỗi chỉ là một vấn đề của chỉ đức tin mà thôi – các câu 35-40; 63
5. Rằng ở ngoài sự can thiệp của Đức Chúa Trời, họ không thể tin theo được – các câu 44; 65
C. Khi lẽ thật được tỏ ra cùng chúng ta, chỉ có hai phản ứng khả thi với vấn đề đó: Lẽ thật ấy đáng được nhận lấy, hay người ta sẽ chối bỏ nó. Người ta nhận lấy lẽ thật khi họ nhìn thấy lẽ thật ấy như nó vốn có vậy: Sự Thực! Người ta chối bỏ lẽ thật vì nhiều lý do. Sau đây là một vài lý do:
1. Có người hiểu lầm nó – Nicôđem nghĩ Chúa Jêsus đang nói tới sự đầu thai, khi Ngài thực sự nói tới sự tái sanh. Người đàn bà bên giếng nghĩ Chúa Jêsus đang nói tới việc thăm dò, khi Ngài thực sự đang nói tới chính mình Ngài, là Nước Hằng Sống. Người bên ao Bêtếtđa nghĩ Chúa Jêsus đang nói tới một sứ mệnh giải cứu, khi Ngài thực sự đang nói tới việc đặt đức tin nơi Chúa Jêsus. Khuynh hướng nầy đang tiếp diễn hôm nay! Đấy là lý do tại sao đi nhà thờ và chịu báptêm mà chưa từng được cứu. Đấy là lý do tại sao Lời của Đức Chúa Trời làm mất lòng nhiều người. Họ hiểu lầm lẽ thật và, kết quả là, họ chối bỏ nó.
2. Có người chống đối nó – Khi Chúa Jêsus bày tỏ ra chính mình Ngài và mọi đòi hỏi của Ngài trong phân đoạn nầy, người Do thái đã ở trong sự chống đối thường xuyên và ngày càng tăng, các câu 41-42; 52; 60. Người Do thái không chịu chấp nhận Thần Tánh, sự chết sắp tới đây của Ngài hay mọi lời xưng nhận về địa vị Chủ Tể của Ngài. Họ chống đối Ngài ở từng chặng đường! Cũng một thể ấy hôm nay, nhiều người đã chống đối với những lẽ thật trong Kinh thánh và mọi lời xưng nhận của Đức Chúa Jêsus Christ. Lời kêu gọi phải đầu phục đi ngược lại với sự ao ước của họ phải sống cho bản ngã, và kết quả là, họ thấy chính mình họ đang ở trong sự chống đối với Chúa. Hỡi quí bạn, những lời xưng nhận của Tin Lành, thập tự giá và huyết của Chúa Jêsus đã được dự kiến phải gây mất lòng!
3. Có người mù lòa đối với nó – Đồng thời qua phân đoạn Kinh thánh nầy, người Do thái có sự tiếp cận nầy với Chúa Jêsus: "Hãy cho chúng ta thấy thì chúng ta sẽ tin theo". Họ đã nhìn thấy rồi Ngài cho 5.000 người ăn với năm cái bánh và hai con cá, các câu 5-13. Họ đã ngờ ngợ rồi rằng Ngài không cứ cách gì đó, qua phép lạ, đã băng qua hồ, các câu 22-25, tuy nhiên họ lại mù lòa trước việc Ngài là ai và những gì Ngài đã làm. Khi Ngài đưa ra những lời xưng nhận và lời kêu gọi phải đầu phục, họ lại không có khả năng nhìn thấy lẽ thật vì cớ họ đã bị mù! Sự thực đáng buồn của vấn đề là đây: mọi người đều mù lòa trước sự thực cho tới chừng mắt của họ được mở ra cách siêu nhiên bởi sự can thiệp của Đức Chúa Trời, II Côrinhtô 4:4; Giăng 6:44; 65. Đấy là lý do tại sao có nhiều người chối bỏ lẽ thật và vòng tay ôm lấy sự dối trá, họ chỉ mù lòa đối với lẽ thật mà thôi!
4. Có người muốn kinh nghiệm song không muốn chờ đợi – Hạng người nầy đang chạy theo Chúa Jêsus vì Ngài đã làm thỏa mãn khẩu vị tươi mới của họ, các câu 1-15. Họ còn muốn nhiều hơn thế, câu 34. Thực vậy, họ muốn Chúa Jêsus phải chứng minh rằng Ngài cao cả hơn Môise, các câu 22-31. Họ đang tìm kiếm điều chi đó làm thỏa mãn xác thịt họ và làm cho họ thấy bản thân họ là tốt lành. Họ muốn một kinh nghiệm! Họ muốn chạy theo nhà vua kia. Họ muốn các phép lạ và cái gì đó thật giật gân. Nhưng, khi Chúa Jêsus bắt đầu nói tới những điều Ngài trông mong và phát ra sự kêu gọi phải đầu phục, họ xây đi khỏi Ngài và lui đi. Tại sao chứ? Họ muốn được cưu mang trong nổi phấn khích mà chẳng có sự đầu phục nào hết.
Cũng chính cái đầu óc ấy đã phát triển trong Hội thánh! Có nhiều người ngày nay muốn có một kinh nghiệm tôn giáo, song không cần phải trông đợi. Họ muốn hầu việc Đức Chúa Trời vì những gì họ có thể nhận lãnh từ sự phục vụ ấy, mà chẳng có một sự quan tâm nào về sự vinh hiển hay ý chỉ của Ngài. Họ muốn sự giải trí và phấn khích mà không có sự đầu phục kèm theo với lời công bố của lẽ thật. Các nhà thờ nào đang tấn tới nhanh nhất ngày nay là những nhà thờ đang thu nhỏ lại giáo lý của Kinh thánh, những đòi hỏi của đức tin và nhấn mạnh sự giải trí và kinh nghiệm. Mọi sự bạn có cần để thành công hôm nay trong vai trò một nhà thờ là một nhóm đương thời, một sứ điệp chẳng thách thức đời sống của một ai hết, một chương trình thanh niên sẽ giữ hộ các trẻ em trong khi bố mẹ tạm lắng đi để lim dim ngủ với một tôn giáo "cảm nhận rờ đụng được" hay tránh né lẽ thật! (Lưu ý: Người nào xây đi khỏi những vụ việc của Đức Chúa Trời đều sống ích kỷ! Họ chỉ quan tâm đến bản thân họ và những gì họ cảm nhận. Hãy tưởng tượng các môn đồ đã cảm nhận ra sao khi đám dân đông lui đi. Người nào rời đi luôn luôn bị ảnh hưởng bởi những kẻ đã chọn lui đi).
D. Không phải ai cũng có thể nắm vững được lẽ thật! Có khi, lẽ thật rất hắc búa! Có khi lẽ thật đưa ra nhiều đòi hỏi trên đời sống của chúng ta. Có khi lẽ thật rất nặng nề và dường không không có cảm xúc. Thế nhưng, lẽ thật luôn luôn là chơn thật! Lẽ thật luôn luôn đúng và luôn luôn trọn vẹn. Không phải ai cũng có thể nắm vững được lẽ thật! Còn bạn thì sao?
II. MỌI NGƯỜI ĐANG SỐNG TRONG NGÔI NHÀ KÍNH (các câu 64, 70)
(Minh họa: Có sự thông sáng khác trong phân đoạn nầy cần phải được nhắc tới ở đây: Mọi Người Đang Sống Trong Ngôi Nhà Kính. Nói một cách đơn giản, bất chấp chúng ta suy nghĩ như thế nào, chúng ta chẳng trốn đâu khỏi được cái nhìn của Chúa, Hêbơrơ 4:13).
A. Trong phân đoạn nầy, chúng ta nhìn thấy sự thật tại sao đám dân đông đang chạy theo Ngài, các câu 26-27, 64. Ngài cũng biết rõ những kín nhiệm sâu sắc nhất trong tấm lòng của những kẻ tỏ ra họ phục theo Ngài, các câu 64, 70-71.
B. Khi Chúa nhìn vào đời sống của bạn, Ngài nhìn thấy điều gì? Có phải Ngài nhìn thấy sự đầu phục và đức tin tuyệt đối không? Hay, có phải Ngài nhìn thấy một đời sống mong muốn những kinh nghiệm mà không có sự đầu phục không? Lẽ thật khó nghe, ấy là Ngài nhìn thấy bạn và tôi y như chúng ta hiện có đây! Ngài nhìn thấy chúng ta trong những phương thức mà chúng ta thậm chí không thể nhìn thấy bản thân mình! Không một điều gì và không có ai ẩn nấp đâu khỏi cái liếc nhìn thấu suốt của Ngài hôm nay! Không phải Xachê trên cái cây kia, không phải Phierơ bên ngọn lửa của người Lamã; thậm chí không phải tấm lòng của người Pharisi giả hình, ngay cả không phải Giuđa Íchcariốt, là người được kể số là 12. (Minh họa: Ngay cả Giuđa đã dối gạt 11 môn đồ khác! Họ không biết ông ta là đồ giả mạo!)
C. Quí bạn tôi ơi, bạn và tôi đang sống trong ngôi nhà kính sáng nay! Tôi không thể nhìn thấu trong tấm lòng của bạn và bạn không thể nhìn thấu được tấm lòng của tôi, nhưng Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta y như chúng ta vốn có thực vậy. Ngài nhìn thấy điều gì khi Ngài nhìn xem chúng ta? Quí bạn ơi, chúng ta có thể dối gạt nhau, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ gạt được Đức Chúa Trời! Ngài biết bạn đang đứng đâu về mặt thuộc linh sáng nay. Sẽ chẳng có một sự khích lệ nào tốt hơn cho chúng ta khi nhìn kỹ vào tấm lòng của chúng ta.
D. Mới đây, tôi có một sự trao đổi với người kia, ông ta đang nổ lực che giấu sự thiếu đầu phục của mình ở đàng sau màn hỏa mù những lời cáo lỗi. Điểm mấu chốt là đây: hãy nói ra những điều bạn muốn, nhưng có một số người họ không muốn hầu việc Chúa. Họ không muốn phục theo ý chỉ hay công việc của Ngài, nhưng đồng thời, họ muốn những lợi ích mà họ có thể rút tỉa được từ việc ở trong nhà thờ và sống quanh dân sự của Đức Chúa Trời. Hạng người nầy có thể lừa dối chúng ta, nhưng họ sẽ không bao giờ lừa dối Chúa được! Ngài nhìn thấu mọi lời bào chữa của họ và màn hỏa mù những lời dối trá mà họ ra sức che giấu ở đàng sau. Ngài biết mọi lời dối trá nào ở trong tấm lòng của họ và sẽ buộc họ phải trình sổ về mọi sự dối trá đó!
III. ĐỨC TIN CHÂN CHÍNH KHÔNG THỂ LUI ĐI (các câu 67-69)
A. Khi Chúa Jêsus hỏi các môn đồ không biết họ có lui đi khỏi Ngài hay không, Phierơ trả lời thay cho cả nhóm. Ông tỏ ra toàn bộ sự đầu phục và nói ra sự thực rằng họ biết Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời và là con đường dẫn tới sự sống đời đời. Phierơ đã thực hiện một bước mà nhiều người trong thời của ông đã không thực hiện được, hay không thể thực hiện được. Phierơ đã thực hiện sự kết nối cần thiết giữa lời lẽ của Chúa Jêsus và chính mình Chúa Jêsus. Tiếp nhận Đấng Christ và tiếp nhận Lời của Ngài. Tiếp nhận Lời của Ngài là tiếp nhận Ngài! Hai điều đó luôn luôn gắn liền với nhau! Vì Phierơ đã đặt đức tin của ông nơi Chúa Jêsus và nơi Lời của Ngài, Phierơ được lập làm người dự phần của hai cơ nghiệp quan trọng. Hai cơ nghiệp nầy cho phép Phierơ đưa ra sự đầu phục tuyệt đối cuộc đời của ông đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Hai cơ nghiệp đó là:
1. Đức tin - ("chúng tôi tin ") Một sự tin tưởng ở trong lòng Chúa Jêsus là Đấng mà Ngài đã xưng nhận.
2. Kinh nghiệm - ("và biết rằng") Một đời sống được thay đổi, một tấm lòng trọn vẹn, một sự ao ước và hướng đi mới trong cuộc sống, mọi sự đều có sức thuyết phục mạnh mẽ không thể bỏ qua được.
B. Phierơ biết rõ đời sống mình thể nào đã được thay đổi và điều nầy là đủ để tin cậy với thể trạng của mình đến nỗi ông sẽ không lui đi! Ồ, rồi sẽ có lúc yếu đuối trong đời sống của Phierơ khi ông làm buồn lòng Chúa. Ông đã xây lưng mình lại với Chúa Jêsus trong một lúc, nhưng ông không lui đi cho đến đời đời! Một trong những định nghĩa hay nhất mà tôi từng được nghe về một Cơ đốc nhân thực sự như thế nào là đây: "Họ là hạng người không thể lui đi!"
C. Một khi bạn từng cảm thấy cái chạm đầy năng quyền của Đức Chúa Trời Toàn Năng, bạn từng bước đi trong ánh sáng của vinh hiển Ngài, bạn từng nếm trải sự nhơn từ của Ngài và đã kinh nghiệm điều tốt nhứt của Ngài, bạn sẽ không bao giờ thấy thỏa lòng với những cái gì có tính thay thế và bắt chước! Có thể bạn muốn phiêu bạt một thời gian, nhưng bạn, giống như người con trai hoang đàng sẽ "giác ngộ". Bạn sẽ nhớ điều gì có trong nhà Cha và bạn sẽ về nhà thôi! Khi bạn trở về, Ngài sẽ tiếp nhận bạn với vòng tay rộng mở và sự phục hồi trọn vẹn.
D. Chúng ta nghĩ gì về những kẻ lui đi khỏi lẽ thật? Nghĩ gì về hạng người chọn con đường xác thịt hay con đường đức tin? Nghĩ gì về hạng người bằng lòng chối bỏ lẽ thật và ưu ái với sự dối trá? Tôi nghĩ Kinh thánh có câu trả lời: I Giăng 2:19. Chúng ta cần phải yêu thương họ và cảnh báo họ, nhưng khi quyết định của họ đã được đưa ra, chúng ta cần phải để họ lại trong tay của Đức Chúa Trời, Tít 3:10. Đồng thời, chúng ta phải xem xét cấp độ đầu phục của chính chúng ta với Chúa! Chúng ta phải biết chắc rằng chúng ta đang ở nơi mà Ngài muốn chúng ta phải ở, để chúng ta không phải bị chìm đắm.
Phần kết luận: Chúng ta trở lại với phần cuối của câu hỏi Chúa Jêsus đã đưa ra với các môn đồ Ngài ở phần đầu: "Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng?" Không phải ai cũng lui đi khỏi Ngài đâu! Thực vậy, có người đưa ra một sự đầu phục trọn vẹn với Chúa và với ý muốn của Ngài trong cả đời sống của họ. Tôi hy vọng đó là bạn. Mặt khác, có người nghe mọi lời xưng nhận của Đấng Christ cùng những đòi hỏi của Tin Lành và rồi lui đi. Họ ra đi để tìm kiếm cái gì đó tốt hơn, cái gì đó đáng tiếp nhận cho xác thịt của họ. Không phải ai cũng lui đi đâu, còn bạn thì sao?

II Các Vua 2:1-14: “Bạn sử dụng những ngày cuối cùng trên đất như thế nào”

“Bạn sử dụng những ngày cuối cùng

trên đất như thế nào”

II Các Vua 2:1-14


Sẽ ra sao nếu bạn biết rõ chẳng chút nghi ngờ hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của bạn ở trên đất? Giả sử bạn chỉ còn có 24 giờ đồng hồ nữa để sống. Bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ đi đâu? Bạn sẽ sử dụng những giờ cuối của mình trên hành tinh địa cầu như thế nào? Nếu bạn biết mình sẽ qua đời hôm nay, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ đi đâu? Bạn sẽ ở đâu trong lúc bây giờ, hay bạn sẽ lên một chiếc phi cơ rồi đi gặp ai đó mà bạn rất yêu thương? Bạn sẽ nhấc điện thoại lên rồi gọi một vài người chăng? Nếu gọi, thì bạn sẽ gọi ai? Bạn sẽ nói gì chứ? Jim Elliott nói ông muốn sống cho đến giờ chết, chẳng có việc gì ông cần phải làm trừ ra chết mà thôi.
Rõ ràng là Chúa đã tỏ ra cho Êli biết đây sẽ là ngày sau cùng của ông trên đất. Như Charles Swindoll nói: “vị tiên tri nóng cháy không già lắm và rồi qua đời thật yên tỉnh – ông đâu có chết đâu”.
Trước biến cố kế đó và sau cùng trong cuộc đời của Êli, sự ông về trời, chúng ta thấy ông đang rời thành Samari cùng với Êlisê và đi bộ khoảng 30-35 dặm.
Thứ nhứt, những địa điểm đáng nhớ (2:1-5)
Chuyến đi của Êli cho chúng ta thấy một việc tiến triển trong đời sống Cơ đốc bình thường. Chúng ta hãy nhìn vào đỉnh cao của Êli trên chuyến hành trình của ông đến với sự vinh hiển.
Ghinh ganh – Địa điểm của những khởi đầu (câu 1)
“Khi Đức Giê-hô-va muốn đem Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc, Ê-li và Ê-li-sê ở Ghinh ganh đi ra”
. Ghinh ganh rất quan trọng vì đây là điểm đầu tiên mà dân Israel đóng trại sau khi băng qua sông Giôđanh vào trong Đất Hứa.
Cũng chính ở đây dân Israel kỷ niệm lần đầu tiên Lễ Vượt Qua trong đất hứa. Ở đây, những người nam ra đời trong cuộc lang thang ở đồng vắng chịu phép cắt bì và giao ước được làm mới trở lại (Giôsuê 5).
Nhiều tín đồ sử dụng toàn bộ đời sống Cơ đốc của họ tại Ghinh ganh. Họ không hề lớn lên và họ không hề rời khỏi địa điểm của những khởi đầu. Có người đi xa tận Bêtên. Họ nắm bắt khải tượng công việc lớn lao của Đức Chúa Trời, những điều cần phải thực hiện. Họ nhìn thấy các nhu cầu, họ cảm thấy sức kéo, nhưng họ không hề bước qua địa điểm đáng mơ ước về những gì họ phải làm. Họ không hề giở chơn bước kế tiếp để biến các chiêm bao và hiện thấy kia thành hiện thực.
Bêtên – Địa điểm của sự nên thánh (các câu 2-3)
“Ê-li nói với Ê-li-sê rằng: Ta xin ngươi hãy ở đây; vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Bê-tên. Ê-li-sê thưa với người rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề rằng, tôi chẳng hề lìa khỏi thầy. Như vậy, hai người đi xuống Bê-tên. Các môn đồ của những tiên tri ở tại Bê-tên đến nói với Ê-li-sê rằng: Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ cất thầy của anh lên khỏi anh chăng? Người đáp: Phải, ta biết; các ngươi hãy làm thinh đi!”
Ba lần Êli thử Êlisê xem coi Êlisê có ở lại với ông cho đến cuối cùng hay không!?! Sau nhiều tháng trời đào tạo kỹ lưỡng Êli muốn biết Êlisê có đạt tới mức chịu đựng sự thách thức hay không, có phải ông quyết định đi theo và ở lại với Ê-li cho đến mức cuối hay có phải ông sẽ bị áp đảo với trách nhiệm nối theo sau sự ra đi của Êli. Đây là lần thử nghiệm về lòng trung thành và là một thử nghiệm về sự bền đỗ. Đây là cách nói của Êli với người của mình: "Ta sắp sửa rời khỏi ngươi. Ngươi có thể chịu đựng nổi không?"
Phần thử nghiệm đầu tiên được thấy có ở câu 2, ở đây Êli bảo Êlisê phải ở lại đàng sau tại Ghinh ganh đang khi ông tự mình tiếp tục đi đến Bêtên. Êlisê sẽ không nghe theo, ông phải biết chắc rằng mình sẽ trung thành với Êli cho tới giây phút sau cùng của cuộc đời mình.
Chính ở tại Bêtên mà vị tộc trưởng Giacốp đã gặp gỡ Đức Chúa Trời, Sáng thế ký 28:11-22. Bêtên chỉ ra địa điểm của sự đầu phục và nương cậy hoàn toàn vào Đức Giêhôva.
Giêricô – Địa điểm của mọi đắc thắng trong quá khứ (các câu 4-5)
“Ê-li nói với Ê-li-sê rằng: Ta xin ngươi hãy ở đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giê-ri-cô. Ê-li-sê lại thưa rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề rằng, tôi chẳng hề lìa khỏi thầy. Như vậy, hai người đi đến Giê-ri-cô. Các môn đồ của những tiên tri ở tại Giê-ri-cô đến gần Ê-li-sê, nói với người rằng: Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ cất thầy của anh lên khỏi anh chăng? Người đáp: Phải, ta biết; các ngươi hãy làm thinh đi!”
Giờ đây, lần thứ hai Êli thử Êlisê bằng cách yêu cầu Êlisê nên ở lại đàng sau trong khi ông đi khoảng 15 dặm về phía Đông Nam đến thành Giêricô. Thế nhưng một lần nữa Êlisê không chịu rời khỏi Êli. Hai lần Êli đã tìm cách buộc Êlisê phải ở lại, lần đầu tại Ghinh ganh và kế đó tại Bêtên trong khi ông cứ tiến tới trước trong chuyến hành trình của mình. Và hai lần Êlisê từ chối không chịu rời khỏi vị tiên tri.
Giêricô rất quan trọng vì chính ở đây dân Israel có chiến thắng quân sự lần đầu tiên của họ trong đất hứa (Giôsuê 6). Giêricô cũng là thị trấn biên giới. Đi qua địa điểm nầy là bước vào vùng lãnh thổ mới và hoang dã.
Đôi khi các tín đồ phạm lỗi một khi cứ bám trụ lấy Giêricô, với nhận định rằng họ đang sống trong vinh quang của những lần đắc thắng của quá khứ. Họ nhớ lại những gì đã xảy ra ở đó, rồi quên rằng cũng chính Đức Chúa Trời là Đấng đã chúc phước khi ấy và hiện nay Ngài cũng mong muốn ban phước nữa.
Giôđanh – Địa điểm của sự Vượt Qua (các câu 6-7)
“Ê-li nói với người rằng Ta xin ngươi hãy ở đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giô-đanh. Ê-li-sê thưa rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề rằng, tôi chẳng hề lìa khỏi thầy. Như vậy, hai người cứ đi với nhau. Có năm mươi người trong các môn đồ của những tiên tri đi theo, đứng cách xa đối ngang Giô-đanh; còn Ê-li và Ê-li-sê đứng lại tại mé sông”.
Lần thứ ba Êli đã tìm cách thuyết phục Êlisê phải ở lại đàng sau, và lần thứ ba Êlisê từ chối không chịu thuyết phục. Quyết định của Êlisê nhắc cho chúng ta nhớ đến quyết định của Rutơ phải đi theo Naômi cho dù bà đã ngã lòng không muốn như thế: Rutơ nói: “Xin chớ nài tôi phân rẽ mẹ; vì mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân sự của mẹ, tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi” (Rutơ 1:16).
Êlisê quyết định không nhìn lại sau là một tấm gương cho hết thảy những ai muốn có ơn phước đầy trọn của Chúa giáng trên chức vụ của họ. Chúa Jêsus từng cảnh cáo các môn đồ: “Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời” (Luca 9:62).
Giôđanh rất quan trọng vì đây là chướng ngại mà Israel phải băng qua để vào Đất Hứa. Và vì cớ đó, sông Giôđanh là đường biên giới tiêu biểu cho việc bước vào Đất Hứa thuộc linh. Vì vậy việc băng qua sông Giôđanh tiêu biểu cho sự chết. Đây là những chướng ngại lắm gay go có ít người muốn vượt qua.
Như tôi đã nói rồi, chuyến đi của Êli cho chúng ta thấy sự tiến bộ của đời sống Cơ đốc bình thường. Thứ nhứt, hết thảy chúng ta phải có kinh nghiệm Ghinh ganh kia. Nghĩa là, ở đó phải là thời điểm của những khởi đầu, khi chúng ta gặp gỡ Chúa Jêsus với một tư thế riêng tư.
Tiếp đến, khi chúng ta tấn tới trong Chúa và học biết cầu nguyện, chúng ta đến với Bêtên nọ trọn lúc chúng ta đồng đi với Chúa Jêsus. Ở Bêtên, chúng ta học biết ăn ở trong sự nương cậy nơi Chúa. Đây là địa điểm của sự trưởng thành.
Hiển nhiên là chúng ta sẽ đối diện với chính sông Giôđanh của mình. Chúng ta sẽ đến mức cuối của chuyến hành trình giống như Êli đã đến vậy.
Thứ hai, một đòi hỏi sau cùng (các câu 8-10)
“Ê-li bèn lấy áo tơi mình, cuốn lại, đập trên nước; nước bèn rẽ ra hai bên, và hai người đều đi ngang qua trên đất khô. Khi đi qua rồi, Ê-li nói với Ê-li-sê rằng: Hãy xin điều ngươi muốn ta làm cho ngươi, trước khi ta được cất lên khỏi ngươi. Ê-li-sê thưa rằng: Nguyền xin thần của thầy cảm động tôi được bội phần. Ê-li nói với người rằng: Ngươi cầu xin một sự khó. Song nếu ngươi thấy ta lúc ta được cất lên khỏi ngươi, ắt sẽ được như lời bằng chẳng, thì không được”.
Sau khi ông thi hành phép lạ sau cùng của mình, ông xây sang Êlisê rồi đưa ra một đề nghị thật khó tin: “Hãy xin điều ngươi muốn ta làm cho ngươi, trước khi ta được cất lên khỏi ngươi” (câu 9b). Không nháy mắt, Êlisê đáp: “Nguyền xin thần của thầy cảm động tôi được bội phần [phần bằng hai, theo bảng Kinh thánh Anh ngữ]”(câu 9c).
Tôi phải nhìn nhận rằng tôi đã gặp rắc rối bởi lời cầu xin của Êlisê về “phần bằng hai” về thần của Êli (câu 9). Ít nhất là ở bề mặt, lời cầu xin của ông có một chút tham vọng đấy. Song như một nhà giải kinh nói:
“Nếu Êlisê nghĩ Êli là một người có hai phần, khi ấy trong lý trí ông có hai phần Thánh Linh mới có thể giúp ông đảm đương nổi chức vụ của mình. Tôi không thấy một người có tham vọng ở đây, tôi nhìn thấy một người khiêm nhường; ông ao ước ân điển có cần cho ông để thi hành chức vụ sao cho mỹ mãn” [Bob Deffinbaugh. “The Life and Times of Êli the Prophet – Chariots of Fire.” www. Bible.org]
Vì vậy, Êlisê trong lời cầu xin của ông về một phần bằng hai không phải là xin cho có quyền năng nhiều hơn Êli đâu, mà thay vì thế đây là sự công nhận rằng ông sẽ cần hai lần sự trợ giúp thiêng liêng nếu ông cưu mang lấy chức vụ của Êli.
Chúng ta cũng cần phải nhớ rằng trong thời Cựu Ước, người con trưởng đã nhận một phần bằng hai tài sản của cha mình (Phục truyền 21:17). Tất nhiên là Êlisê chẳng phải là con đẻ của Êli, song ông là con thuộc linh của Êli. Còn Êli thì biết rõ Êlisê sẽ là người kế tục của mình (I Các Vua 19:6) và ông đã chuẩn bị cho Êlisê hơn mấy năm rồi.
Êli đáp lại bằng cách nói: "Ngươi cầu xin một sự khó" (câu 10). Nói khác đi, những gì ông đang cầu xin thì trổi hơn năng lực chấp nhận của ông, đây là một sự ban cho mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể cung ứng. Khi ấy, ông thêm một điều kiện quan trọng: “… nếu ngươi thấy ta lúc ta được cất lên khỏi ngươi, ắt sẽ được như lời bằng chẳng, thì không được” (câu 10).
Êli nói: "Ngươi có thể có quyền phép nếu ngươi thấy ta được cất đi". Không những ông có ý nói ngươi nhìn thấy ta tận mắt, mà nếu Đức Chúa Trời ban cho ngươi cái thấy thuộc linh để hiểu, nếu Ngài mở con mắt lòng của ngươi ra. Chúng ta nhìn thấy một trường hợp về cái thấy thuộc linh nầy ở II Các Vua 6.
Vì Êlisê đã từ chối không chịu rời đi hay bối rối, Êlisê đã nhận lãnh chính xác những gì ông đã cầu xin.
Thứ ba, ra đi đột ngột (các câu 11-14)
“Hai người cứ vừa đi vừa nói với nhau, kìa, có một cái xe lửa và ngựa lửa phân rẽ hai người; Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc. Ê-li-sê nhìn thấy, bèn la lên rằng: Cha tôi ôi! cha tôi ôi! là xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên! Đoạn, Ê-li-sê không còn thấy người nữa; rồi người nắm áo mình xé ra làm hai mảnh. Ê-li-sê bèn lấy cái áo tơi đã ở nơi mình Ê-li rơi xuống, trở về, đứng tại trên mé Giô-đanh. Người lấy cái áo tơi đã ở nơi mình Ê-li rơi xuống, đập nước, và nói rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Ê-li ở đâu? Khi người đã đập nước rồi, nước bèn rẽ ra hai bên, và Ê-li-sê đi ngang qua”.
Trong khi phần nhiều nếu không phải là hầu hết chúng ta đều có ý tưởng không đúng cho rằng Êli được đưa về trời trên một chiếc xe ngựa lửa, như thế không phải là trường hợp. Phân đoạn Kinh thánh không nói cho chúng ta biết Êli bước vào xe ngựa lửa rồi điều khiển xe ấy lên trời. Phân đoạn ấy cho chúng ta biết rằng xe và lính kỵ của Israel đã hiện ra, phân rẻ Êli ra khỏi Êlisê. Kinh thánh thực sự cho chúng ta biết rằng Êli đã được đưa lên trời “trong một cơn gió lốc” (câu 11). Có thể là xe ngựa lửa là những sự tỏ ra về sự hiện diện thiêng liêng của Đức Chúa Trời, thì có lợi cho Êlisê hơn là cho Êli.
Êli phải rời đi để Êlisê nắm lấy chức vụ của ông. Cũng một thể ấy trong từng thế hệ. Nhiều lãnh tụ dấy lên, lãnh đạo, đánh trận cho Đức Chúa Trời, và rồi tới giờ chỉ định, họ rời khỏi bối cảnh, có nhiều người Đức Chúa Trời dấy lên để thay thế họ. Không một ai trong chúng ta là cần thiết mãi trong Nước của Đức Chúa Trời được. Chẳng sớm thì muộn, Đức Chúa Trời sẽ di dời chúng ta hay ai đó ra khỏi chức vụ mà chúng ta đang bám trụ lấy. Bất luận chúng ta nghĩ chúng ta quan trọng đến ngần nào hay người khác có thể nghĩ chúng ta là cần thiết cho công việc, cho nhà thờ, cho gia đình, hay cho xứ sở của chúng ta, người duy nhứt thực sự có cần chính là CHÚA!
Bộ bạn không nghĩ cần phải dạn dĩ nắm lấy chiếc áo choàng kia rồi đập vào sông Giôđanh sao? Ông đã nhìn thấy Êli phân rẻ dòng nước, nhưng liệu chính việc ấy có xảy ra cho ông không? Êli đã đi rồi, nhưng có phải Đức Chúa Trời của Êli cũng đi luôn không? Đấy luôn luôn là một câu hỏi quan trọng.
Êli là độc nhất vô nhị trong một đôi phương thức. Thứ nhứt, ông độc nhất vô nhị trong chỗ Kinh thánh nói ông là một trong hai người còn sống rồi rời khỏi bối cảnh mà không qua sự chết, Hênóc là người thứ nhứt. Hênóc là người khác duy nhứt được ơn đi thẳng từ đất lên trời mà không kinh qua sự chết: “Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi” (Sáng thế ký 5:24).
Và thứ hai, Êli là độc nhất vô nhị trong chỗ Kinh thánh nói rằng Êli sẽ có một chức vụ liên tục. Tiên tri Malachi nói trước: “Nầy, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến" (Malachi 4:5). Bốn trăm năm sau, Chúa Jêsus phán về Giăng Báptít: "Thì ấy là Ê-li, là đấng phải đến" (Mathiơ 11:14). Ngài muốn nói rằng Giăng Báptít đã đến trong tinh thần và quyền phép của Êli (Luca 1:17). Và sau đó Êli hiện ra trên Núi Hóa Hình với Chúa Jêsus, Phierơ và Giăng (Mác 9:2-8). Sẽ có một chức vụ sau cùng dành cho Êli, hai chứng nhân trong Khải huyền 11 sẽ giống rất nhiều với Môise and Êli,
Phần kết luận: Vì vậy, cho phép tôi hỏi bạn: “Nếu đây là ngày cuối cùng của bạn, bạn sẽ sử dụng nó như thế nào?” Bạn sẽ làm gì? Đối với những người nhìn biết Chúa, sự chết chẳng có gì phải sợ hãi. Thì giờ của chúng ta trên hành tinh địa cầu bất luận có lâu dài đến ngần nào, vèo một cái, rồi chúng ta bay mất đi. Chúng ta có mặt ở đây hôm nay rồi qua đi ở ngày mai. Đây là lời lẽ tuyệt vời sau cùng ra từ đời sống của Êli.
Êli lên trời.
Êlisê lãnh lấy công việc của ông.
Công việc của Đức Chúa Trời đang tiếp diễn.
Công việc ấy tiếp tục vì Đức Chúa Trời đang tiếp tục.
Trong phần kết thúc, chúng ta cần phải tự hỏi mình hai câu:
1. Tôi có giống như Êli, tìm cách để trở thành nguồn phước cho tha nhân cho tới chừng Chúa cất tôi về quê hương?
2. Tôi có giống như Êlisê, phục theo ơn kêu gọi trên đời sống tôi bất luận là như thế nào?

Giôsuê 9:1-27: “SỐNG VỚI MỘT QUYẾT ĐỊNH TỒI”

“SỐNG VỚI MỘT QUYẾT ĐỊNH TỒI”
Giôsuê 9:1-27


Một kẻ lập dị giàu có qua đời và để cả triệu đôla lại cho cháu trai mình là John. Khi ý định được đọc lên tại văn phòng luật sư, vị luật sư nói với John: “Theo sự dặn dò của bác anh, việc chi trả tài sản của anh sẽ căn cứ theo những quyết định mà anh phải đưa ra”. Vị luật sư đặt hai bàn tay nắm chặt lại của ông ta trước mặt John rồi hỏi: “Anh chọn bên tay mặt hay tay trái?”
John quyết định những gì có trong tay mặt của vị luật sư. Vị luật sư mở tay trái mình ra rồi cho thấy một đồng vàng và một đồng bạc. Ông ta nói: “Nếu anh chọn tay nầy, anh đã nhận lấy cổ phần có thật trong một mỏ vàng hay một mỏ bạc ở tại Chile”. Kế đó, ông ta mở bàn tay phải ra cho thấy một quả hạch và một hạt cà phê. Vị luật sư nói: “Mấy thứ nầy tiêu biểu cho giá một triệu đôla quả hạch hay cà phê xuất từ Brazil”. “Anh chọn cái nào?” John quyết định chọn quả hạch.
Một tuần lễ trôi qua trước khi John đến Brazil để thâu lấy tài sản của mình. Trong lúc dàn xếp, lửa đã hủy diệt một nhà kho lớn, ở đó có chứa quả hạch mà John thừa hưởng và giá cà phê lên gấp đôi. Khi John chưa nhận lấy tài sản của mình, thì anh đã bị phá sản.
Anh còn đủ tiền để lên máy bay về nhà ở Nữu Ước hay Los Angeles, ở đó anh trú ngụ với một người bạn. Anh đã chọn Los Angeles.
Ngay trước khi anh ra phi đạo, chiếc phi cơ đi Nữu Ước đã đi lệch đường băng — đó là một máy bay phản lực loại mới. Về chuyến bay đi Los Angeles, phi cơ nầy là máy bay ba động cơ Ford xuất xưởng năm 1928 phải mất nửa ngày nó mới rời khỏi phi đạo. Chiếc máy bay chất đầy trẻ em kêu khóc và những con dê bị cột chặt. Trên dãy núi Andes một máy bị hỏng. Người của chúng ta bò lên buồng lái rồi hỏi: “Cho phép tôi xuống nếu các ông muốn cứu mạng sống của mấy ông. Hãy trao cho tôi cái dù”. Viên phi công đồng ý nhưng nói: “Trên máy bay nầy, bất cứ ai muốn nhảy dù xuống phải mang hai dù”.
John đã nhảy ra khỏi máy bay và anh cảm thấy phải bình tỉnh nhưng không biết phải giật sợi dây nào. Sau cùng, anh chọn sợi dây bên trái. Sợi dây bị lỗi, và lỏng lẻo. Anh kéo sợi dây kia. Chiếc dù mở ra, song nó cuộn lại, không bọc tròn đủ. Trong nổi thất vọng, gã khốn khổ kia kêu lên: “Thánh Francis ơi, cứu tôi!”
Thình lình, có một bàn tay thật to với xuống từ trời, nắm chặt lấy hông của gã đáng thương nầy rồi cứ để lơ lửng giữa không gian. Thế rồi có một giọng nói dịu dàng thốt lên: “Thánh Francis xứ Xavier hay Thánh Francis xứ Assisi?” [Bits & Pieces, May 25, 1995, pp. 6-8 as quoted in www.bible.org/illus/decisions]
Hết thảy chúng ta đều đưa ra nhiều quyết định mỗi ngày. Và hết thảy chúng ta đều đã đưa ra những quyết định mà chúng ta phải hối tiếc. Những quyết định tồi xảy ra trong mọi cuộc sống của chúng ta. Một số trong đó rất nghiêm trọng còn những cái khác thì không.
Tối nay, chúng ta muốn xem xét một quyết định đưa ra bởi Giôsuê cùng các trưởng lão khác của Israel, quyết định ấy sẽ có những hậu quả nghiêm trọng.
1. ƠN PHƯỚC VÀ CHIẾN TRANH CÓ THỂ XẢY RA CÙNG MỘT LÚC (các câu 1-6)
Tôi muốn bạn chú ý: ơn phước và chiến tranh có thể đến cùng một lúc. Ngay cả khi Israel nhóm lại đặng thờ phượng (8:30), kẻ thù của họ đã tập trung lại để hoạch định một cuộc tấn công vào Israel. (các câu 1-2). “Khi hay được việc này, hết thảy các vua ở bên này sông Giô-đanh, hoặc ở trong núi, dưới đồng bằng, hay là dọc bãi biển lớn đối ngang Li-ban, tức là các vua dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, đều rập một ý hiệp với nhau đặng giao chiến với Giô-suê và Y-sơ-ra-ên”.
Trong khi dân Israel đang thờ lạy Đức Chúa Trời và ôn lại luật pháp của Ngài, các vua xứ Canaan hiệp lại hình thành một liên minh để đối đầu với thách thức xâm lược của dân Israel. Mặc dù tất cả các vua nhóm lại đặng hình thành một liên minh quân sự, người Gabaôn quyết định thực hiện một hành động khác, câu 3: “Khi dân Ga-ba-ôn đã hay điều Giô-suê làm cho Giê-ri-cô và A-hi”.
Dân Gabaôn đã nghe thấy cùng một tường trình cho hay rằng Raháp đã hành động thích ứng, song họ không muốn sự hiểu biết ấy dẫn họ tới những hành động thích ứng. Họ đã nghe nói về sức mạnh của dân Israel và thậm chí đã nhận biết rằng quyền phép của Đức Chúa Trời nằm ở đàng sau sức mạnh ấy. Raháp đã nghe nói về Đức Chúa Trời của Israel và nàng có một tấm lòng rộng mở để học biết thêm về Ngài và thờ lạy Ngài. Dân Gabaôn đã tìm hiểu sâu xa để họ chỉ có đủ tri thức dẫn họ vào sợ hãi và làm bất cứ điều chi cần thiết để cứu lấy mạng của họ. Có nhiều người ngày nay vẫn còn sống theo triết lý của dân Gabaôn, những điều có tính cách thủ đoạn. Họ làm bất cứ điều gì có tính cách thủ đoạn, để giúp đưa họ lọt qua những khó khăn trong cuộc sống. Nếu dân Gabaôn chỉ ăn năn xây lại với Đức Chúa Trời: giống như Raháp đã làm, thế thì chẳng có một sự dối trá nào là cần thiết cả.
Nhưng thay vì ăn năn, dân Gabaôn đã quyết định lừa gạt dân Israel, các câu 4-6: “bèn tính dùng mưu kế. Chúng nó giả bộ đi sứ, lấy bao cũ chất cho lừa mình, và bầu chứa rượu cũ rách vá lại, dưới chân mang giày cũ vá, và trên mình quần áo cũ mòn; hết thảy bánh về lương bị họ đều khô và miếng vụn. Chúng nó đi đến gần Giô-suê tại trại quân Ghinh-ganh, mà nói cùng người và dân Y-sơ-ra-ên rằng: Chúng tôi ở xứ xa đến; vậy bây giờ, hãy lập giao ước cùng chúng tôi”.
Họ đã lựa quần áo cũ mòn, bánh vụn, lương khô và bầu rượu cũ, hết thảy các thứ nầy đã được làm ra để gây ấn tượng rằng họ đã đi một khoảng đường thật dài mới đến được trại quân của dân Israel. Họ muốn lừa gạt Giôsuê về nguồn gốc của họ. Chúng ta không biết trường hợp họ có biết Đức Chúa Trời đã căn dặn dân Israel đừng kết hiệp gì với dân xứ Canaan hay không hoặc chỉ rút ra một kết luận tự nhiên cho rằng mặc dù Giôsuê không thực hiện một liên minh với xứ láng giềng, ông có thể thực hiện liên minh với một xứ ở thật xa.
2. HÃY COI CHỪNG VỀ VIỆC ĐƯA RA NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CĂN CỨ VÀO BẰNG CHỨNG NÔNG CẠN (các câu 7- 15)
“Dân Y-sơ-ra-ên đáp cùng dân Hê-vít rằng: Có lẽ các ngươi ở giữa chúng ta chăng; vậy làm thế nào lập giao ước đặng? Nhưng chúng nó nói cùng Giô-suê rằng: Chúng tôi là tôi tớ của ông. Giô-suê hỏi: Các ngươi là ai, ở đâu đến? Đáp rằng: Tôi tớ của ông ở từ xứ rất xa đến để tôn trọng danh Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của ông; vì chúng tôi có nghe nói về Ngài, và mọi điều Ngài đã làm trong xứ Ê-díp-tô; lại cũng nghe về mọi điều Ngài đã làm cho hai vua A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh, … Các trưởng lão và hết thảy dân sự ở xứ chúng tôi có nói cùng chúng tôi rằng: Hãy lấy lương thực dùng dọc đường, đi đến trước mặt dân đó, mà nói rằng: Chúng tôi là tôi tớ các ông; và bây giờ, hãy lập giao ước cùng chúng tôi”.
Hãy chú ý, họ không trả lời câu hỏi của Giôsuê ở câu 8: “Các ngươi là ai, ở đâu đến?” Thay vì họ nói: “Ồ, chúng tôi ở xa lắm, các ông chưa bao giờ nghe nói về chúng tôi đâu”.
Dân Gabaôn không những đã dối gạt về nguồn gốc của họ, mà họ còn nói dối về mọi dự tính của họ nữa. Họ nói với Giôsuê rằng họ muốn một giao ước vì họ đã nghe nói về những điều lạ lùng về Giêhôva Đức Chúa Trời. Câu 9: họ nói họ đã đến “…để tôn trọng danh GIÊHÔVA là Đức Chúa Trời của ông; vì chúng tôi có nghe nói về Ngài, và mọi điều Ngài đã làm trong xứ Êdíptô”. Họ đã đưa ra ấn tượng cho rằng họ mong mỏi tôn vinh Đức Chúa Trời lắm. Nhưng hãy chú ý họ không nhắm đến sự ăn năn; họ chỉ nhắm đến dịch vụ.
Khi ấy, họ trình ra những ủy nhiệm thư của họ – bánh mốc meo, bầu rượu cũ, và quần áo cũ mòn, các câu 12-13: “Kìa, bánh của chúng tôi; ngày chúng tôi ra khỏi nhà đặng đi đến cùng các ông, chúng tôi lấy nó đem theo làm lương thực vẫn nóng hổi, mà ngày nay đã khô và bể vụn. Những bầu rượu này chúng tôi đổ đầy rượu hãy còn mới tinh, kìa nay đã rách; còn quần áo và giày chúng tôi đã cũ mòn, bởi vì đi đường xa”.
Thật là khó tin, họ được chấp nhận khi những thứ chứng cớ lẽ ra đáng phải bị thắc mắc cao độ. Những công sứ với uy quyền kết luận một hiệp ước với quốc gia khác phải có những ủy nhiệm thư quan trọng. Tuy nhiên, các câu 14-15 cho chúng ta biết: “Người Y-sơ-ra-ên bèn nhận lương thực chúng nó, không cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Giô-suê lập hòa cùng chúng nó, và kết ước cho chúng nó sống; rồi các trưởng lão của hội chúng bèn thề cùng chúng nó”.
Có lẽ lý do tại sao Giôsuê chễnh mãng không cầu hỏi Đức Chúa Trời, rồi kết thúc trong chỗ rút ra phần kết luật sai lầm, ấy là ông tưởng rằng bằng chứng mạnh mẽ đến nỗi không cần thiết phải cầu hỏi Đức Chúa Trời nữa. Có lẽ Giôsuê không cầu hỏi Đức Chúa Trời vì quyết định của ông dường đúng đắn, bằng chứng ấy quá rõ ràng rồi.
“Sự thể giống như xem chương trình thương mại trên truyền hình nói về một chất dẫn tới chỗ chống acid phát ra nhiều trong bao tử. Không có cách nào để chứng minh mọi lời xưng nhận của nó hết, song dường như chương trình ấy rất thuyết phục vì cớ biểu hiện của nó. Hai cốc đầy ắp với chất lỏng, tôi giả sử chất lỏng trong bao tử – vừa đủ – chất lỏng chống acid tự tỏ ra siêu đẳng hơn chất kia. Giờ đây, sự việc cho thấy đấy chẳng phải là minh chứng gì cả, song nó tỏ ra dễ tin vì cớ biểu hiện gọi là khoa học thấy được, rõ ràng. Nó mang ấn tượng bằng chứng chắc chắn” [Dale Ralph Davis. No Falling Words: Expositions of the Book of Giôsuê. (Grand Rapids: Baker, 1988) p. 76]
Alan Redpath có lời khuyên rất hay về việc xem mọi thứ như chúng hiện có: “Khi nhận thức thông thường nói rằng con đường nầy là đúng, hãy ngước đầu nhìn lên Đức Chúa Trời, vì con đường đức tin và con đường phước hạnh có thể nằm trong phương hướng đối nghịch hoàn toàn với những gì bạn gọi là nhận thức thông thường. Khi có những giọng nói bảo bạn rằng hành động ấy là khẫn cấp, một việc gì đó phải được thực hiện cấp thời, hãy trình mọi sự cho tòa án trên trời. Khi ấy, nếu bạn vẫn còn hồ nghi, hãy giữ bình tỉnh. Nếu được kêu gọi phải hành động và bạn không có thì giờ cầu nguyện, thì đừng làm chi hết. Nếu bạn được kêu gọi phải hành động theo một hướng nhất định và không thể chờ đợi cho tới chừng bạn có sự bình an với Đức Chúa Trời về việc đó, đừng hành động chi hết. Phải mạnh mẽ đủ và dũng cảm đủ để dám đứng vững và trông đợi Đức Chúa Trời, vì chẳng ai trong số họ chờ đợi nơi Ngài mà lại bị xấu hổ bao giờ. Đấy là phương thức duy nhứt áp đảo được ma quỉ” [Alan Redpath, Victorious Christian Living: Studies in the Book of Giôsuê. (Westwood, NJ: Fleming Revell Co., 1955) pp. 143-143]
Thế là Giôsuê đã lập một hiệp ước với dân Gabaôn mà trước hết không đem vấn đề đến trước mặt Đức Chúa Trời. Hiệp ước nầy không những là một lời hứa buông tha mạng sống của họ, mà còn là một lời hứa phải bảo hộ họ trong trường hợp họ bị tấn công nữa.
3. PHẢI NHẬN BIẾT SỰ LỪA GẠT ĐÓ SẼ BỊ KHÁM PHÁ (các câu 16-20)
“Nhưng ba ngày sau khi đã lập giao ước cùng chúng nó, dân Y-sơ-ra-ên hay rằng các người này vốn lân cận mình, và ở tại giữa mình”.
Tác giả Châm ngôn 12:19 chép: “Song lưỡi giả dối chỉ còn một lúc mà thôi”. Câu chuyện nói tới sự lừa gạt nầy chỉ ra sự bất lương đó, có thể tác động một cách nhất thời song nó chẳng bao giờ là một giải pháp dài hạn được. Chẳng chóng thì chầy, mưu mẹo và sự lừa gạt sẽ bị tỏ ra và sự thực sẽ hiển hiện.
Khi dân Israel kiểm tra lại câu chuyện ở câu 17, họ khám phá ra sự thực: “Dân Y-sơ-ra-ên lên đường, và ngày thứ ba đến thành chúng nó … Dân Y-sơ-ra-ên không giao chiến cùng dân đó, vì cớ các trưởng lão của hội chúng đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng dân đó; nhưng cả hội chúng lằm bằm cùng các quan trưởng. Các quan trưởng bèn nói cùng cả hội chúng rằng: Chúng ta đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng dân đó; vậy, từ bây giờ chúng ta không thế hại chúng nó được. Chúng ta phải đãi dân đó như vầy: Phải để cho chúng nó sống, hầu cho chớ vì cớ lời thề đã lập, mà chúng ta khiến cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên chúng ta. Vậy, các quan trưởng tỏ rằng chúng nó được sống, nhưng phải bị dùng để đốn củi xách nước cho cả hội chúng, y như các quan trưởng đã nói cùng chúng nó”.
4. HÃY CÔNG NHẬN KHI BẠN ĐƯA RA MỘT QUYẾT ĐỊNH TỒI, BẠN SẼ PHẢI SỐNG VỚI NHỮNG HẬU QUẢ (các câu 22-27)
“Giô-suê bèn gọi dân đó mà nói như vầy: Sao các ngươi đã gạt chúng ta, nói rằng: Chúng tôi ở rất xa các ông, té ra các ngươi ở giữa chúng ta? Vậy, bây giờ, các ngươi bị rủa sả, không dứt làm tôi mọi, cứ đốn củi và xách nước cho nhà của Đức Chúa Trời ta. Chúng nó bèn thưa cùng Giô-suê rằng: Ay là điều kẻ tôi tớ ông có hay rõ ràng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã phán dặn Môi-se, tôi tớ Ngài, biểu ban toàn xứ cho các ông, và diệt hết thảy dân ở trước mặt mình: ấy vậy, chúng tôi vì cớ các ông lấy làm rất sợ hãi cho sự sống mình, nên mới làm như vậy. Bây giờ chúng tôi ở trong tay ông, hãy đãi chúng tôi tùy ý ông cho là tốt lành và công bình. Giô-suê bèn làm như người đã nói, và giải cứu chúng nó khỏi bị tay dân Y-sơ-ra-ên giết. Trong ngày đó, người cắt chúng nó làm kẻ đốn củi và xách nước cho hội chúng và cho bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại trong nơi Ngài chọn lựa; ấy là điều dân đó hãy còn làm đến ngày nay”.
Chỉ cần có ba ngày thì dân Israel khám phá ra họ đã phạm sai lầm, song họ phải sống với nó trọn cả đời. Câu chuyện nói tới phản ứng của Giôsuê trước sự dối gạt của dân Gabaôn cho chúng ta thấy khi hoàn cảnh trăn trở thì phải biết ôm giữ lấy sự đầu phục của mình là khó dường nào. Cuộc sống mạnh giỏi của người khác sẽ nương vào việc gìn giữ đó. Đôi khi dân sự của Đức Chúa Trời được kêu gọi phải sống vâng phục giữa những sai phạm do chính họ đưa ra.
Một phần ứng dụng rõ ràng cho ngày hiện tại đây. Có khi một Cơ đốc nhân sẽ kết hôn ngoài ý chỉ của Đức Chúa Trời. Khi ấy cần phải làm gì? Thế gian có câu trả lời. Thế gian nói: “Chỉ cần ly dị. Bạn có quyền sống hạnh phúc. Hãy làm điều chi là đúng đắn cho bản thân mình”. Nhưng Lời của Đức Chúa Trời phán rằng đó là điều mà Cơ đốc nhân phải sống với nó (I Côrinhtô 7:10-11). Có người sẽ đưa ra lời khuyên: “Nhất định bạn có thể tránh được mọi hậu quả theo cách ấy”. Nhưng sự thực cho thấy bạn không thể!
Giôsuê và các cấp lãnh đạo xứ sở đã phạm sai lầm trong việc không cầu hỏi Đức Giêhôva về dân Gabaôn, tin cậy vào ấn tượng riêng và sự xét đoán của họ nhưng họ không dàn xếp bằng cách đi ngược lại giao ước mà họ đã lập.
Một số Cơ đốc nhân đang ở dưới nhận thức sai cho rằng khi chúng ta phạm tội, nếu chúng ta xưng tội và tìm kiếm sự tha thứ của Đức Chúa Trời sẽ chẳng có một hậu quả nào đối với tội ấy. Mặc dù hành động nầy đem lại sự thanh tẩy song chẳng xóa được mọi hậu quả của tội lỗi chúng ta. Đấy là nan đề trầm trọng với một thất bại không cầu hỏi Chúa trong mọi vấn đề: chúng ta phải sống với mọi hậu quả của các hành vi sai trái của chúng ta.
Israel được kêu gọi phải tôn trọng giao ước với người Gabaôn ngay sau khi giao ước được lập. Năm vua của dân Amôrít, đã giận dữ và ngăm dọa bởi sách lược của dân Gabaôn, đã quyết định tấn công các thành phố của người Gabaôn (10:3-4). Giôsuê bị buộc phải bảo vệ họ. Giao ước nầy giữa dân Israel và người Gabaôn đã được tôn trọng trong nhiều thế kỷ. Ở một dịp về sau nầy, khi Vua Saulơ, phá vỡ giao ước, Đức Chúa Trời đã về phe với người Gabaôn và đem lại sự phán xét giáng trên dân Israel (II Samuên 21:1). Trong sự biện hộ của họ, dân Gabaôn đã tỏ ra từng trung thành một khi họ đưa ra quyết định. Trong suốt những năm tháng của cuộc chiến ấy giữa dân Israel và các dân xứ Canaan chẳng có một tường trình nào thậm chí nói tới một người Gabaôn đã chạy theo phía bên kia.

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Sáng thế ký 28:10-28:16: "GIACỐP QUA ĐÊM BÊN VẦNG ĐÁ"


GIACỐP QUA ĐÊM BÊN VẦNG ĐÁ
Sáng thế ký 28:10-28:16



Là những cá nhân, chúng ta thỉnh thoảng phải đưa ra những quyết định khá gay gắt khi chúng ta nói: "Tôi cảm thấy cô đơn, tôi cảm thấy chẳng có ai để trò chuyện với, để nhận được lời khuyên hay tư vấn". Trong sứ điệp nầy, hôm nay chúng ta sẽ gặp gỡ một người có tên là Giacốp, là người thấy mình rất đơn độc vì cớ mọi hoàn cảnh của ông đều rất khó khăn và đầy thử thách. Chúng ta sẽ nhìn thấy mọi điều xảy cho ông cung hiến nhiều yên ủi và hy vọng cho bất cứ ai cảm thấy họ đang sống trong một chỗ khó khăn — một nơi mà tôi sẽ đề cập đến như "giữa vầng đá và một nơi gay go". Tôi nghĩ nhiều người trong chúng ta có thể xác định với cách biểu hiện đó.
Có bao nhiêu người trong các bạn đã sử dụng một số thời gian chất lượng nơi "Trường Đại Học Choáng Người” kia chưa? Không ai trong chúng ta đã tốt nghiệp từ các lớp học mà ngôi trường ấy cung ứng cho. Một người có thể vật vã với một đề tài bất thường hoặc lướt qua vài lớp ở trường học, nhưng điều nầy không thực hiện được tại “Trường Đại Học Choáng Người” kia. Giống như câu chuyện nói tới một học viên phi công nhớ lại lúc huấn luyện viên dạy lái máy bay nói, hôm nay chúng ta sẽ thực hành việc tròng trành và quay tròn. Người sinh viên kia biết ngay ông ấy muốn nói gì và không thích ý tưởng ấy bao nhiêu. Bất chấp những phản kháng và thậm chí có lời nài nĩ hoãn lại hay, tốt hơn là quên đi toàn bộ ý tưởng đó. Đây là một kinh nghiệm huấn luyện không thể làm khác được. Có người khéo nói: "Khi mọi thứ rơi vào chỗ khó xử, hãy nhớ: chính sự cọ xát đó sẽ đem lại sự tỏa sáng". Vị tộc trưởng Giacốp sẽ minh họa cho tư tưởng nầy.
Câu chuyện của chúng ta được thấy có ở Sáng thế ký 28. Giacốp là một con người với nhiều vấn đề gay go trong cá tánh của ông. Có phải điều nầy áp dụng cho bất kỳ ai mà bạn quen biết theo cách riêng không? Đức Chúa Trời sắp sửa khởi sự một quá trình cọ xát hoàn toàn sẽ kết quả trong việc chiếu sáng ra mục đích của Ngài, là điều sẽ đem lại phước hạnh lớn lao cho ông, gia đình ông, và hoàn toàn cho cả thế gian — ngay cả thời buổi của chúng ta nữa. Từ kinh nghiệm của Giacốp, chúng ta sẽ kiếm được một số tri thức về những lần gặp gỡ với các chất mài mòn của cuộc sống mà Đức Chúa Trời cũng sử dụng để đặt sự sáng láng vào trong đời sống của chúng ta nữa.
Chương 28 mở ra với Giacốp đang đứng trước sự hiện diện của cha mình là Ysác, ông đang chuẩn bị để sai con mình đi chọn một cô dâu từ giữa vòng bà con sống tại Phađan Aram. Ông truyền cho Giacốp: "Chớ cưới vợ trong bọn con gái Ca-na-an" (câu 6). Với lời chúc phước của cha mình, ông "từ Bê-e-Sê-ba đi đến Cha-ran, tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất, thì qua đêm tại đó. Người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại đó" (các câu 10-11). Đây là lần đầu tiên và là chỗ đầu tiên mà Giacốp có chiêm bao về cái thang bắt lên tận trời, rồi kết thúc với Chúa công bố phước hạnh của Ngài giáng trên ông (xem các câu 12-15).
Khi buổi tối của ngày đầu tiên phủ xuống, Giacốp thấy mình đang ở gần thành Luxơ. Ông biết hai cánh cổng thành sẽ đóng lại khi mặt trời lặn đi, vì thế ông phải qua đêm ở ngoài đồng trống, "người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại đó" (câu 10). Có phải đây là “Nhà Nghỉ Vầng Đá” không? Đây có thể là nguồn gốc của cụm từ nổi tiếng: "dựa vào một nơi cứng như đá". Hết thảy chúng ta đều kinh nghiệm điều đó. Tuy nhiên, “nơi cứng như đá” của Giacốp đã đổi thành nguồn của một sự mặc khải lớn lao. Điều nầy không quá khó cho chúng ta để nhận ra, trên Linh Trình Thiên Thượng (hành trình "bước đi bởi đức tin"), có vài chỗ dừng chân "cứng như đá". Chúng hiện diện vì cùng một mục đích giống như cho Giacốp — để nhận lãnh một sự mặc khải thiên thượng — để nắn đúc chúng ta, để tác động vào tương lai của chúng ta.
Tôi đã nhắc nhở rằng Giacốp đang rời khỏi nhà vì cớ sự mong ước và với lời chúc phước của cha mình. Nhưng bạn cũng phải biết rõ rằng Giacốp đang rời đi vì nếu ông không đi, người anh sinh đôi của ông là Êsau sẽ giết ông vì đã lừa đảo để lấy cơ nghiệp gia đình. Có thể là ông sẽ chọn không rời khỏi nhà. Ông vốn ưa thích ở nhà bên mẹ mình hơn. Nếu ông không đi, ông là một người sẽ chết mất. Điều nầy đọng lại trong tôi cảm xúc lý trí và tình cảm của Giacốp đang xoắn lại giống như cái tổ ong mới bị người ta chiếm lấy vậy. Ông cảm thấy mình bị hất hủi. Khu vực an nhàn của ông đã bị xâm lược. Tương lai của ông rơi vào chỗ bất ổn. Có thể ông mang rất nhiều thắc mắc, thế mà chẳng có câu trả lời nào hết. Sự thể nầy có thể tạo ra một đêm rất bất an. Có thể đó là một đêm trằn trọc lắm và mất ngủ cho dù ông có thể đặt cả cơ thể mệt mỏi và mọi cảm xúc rối reng kia lên chiếc gối mềm mại nhất. Không được như thế đâu. Thay vì thế, ông đang gối đầu mình trên một hòn đá.
ÔNG GỐI ĐẦU MÌNH TRÊN HÒN ĐÁ!
Bây giờ, hãy để cho trí tưởng tượng của bạn chắp cánh đi. Hãy nắm lấy nửa tá tín chỉ văn học, nhắm vào cách sử dụng hình bóng và phép loại suy rồi nhìn xem vầng đá kia theo một phương thức mà bạn chưa hề nhìn thấy nó trước đây. Hãy xem hòn đá đó là VẦNG ĐÁ CỦA MỌI THỜI ĐẠI. Hãy xem VẦNG ĐÁ ấy là Chúa Jêsus. Có chỗ nào tốt hơn để gối đầu mình xuống — gối hết mọi tư tưởng rối rắm, mọi thứ tình cảm lẫn lộn, lo âu, sợ hãi (hãy liệt kê chúng ra hết thảy)? Có chỗ nào tốt để gối cả thảy chúng xuống hơn là Vầng Đá Jêsus Christ không?
Một người có thể đi ngủ với đầu mình gối trên một hòn đá nào khác trừ phi đó là Vầng Đá đặc biệt không? Đây là hình bóng: Chúa Jêsus là VẦNG ĐÁ. Làm sao tôi biết được chứ? Tôi biết được là vì hành trình của dân Israel từ Aicập vào xứ Canaan nói cho tôi biết. Phaolô nói: "và [dân Israel trong đồng vắng] uống một thứ uống thiêng liêng; vì họ uống nơi một hòn đá thiêng liêng theo mình, và đá ấy tức là Đấng Christ" (I Côrinhtô 10:4).
Câu nầy có ý nói rằng khi chúng ta thấy mình gặp một kinh nghiệm "giữa hòn đá và một nơi gay go", chúng ta có thể đổi kinh nghiệm đó từ "giữa hòn đá" thành gối đầu trên một Vầng Đá, yên nghỉ trên Vầng Đá. Trong khi chúng ta ở tại đó, chúng ta hãy nắm lấy lời cầu nguyện của David: "Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy nghe tiếng kêu của tôi, lắng nghe lời cầu nguyện tôi. Khi tôi cực lòng, tôi sẽ kêu cầu cùng Chúa từ nơi cực địa; Xin hãy dẫn tôi lên hòn đá cao hơn tôi" (Thi thiên 61:1-2). Để được Đức Thánh Linh dẫn dắt đến với "hòn đá cao hơn tôi" có nghĩa là chúng ta đến với một nơi có sự an ủi, yên nghỉ, bình an. Gối đầu trên Vầng Đá ấy là đặt hết mọi tư tưởng lo âu, phiền muộn lên trên Ngài. Làm thế là đặt chúng ta vào một chỗ để nhận lãnh một sự mặc khải mới mẻ về chiếc thang đang mở ra đến tận trời.
Tôi đã khám phá ra bản Kinh Thánh (KJV) chép: "…và ông lấy mấy hòn đá của nơi đó, rồi sắp chúng làm thành chiếc gối, rồi nằm xuống ở chỗ ấy mà ngủ". Đây là một trong những vẻ đẹp của bản Kinh thánh King James. Bản Kinh thánh tự thêm vào câu nói đẹp như bức tranh vẽ ấy. Việc nhìn thấy theo cách đó đã mở ra một cơ hội mới để khai thác vàng từ câu nói nầy khi chỉ có thể thấy được theo nghĩa bóng. Chúng ta hãy nhìn xem mọi điều ông đã làm và rồi đưa ra một số ứng dụng về mặt thực tế và về mặt thuộc linh. Ông . . .
1. Lấy mấy hòn đá của nơi đó.
2. Sắp chúng thành gối.
3. Nằm xuống tại nơi đó.
4. Mà ngủ.
ÔNG LẤY MẤY HÒN ĐÁ CỦA NƠI ĐÓ.
Đâu là kinh nghiệm của "chốn ấy"? Bạn và tôi đã có mặt ở đó. Đây là một nơi rất gay go vì đó là một nơi toàn bằng đá. Chẳng có một mảng cỏ xanh, mềm mại hơi ẩm nào hết để mà gối đầu. Chẳng có mùi hương của bông hoa thoang thoảng trên đôi cánh của hơi gió nhẹ nhè ban chiều. Thứ hiện có sẵn nhiều nhất ở đây là đá và toàn đá. Đây là một chốn hoang vu. Đối với Giacốp, đây là một nơi đơn độc. Đây là một khu đồng trống. Ông là ngọn đèn di động. Đây là một chỗ của hy vọng và ước mơ bị vùi dập. Một thời gian ngắn trước đây, ông tưởng mình sẽ thâu đoạt được sự giàu có và quyền thế. Ông đang lãnh lấy sự trống không và tẻ tách ra khỏi gia đình mình. Ông là một người bị anh mình thù ghét. Giờ đây, ông là chi thể của một gia đình tan vỡ. Ông đang trên đường trốn chạy. Chúng ta đã có mặt ở CHỐN ĐÓ.
CHỐN ĐÓ bạn mong mỏi sự yên ủi song sự yên ủi đã từ chối. Nhưng có nhiều hòn đá lắm.
CHỐN ĐÓ bạn ước ao tình bè bạn song tình bạn bè đã từ khước. Vẫn còn có nhiều hòn đá lắm.
CHỐN ĐÓ bạn có thể sử dụng một giọng nói quen thuộc, một giọng nói hiểu biết, song tình thân và sự hiểu biết không có ở đây. Những hòn đá đang hiện hữu ở đây, và có nhiều hòn đá lắm.
Phải làm gì đây? Sau đây là sự khám phá của một người.
Nhà tâm lý học người Do thái tên là Victor Frankl đã khám phá ra một lẽ thật quan trọng ở giữa trại tập trung của người Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến. Trong khi tìm cách sống còn trong nổi khủng khiếp của ngục tù mình, Frankl khởi sự quan sát các bạn tù với hy vọng khám phá điều kỹ xão sẽ giúp ông chịu đựng nổi thực tại kinh khiếp nầy. Cái điều Frankl đã tìm ra là đây: Những cá nhân nào không thể chấp nhận những gì đang xảy đến cho họ, họ không thể biến đau khổ trong hiện tại phù hợp với niềm tin của họ, họ không thể tìm được ý nghĩa của việc ấy theo thế giới quan của họ … họ thất vọng, mất hy vọng, và hiển nhiên đã thối lui và ngã chết. Nhưng những người kia, họ có thể tìm được một ý nghĩa từ đức tin của họ, lúc đó họ có thể tìm được sự trông cậy cho tương lai trổi hơn nổi đau khổ trong hiện tại của họ, và nhờ đó họ có thể chấp nhận mọi điều họ đang gánh chịu như một phần kinh nghiệm của họ, và họ đã tồn tại.
Trong câu chuyện của chúng ta về Giacốp, ông đang làm một việc khả thi. Ông lấy các hòn đá "rồi sắp chúng thành chiếc gối". Không phải ai cũng có thể làm được điều nầy đâu. Cơ hội, khả năng, đang sẵn có cho mọi người. Nhưng không phải ai cũng có thể làm được điều nầy vì cách thức một người nhận định các hòn đá sẽ quyết định chúng cần phải được sử dụng như thế nào! Những hòn đá có thể được dùng như loại hỏa tiễn phóng vào nhiều người khác trong cuộc chơi được gọi là "trò đổ thừa". Những hòn đá có thể được dùng như loại bì để dìm một người xuống sâu dưới làn nước tự thương hại và thất bại.
Tuy nhiên, những hòn đá có thể được dùng dựng lên một cái móng chắc chắn để nâng đỡ một toà nhà mới. Hoặc, những hòn đá có thể trở thành một phần của toà nhà. Những hòn đá không thể bị biến thành sợi tơ mềm trong sương mai. Cuộc sống không bao giờ là dễ dàng cả. Nhưng chúng có thể trở thành chiếc gối cho một cái đầu và một cơ thể mệt mỏi NẾU NGƯỜI TA TIN CHÚNG CÓ THỂ TRỞ NÊN NHƯ THẾ. Victor Frankl, mô tả sâu thêm kinh nghiệm của ông trong trại tử thần của quân Phát xít: "Họ lột trần tôi. Họ lấy đi hết mọi thứ — nhẫn cưới, đồng hồ. Tôi đứng đó trần truồng và thình lình nhận ra ngay giây phút ấy dù họ có thể tước đi mọi sự khỏi tôi — vợ tôi, gia đình tôi, tài sản của tôi — họ không thể tước đi quyền tự do chọn cách phản ứng của tôi”.
Thomas Carlyle, nhà sử gia nổi tiếng, đã tốn mất hai năm viết quyển sách nói tới cuộc cách mạng Pháp. Vào ngày ông hoàn tất bản thảo, ông trao bản duy nhứt của mình cho một bạn đồng sự, là John Stuart Mill, để đọc và cho lời bình. Thế nhưng, khi ấy việc không tưởng được lại xảy ra. Người tôi tớ của Mill đã sử dụng bản thảo của Carlyle để nhúm lửa. Khi Mill báo cho ông biết sự thể đó, mặt của Carlyle đã tái đi. Hai năm cuộc đời của ông đã mất hết. Hàng ngàn giờ trong sự cô độc ông viết ra tác phẩm ấy giờ hóa ra công cốc. Ông không thể tưởng đến việc viết lại quyển sách. Ông rơi vào chỗ ngã lòng ghê gớm. Thế rồi một ngày kia, đang khi đi dạo trên đường phố, Carlyle để ý thấy một bức tường bằng đá ở dưới tòa nhà. Ông sững sờ. Bức tường than khóc ấy đã được dựng lên cứ mỗi lần một viên gạch. Đó là giây phút cảm thúc đối với ông. Nếu ông viết mỗi lần một trang, một ngày một lần, ông có thể viết lại quyển sách kia. Và đấy chính xác là những gì ông đã làm.
Bạn có thể viết mỗi lần một trang, mỗi ngày một lần không?
Sự tự do chọn lấy cách thức chúng ta sẽ phản ứng trước bất kỳ tình huống, nan đề hay sự khó nhọc nào, là ân tứ Đức Chúa Trời ban cho hiện có sẵn trong mỗi một người chúng ta. Chúng ta được tự do lựa chọn nhìn xem các hòn đá —các loại đá — và chỉ thế thôi. Chúng ta cần phải tự do đáp ứng dù tiêu cực hay tích cực đối với chiếc giường bằng đá của mình. Đây là một trong các câu chuyện mà tôi rất ưa thích. Chính câu chuyện ngắn mà tôi đã nghe rất nhiều lần có đề tựa là "Cánh Cửa Sổ". Có mấy phiên bản đấy, song hết thảy chúng đều có chung một thông điệp. Đây là câu chuyện nói tới hai người cùng ở chung với nhau trong phòng bịnh. Người nầy được phép ngồi dậy một tiếng đồng hồ mỗi buổi trưa để thoát dịch tràn từ phổi trong khi người kia phải nằm cho thẳng lưng. Hai người sẽ trò chuyện trong nhiều giờ liền. Họ đã bàn bạc về gia đình, công ăn việc làm, sự phục vụ trong quân ngũ của họ và về mọi chuyện khác nữa.
Người có thể ngồi dậy trông mong đến tiếng đồng hồ mỗi trưa khi ông ta có thể tự ngồi dậy nhìn qua cửa sổ cạnh giường mình. Mỗi bữa trưa ông sẽ mô tả những thứ ông nhìn thấy cho người kia biết. Ông nói tới cánh cửa sổ ngó sang một công viên xinh đẹp có cái hồ thật dễ thương lắm. Ông nói tới bầy thiên nga đang lội bơi trên hồ cùng mấy đứa trẻ tung tăng bên mé nước. Ông mô tả các thứ cây cối và bông hoa xinh đẹp điểm trang cho hồ nước ấy. Người kia nằm trên giường ở trong phòng sẽ khép mắt mình lại rồi hình dung ra bối cảnh của bức tranh. Tuy nhiên, sau vài ngày mô tả toàn cảnh bức tranh đẹp cho ông ta, ông ta bắt đầu kinh ngạc: "Tại sao mình có sở thích muốn thấy mọi sự trong khi mình không thể nhìn thấy được điều gì cả? Điều nầy thật không công bằng".
Sau đó một đêm, người nằm gần cánh cửa sổ kia bắt đầu ngạt thở rồi ho vì dịch tràn ra trong phổi. Trong khi người kia để ý thấy bạn cùng phòng của mình phấn đấu và sờ soạng tìm cái nút gọi y tá, ông ta chưa bao giờ sử dụng cái nút của mình để kêu y tá trợ giúp. Chưa đầy năm phút thì người kia đã tắt thở. Sáng hôm sau, các y tá vào đến thì thấy thi thể không hơi sống của người nằm gần cánh cửa sổ. Thế rồi, thi thể ấy được dời đi và để cho thích ứng, người nọ được dời sang chiếc giường nằm cạnh cánh cửa sổ đó. Y tá rất vui vẻ làm theo ý muốn của ông và ông được dời sang đấy. Từ từ và dù có đau đớn, người ấy tự chống tay mình ngồi dậy để có được cái nhìn đầu tiên. Sau cùng, ông ta có được niềm vui tự mình nhìn thấy toàn cảnh đẹp kia. Ông ta đã cật lực để nhìn ra cánh cửa sổ bên cạnh giường. Khi ông ta làm như thế, ông ta chẳng nhìn thấy chi hết trừ ra bức tường gạch.
Bạn nhìn thấy gì khi bạn nhìn qua cánh cửa sổ Nhà Nghỉ Vầng Đá của bạn?
Đây là một việc để suy gẫm. Vùng sa mạc New Mexico, Arizona và California có một vẻ đẹp đặc biệt nếu có ai muốn nhìn xem nó. Tôi đã nhìn thấy vẻ đẹp ấy và không có gì sánh với nó được. Cả hai: chim ruồi và kên kên đều bay trên vùng sa mạc nầy. Tất cả chim kên kên đều nhìn thấy thứ thịt thối rửa, vì đấy là những điều chúng trông tìm. Chúng phát triển nhanh trên tấm thực đơn đó. Còn loài chim ruồi, chúng không màng đến các động vật tươi hay đã chết. Thay vì thế, chúng tìm kiếm những đóa hoa nhiều màu sắc cùng các loài thực vật sa mạc. Loài kên kên sống như chúng muốn. Chúng sống theo quá khứ. Chúng tự làm no mình với thứ đã chết và qua đi. Còn loài chim ruồi (hummingbirds), chúng sống theo những gì là hiện tại. Chúng tìm kiếm sự sống mới. Chúng tự làm no mình với sự tươi mới và sự sống. Từng loài chim đều tìm thấy những gì chúng muốn tìm kiếm. Hết thảy chúng ta cũng vậy.
Giacốp đã làm ra chiếc gối từ những hòn đá rồi "qua đêm tại đó". Phải, ở CHỐN ĐÓ. Chốn nhọc nhằn. Chốn đau thương. Tự nhiên thì chúng ta sẽ không chọn ở lại một mình dù là giây lát nơi Nhà Nghỉ Vầng Đá. Điều nầy được quyết cho chúng ta có lẽ bởi một lỗi lầm dại dột nào đó nơi phần của chúng ta. Hay, điều đó được quyết cho chúng ta bởi Cha khôn ngoan thiên thượng muốn bày tỏ chính mình Ngài ra theo một phương thức mới mẻ. Bất luận lý do có là gì đi nữa, chúng ta đang có mặt tại đó.
Hãy nhớ tới Chuck Colson, một trong những nhân vật tai tiếng trong vụ Watergate không? Ông ta là một trong các cố vấn của Tổng Thống Nixon. Một trong "những người của Tổng Thống", phải nói như thế. Trong khi không xứng gọi là Nhà Nghỉ Vầng Đá khi ông thấy mình ở đàng sau các chấn song của Nhà Tù Liên bang trong mấy tháng sau khi nổ ra vụ Watergate. Và ông phải "qua đêm tại đó", Chuck Colson tóm tắt cuộc sống của mình theo cách nầy trong quyển sách của ông, “Đức Chúa Trời yêu thương”: "di sản thực sự của cuộc đời tôi là thất bại to lớn nhất của tôi — rằng tôi là một cựu tù. Sự nhục nhã lớn lao nhất của tôi — bị nhốt trong tù — là phần khởi đầu trong sự đại dụng long trọng nhất của Đức Chúa Trời cho cuộc đời tôi; qua sự lựa chọn của Ngài, tôi có kinh nghiệm duy nhứt là khoe về sự vinh hiển của Ngài".
Kinh nghiệm biến đổi Nhà Nghỉ Vầng Đá của ông giờ đây là cổ tích rồi. Là nhà sáng lập và lãnh đạo của Prison Fellowship, ông trở thành công cụ có ảnh hưởng mạnh mẽ cho Đấng Christ trong nhiều đời sống hàng trăm người nam người nữ ở đàng sau các bức tường của nhà tù khắp thế giới. Giacốp đã nhận lãnh sự khải thị có tính cách biến đổi trong đêm ông gối đầu nằm nghỉ trên chiếc gối bằng đá kia. Colson đã nhận lãnh y như vậy. Khi họ lần đầu tiên chế tạo các quả banh golfs, họ làm cho lớp vỏ ngoài trơn phẳng. Họ khám phá ra sau khi quả bóng bị nhám đi, người ta có thể đập chúng đi xa hơn. Vì vậy, họ khởi sự chế tạo chúng với lớp da hơi thô. Cũng một thể ấy với sự sống; nó cần một số chỗ xù xì để đưa chúng ta đi xa nhất.
Bây giờ, nếu bạn nghĩ rằng mọi điều tôi đang nói tới nằm trong cách thức trổi hơn thực tế, kỳ thực đó là cuộc cỡi ngựa vào trong vùng đất tưởng tượng, chúng ta hãy nhìn vào những gì được gọi là PHÁT SÚNG ÂN HUỆ (kết liễu hay sự kiện quyết định). Những gì xảy ra kế tiếp đây thực sự là sự kiện quyết định. Kinh thánh chép về Giacốp: "ông nằm xuống mà ngủ". Tôi sẽ đồng ý với phản đối của ai đó muốn nâng câu chuyện nầy lên thành một biến cố tiền lệ là có ai đó khác hơn Giacốp đã thực hiện việc ấy. "Mọi việc sẽ định cứ lời khai của hai hoặc ba người làm chứng" (II Côrinhtô 13:1). Thí dụ, tôi muốn nhắc cho bạn nhớ tới cái đêm mà các ngư phủ "chuyên nghiệp" từ xứ Galilê đã thất bại quanh cơn bão trên biển không giống ai hết. Chiếc thuyền tròng trành với các làn sóng, nhiều đến nỗi mấy gã "chuyên nghiệp" đã la lên: "nầy, chúng ta sẽ bị chìm lĩm chắc chắn giống như mấy cái tên Phierơ, Giacơ và Giăng vậy!"
Nhưng hãy đợi xem! Hãy nhìn vào một lời bình mô tả cái đêm hỗn loạn và gần chết trên Biển Galilê. "Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước; nhưng Ngài đang ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao? … Đoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao?" (Mác 4:37-38, 40).
1. Đây là một trận bão cuồng phong.
2. Những lượn sóng ụp vào thuyền.
3. Thuyền gần đầy nước.
4. Chúa Jêsus đang gối đầu nằm ngủ.
5. Các môn đồ không có đức tin.
Có phải sự kiện nầy trải ra mọi giới hạn thực tế cho bạn nhìn thấy chăng? Đối với tôi là thế đấy. Chúa Jêsus không có chiếc gối bằng những hòn đá song bối cảnh phù hợp với từng tiêu chuẩn cho câu chuyện nói tới Giacốp và thực sự ngủ được khi một người đang ở "giữa vầng đá và một nơi gay go". Nhưng có một trường hợp khác. Trường hợp nầy đến từ một trong những câu chuyện quen thuộc nhất trong sách Công Vụ các Sứ Đồ. "Đang thuở đó, vua Hê-rốt hà hiếp một vài người trong Hội thánh. Vua dùng gươm giết Gia-cơ là anh của Giăng; thấy điều đó vừa ý người Giu-đa, nên cũng sai bắt Phi-e-rơ nữa. Bấy giờ nhằm ngày ăn bánh không men. Vậy, vua bắt người và hạ ngục, phó cho bốn ngũ binh canh giữ, mỗi ngũ có bốn tên lính. Vua toan đợi lúc xong lễ Vượt Qua, thì bắt người ra hầu trước mặt dân chúng. Vậy, Phi-e-rơ bị cầm trong khám, còn Hội thánh cứ cầu nguyện Đức Chúa Trời cho người luôn. Vả, đêm rạng ngày mà Hê-rốt định bắt Phi-e-rơ ra hầu, người đang mang hai xiềng, ngủ giữa hai tên lính, và trước cửa có quân canh giữ ngục" (Công Vụ các Sứ Đồ 12:1-6).
Bạn biết đấy, câu chuyện kết thúc với sự giải cứu lạ lùng của Phierơ bởi tay của thiên sứ. Và bạn cũng nhìn thấy mọi yếu tố trong câu chuyện nầy chỉ ra ông có thể nằm ngủ giống như Giacốp, ở chốn gay go. Chúa Jêsus đã nằm ngủ qua tai vạ trên biển. Phierơ đã nằm ngủ ngon lành, có thể ông đã ngáy khò khò vào buổi tối trước ngày mà ông sẽ bị chém. Đâu là lời cáo lỗi của chúng ta vì không theo gương nêu ra bởi Chúa Jêsus và bởi Phierơ? Sợ hãi chăng? Thiếu đức tin chăng? Đối với các môn đồ trên biển bão giông, họ đã sợ hãi vì thiếu đức tin.
Sợ hãi là sát thủ của đức tin.
Đức tin là sát thủ của sợ hãi.
Tôi có một câu hỏi và rồi tôi muốn đưa ra câu chuyện để minh họa cho quan điểm của tôi. Câu hỏi: Bạn phấn đấu thế nào ở bên trong khi bạn đối diện với những gì bị xem là thách thức dữ dằn nhất? Sau đây là câu chuyện của tôi.
W.A. Criswell, lâu nay là Mục sư của Hội thánh First Baptist ở Dallas cho tới lúc ông hưu hạ cách đây mấy năm, đã thuật lại một câu chuyện nói về một nhà truyền đạo, ông nầy rất thích săn bắn. Nhà truyền đạo đi ra rồi mua hai con chó săn. Ông ta giữ chúng ở sân sau, ở đó ông huấn luyện chúng. Một sáng kia, một con chó rất dữ chạy đến. Ông núp dưới hàng rào và trước khi ông và hai con chó săn kia có mặt trước hàm răng và móng vuốt của nó. Lúc đầu, nhà truyền đạo nghĩ sẽ đưa hai con chó săn mình xuống tầng hầm để tránh đối đầu, nhưng rồi lại quyết định chỉ để cho con chó dữ kia tiếp thu bài học. Sau mấy phút ấu đã với hai con chó săn, con chó dữ quyết định nó đã đánh nhau đủ rồi lui về dưới hàng rào để liếm các vết thương của mình. Sáng hôm sau cũng một việc ấy xảy ra . . . cũng một thời điểm . . . cũng một địa điểm. Rồi sáng hôm sau, và sáng hôm sau nữa. Mỗi sáng con chó dữ lại đến, gầm gừ dưới hàng rào, đánh nhau rồi rút lui dưới hàng rào và con hẽm. Sau thời gian ấy, nhà truyền đạo phải vắng mặt mấy tuần lễ để đến nhóm lại ở buổi nhóm phục hưng. Khi ông trở về, ông hỏi vợ mình về con chó dữ và hai con chó săn kia. Bà đáp: "Ông sẽ không bao giờ tin điều gì đã xảy ra đâu. Mỗi ngày con chó dữ kia trở lại sân sau và đánh nhau với hai con chó săn. Không sót một ngày nào cả. Giờ đây chuyện đã đến một điểm khi hai con chó săn chỉ cần nghe thấy nó trở xuống con hẽm và nhìn thấy nó thu mình dưới hàng rào, ngay lập tức chúng khởi sự rên rĩ và chạy xuống tầng hầm. Con chó dữ kia đến trong sân sau và đi khệnh khạng giống như nó làm chủ ở đấy vậy".
Có thể bạn cảm thấy mình đã "núp ở dưới hàng rào" một thời gian quá lâu. Có thể bạn cảm thấy bạn chưa đủ năng lực để núp thêm một lần nữa ở đó. Có thể bạn cảm thấy mình đã có đủ thứ đã bị đánh bại. Tôi sẽ nói gì đây? Điều tôi có thể thốt ra sẽ hành động như một bàn tay trợ giúp để nhấc bạn đứng trên chân của mình và khích lệ bạn nhận biết bạn không sống một mình đâu!?! Có thể bạn giống như Giacốp, phải nằm ở một chỗ gay go cảm thấy cô độc, bất ổn về tương lai.
Tôi muốn nhắc cho bạn nhớ rằng khi Giacốp "qua đêm tại đó" (Sáng thế ký 28:11), Đức Giêhôva đã hiện ra cùng ông. Ông đã học biết mặc khải về cái thang truyền thông bắc giữa trời và đất. Các thiên sứ đi lên và đi xuống giữa trời và đất cho ông thấy rằng “các sứ giả” của Đức Chúa Trời đang thường xuyên chăm chỉ làm công việc của Đức Chúa Trời. Thế nhưng đối với tôi, đây là phần hay nhất: "Nầy, Đức Giê-hô-va ngự trên đầu thang mà phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời … Nầy, ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ nầy; vì ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi ta làm xong những điều ta đã hứa cùng ngươi" (Sáng thế ký 28:12-15).
1. "Đức Giêhôva ngự trên đầu thang". Ngài đang đứng "bên trên" mọi hoàn cảnh, mọi nan đề, quan phòng "những chiếc gối bằng đá" của chúng ta.
2. Ngài là "Giêhôva Đức Chúa Trời". Ngài là Đấng Tể Trị mọi sự. Chẳng có ai đối địch với quyền phép và năng lực để cứu của Ngài.
3. "Ta ở cùng ngươi …sẽ theo gìn giữ đó…không bao giờ bỏ ngươi". Đúng là những lời hứa gây dựng đức tin, đầy sự bảo đảm và yên ủi. Một âm điệu giống như như âm điệu mà Chúa Jêsus đã hứa và đang thực hiện hôm nay.
4. "Ta sẽ làm xong những điều ta đã hứa". "Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối, Cũng chẳng phải là con loài người đặng hối cải. Điều Ngài đã nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài đã phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?” (Dân số ký 23:19).
Đừng quên điều nầy! "Gia-cốp THỨC GIẤC [phần nhấn mạnh là của tôi], nói rằng: Thật ĐỨC GIÊ-HÔ-VA hiện có trong nơi đây mà tôi không biết!" (Sáng thế ký 28:16). Đối với những ai trong chúng ta, nếu như thấy khó "nhìn thấy" bất cứ sự tốt lành nào trong những việc đang xảy ra khi chúng ta dành thì giờ ở Nhà Nghỉ Vầng Đá, chúng ta hãy nghe lời lẽ của Phaolô. Ông nói: "Cho nên có chép rằng: Ngươi đang ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi" (Êphêsô 5:14). Giacốp đã thức giấc và nói:
"Đức Giêhôva có ở tại Nhà Nghỉ Vầng Đá — MÀ TA KHÔNG BIẾT!"
Nguyện chúng ta "thức giấc" ra khỏi sự lằm bằm của mình.
Nguyện chúng ta "thức giấc" ra khỏi sự than vãn của mình.
Nguyện chúng ta "thức giấc" ra khỏi việc cảm thấy buồn lo cho bản thân mình.
Nguyện chúng ta "thức giấc" ra khỏi việc đưa ra những lời cáo lỗi.
Nguyện chúng ta "thức giấc" ra khỏi việc đổ thừa cho người khác.
Nguyện chúng ta "thức giấc" trước một sự tỉnh thức về lời hứa, sự tiếp trợ và sự hiện diện của Đức Chúa Trời!
Đây là một trong những lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ nhất mà một người có thể thốt ra trong thời gian người ấy ngụ tại Nhà Nghỉ Vầng Đá. Hãy khiến lời tuyên xưng của David trở thành lời tuyên xưng của bạn. Ông nói: "Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã dò xét tôi, và biết tôi. Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; Từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi. CHÚA XÉT NÉT NẺO ĐÀNG VÀ SỰ NẰM NGỦ TÔI, QUEN BIẾT CÁC ĐƯỜNG LỐI TÔI [phần nhấn mạnh là của tôi]. … Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa? Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, ví tôi nằm dưới âm-phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó. Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông, bay qua ở tại cuối cùng biển, tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, Tay hữu Chúa sẽ nắm giữ tôi. Nếu tôi nói: Sự tối tăm chắc sẽ che khuất tôi, ánh sáng chung quanh tôi trở nên đêm tối, thì chính sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa, ban đêm soi sáng như ban ngày, và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa" (Thi thiên 139:1-3, 7-12).
Niềm hy vọng và sự cầu nguyện của tôi, ấy là nếu bạn thấy mình đang ở trong chỗ gay go nơi chiếc gối của bạn, giống như chiếc gối của Giacốp, là một vầng đá mà bạn sẽ để cho đức tin mình thốt ra sự bất an. Hãy tin rằng Đức Chúa Trời đang đứng bên trên mọi hoàn cảnh của bạn và đang tể trị chúng. Hãy tin rằng Ngài là Giêhôva Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng và lời hứa của Ngài — Ta ở cùng ngươi, Ta sẽ giữ gìn ngươi, Ta sẽ không bỏ ngươi và Ta sẽ giữ từng lời hứa mà ta đã lập với ngươi — sẽ được nhận biết cách đầy đủ.
Chúng ta hãy cầu nguyện: "Lạy Cha yêu thương, nhân từ, và có lòng quan tâm ở trên trời, chúng con hướng về Ngài, linh hồn chúng con tìm kiếm sự yên nghỉ và sự yên ủi. Chúng con nhớ đến Lời Ngài phán dạy: "sẽ có một người như nơi núp gió, và chỗ che bão táp; như suối nước trong đất khô, như bóng vầng đá lớn trong xứ mòn mỏi" (Êsai 32:2). Chúng con xưng rằng Cứu Chúa của chúng con, Chúa Jêsus, là nơi ẩn núp của chúng con. Chúng con đến với Ngài để tìm nơi ẩn núp và sự yên ủi tránh bão táp. Ngài là vầng đá lớn che chúng con trong xứ mòn mỏi nầy. Cảm tạ Ngài vì đã ban năng lực của Ngài cho những ai đang mệt mỏi ở trong lòng và trong thân thể. Xin ràng họ bằng sợi dây bình an của Ngài. Xin thêm sức cho họ bằng năng lực Ngài bởi Thánh Linh Ngài trong linh hồn họ. Chúng con cầu nguyện trong danh của Chúa Jêsus”.


Giai điệu: Xin Chúa mở mắt chúng con,
Chúng con muốn nhìn xem Chúa Jêsus.
Rờ đụng và chạm đến Ngài
Và thưa rằng chúng con yêu mến Ngài.
Xin Chúa mở mắt chúng con,
Xin giúp chúng con biết lắng nghe.
Xin Chúa mở mắt chúng con,
Chúng con muốn nhìn xem Chúa Jêsus.
(Tác giả vô danh)