Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

KHỦNG HOẢNG LƯƠNG THỰC TOÀN CẦU ĐANG BÁO ĐỘNG?


(Dịch từ tạp chí The Good News (ISSN: 1086-9514) được phát hành bởi The United Church of God, an International Association, 555 Technecenter Dr., Milford, OH 45150)
KHỦNG HOẢNG LƯƠNG THỰC TOÀN CẦU ĐANG BÁO ĐỘNG?
Tác giả: Becky Sweat
Bạn đã nhìn thấy sự tăng giá thực phẩm mới đây, và trước mắt là không có điểm dừng nào hết. Có phải chúng ta đang nhìn thấy phần khởi đầu của tình trạng thiếu hụt lương thực? Điều gì nằm ở đàng sau xu hướng nầy, va nó sẽ dẫn tới đâu?
Thực phẩm. Đối với phần nhiều người chúng ta thì đây là một điều tất nhiên – cho thấy khi chúng ta bước vào bất kỳ cửa hàng rau quả hay nhà hàng nào rồi mua thứ gì cơ bản chúng ta muốn ăn và dường như chúng ta có đủ thứ thực phẩm không dứt với số lượng không hạn chế phải lựa chọn lấy.
Thế nhưng điều đó đang thay đổi đấy. Chỉ cần liếc nhìn vào hóa đơn của cửa hàng rau quả. Phần nhiều người trong chúng ta không thể có khả năng mua bất cứ thứ gì chúng ta cần, hoặc nhiều như chúng ta muốn. Giá cả thực phẩm đang tăng vòn vọt! Giá cả trái cây và rau quả, sửa, cà phê, đường và thịt bò hết thảy đều đạt tới mức cao nhất.
Tờ Wall Street ghi lại: “Giá cả thực phẩm đang tăng nhanh hơn cả lạm phát. Bảng liệt kê giá cả tiêu thụ cho các khoản thực phẩm thiếu hụt và năng lượng đã tăng hơn 0,8%/năm đến tháng Chín, thấp nhất lần tăng vọt 12 tháng kể từ tháng Ba năm 1961, Văn Phòng Thống Kê Lao Động [the Bureau of Labor Statistics] cho biết. Giá thực phẩm tăng 1,4%" (Julie Jargon and Ilan Brat, "Food Sellers Grit Teeth, Raise Prices," Nov. 4, 2010, emphasis added throughout).
Lạm phát thực phẩm gây khó khăn cho nhiều gia đình
Nhiều người tin rằng giá lạm phát thực phẩm thậm chí còn cao hơn năm sắp tới nữa. Vào tháng 11, Tổ Chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc [the United Nations' Food and Agriculture Organization (FAO)] đã phát ra một báo cáo tiên đoán giá cả thực phẩm sẽ lên từ 10 đến 20% vào năm 2011 và cảnh báo thế giới nên sửa soạn cho "thời điểm khó khăn ở trước mặt" trừ phi sản xuất của các vụ mùa thực phẩm chính gia tăng đáng kể.
Báo cáo của tổ chức FAO cho thấy mức dự trữ gạo thế giới giảm 7,2% vào năm 2010, với lúa gạo giảm đến 35%, bắp 12%, và lúa mì 10%.Sự giảm sút phù hợp với các vụ mùa thất thu. Đáng thất vọng nhất là vụ mùa lúa mì của người Nga, thấp hơn 1/3 mong đợi và đã khiến cho nước Nga — nước xuất khẩu lúa gạo lớn thứ tư trên thế giới — phải chịu ngưng xuất khẫu lúa gạo. Những sút giảm cung cấp như thế nầy đã khiến cho giá gạo phải bùng lên.
Với sự leo thang giá gạo, một vài xí nghiệp thực phẩm, bao gồm Kraft Foods, Sara Lee và General Mills, mới đây đã tuyên bố và bổ sung giá tăng đột xuất các dòng sản phẩm của họ. Một vài siêu thị và dây chuyền thức ăn nhanh của Mỹ, kể cả Safeway, Kroger và McDonald's, đã tuyên bố rằng họ đang tính chuyển giá cả cao hơn như thế nầy sang cho khách hàng.
Tuy nhiên, không những thực phẩm ngày càng đắt đỏ, mà trong những năm gần đây nhiều người Mỹ đã kinh nghiệm thiếu hụt các loại thực phẩm nhất định lần đầu tiên trong cuộc sống của họ. Thí dụ, hầu hết năm 2010 gần như khó tìm thấy bí ngô đóng hộp bán ở Hoa kỳ thích ứng với mưa lớn và lũ lụt làm hư hại mùa bí ngô của nhà cung cấp lớn nhất trong xứ.
Gạo đã rơi vào chỗ thiếu cung cấp vào năm 2008, đã thúc giục những nhà bán lẽ lớn như Walmart và Costco phải hạn chế các túi gạo bán cho khách hàng. Cũng trong năm 2008, những nhà bán lẽ chính ở Nữu Ước đã hạn chế mua bột, đường và dầu ăn, khi cầu vượt xa cung. Nhiều chuyên gia nông nghiệp tin những thiếu hụt nầy là những điều báo trước càng thiếu hụt trầm trọng hơn về thực phẩm trong các năm tới.
Đói kinh niên
Tất nhiên, xuyên suốt lịch sử thế giới, thiếu hụt thực phẩm chưa phải là điều tất nhiên. Theo tổ chức FAO, hơn 1 tỉ người, hay 15% dân số thế giới, đang gánh chịu nạn đói kinh niên và thiếu dinh dưỡng — một là vì họ không thể có được một khoản thực đơn hay thực phẩm lành mạnh vì nơi họ sinh sống không sẵn có. Số người đang chịu đói trên thế giới đã tăng nhanh trong nhiều năm gần đây, lên từ 825 triệu người vào giữa thập niên 1990, và đang tiếp tục tăng nhanh.
Gần như hầu hết người thiếu dinh dưỡng đều sống trong các quốc gia đang phát triển. Tổ chức FAO và Chương Trình Thực Phẩm Thế Giới [World Food Programme] ước lượng 642 triệu người ở Á châu và Thái bình dương phải chịu đói kinh niên, 265 triệu người Châu Phi khu vực hạ Sahara, 53 triệu người ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribbe, 42 triệu người ở Cận Đông và Bắc Phi, và 15 triệu người ở các quốc gia đang phát triển.
Giá cả thực phẩm gia tăng khắp nơi trên thế giới, trong khi thách thức con người sống trong các quốc gia công nghệ cao, đặc biệt rất gay go cho những ai sống trong những nước nghèo.
"Khi giá thực phẩm tăng vọt, số người có thu nhập thấp trong thế giới đang phát triển họ sẽ bị động nhiều nhất, khi phần thực phẩm trong toàn bộ tiêu dùng của họ cao hơn phần thực phẩm của số dân cư giàu có" Dan Gustafson lưu ý, ông là Giám đốc của văn phòng liên lạc tổ chức FAO tại Washington, D.C.
Thực phẩm tương ứng khoảng 10 đến 20% người tiêu thụ sử dụng trong các quốc gia công nghệ cao, nhiều bằng 60 đến 80% trong các quốc gia phát triển, theo FAO. Thí dụ như, khi giá một túi gạo lên 20%, phí phụ giá sẽ chiếm một phần lớn thu nhập của một hộ tính theo hộ ở Bangladesh nhiều hơn phụ phí cho một hộ gia đình ở Canada.
Đáng ngại thay, hoàn cảnh trông không như sẽ cải thiện cho một tương lai gần. Gustafson cảnh báo: "Chúng ta không gia tăng đủ thực phẩm, và quá nhiều mùa màng của chúng ta đang thất thu hay đang có những cánh đồng đầy thất vọng, vì thế chúng ta sẽ không có dự trữ thực phẩm nhiều cho được. Tuy nhiên, cùng thời điểm ấy, nhu cần về thực phẩm đang gia tăng".
Nhiều mối quan tâm càng sâu sắc thêm khi nhìn vào bức tranh có thời hạn lâu dài. Với số dân cư của thế giới sẽ lên tới 9 tỉ người vào năm 2050, nhu cần về thực phẩm sẽ tăng vọt đến 110%, theo Julian Cribb, giáo sư Đại học đường Technology ở Sydney, nước Úc, và là tác giả của quyển The Coming Famine [Nạn Đói Sắp Đến] in vào năm 2010..
Ông tin các thiếu hụt thực phẩm trầm trọng là điều khó tránh được, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển và "các thành phố lớn có hàng triệu dân cư", ở đó hầu hết dân số gia tăng đang diễn ra. Những nước giàu sẽ bị va chạm chủ yếu với thiếu hụt thực phẩm và giá cả tăng vọt (khan hiếm thực phẩm gây ra lạm phát nơi giá cả thực phẩm). Tuy nhiên, ở các nước nghèo, sự thiếu hụt ấy sẽ gây ra con số người bị đói kém nhiều hơn.
Nhưng cho dù các khu vực không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nạn đói, đói sẽ trở thành một nan đề cấp thế giới, theo Giáo sư Cribb. Sở dĩ như thế là vì các vấn đề phụ thuộc sẽ tăng lên. Ông viết: "Những thiếu hụt về thực phẩm, đất đai và nước sạch sẽ đẻ ra chiến tranh, bất ổn về chính trị, và số đông dân chúng tị nạn chạy đến định cư từ các khu vực tệ hại bị ảnh hưởng nhiều nhất".
"Ngay cả những địa điểm thuộc vùng sâu vùng xa có thể đối mặt với làn sóng tị nạn có thể lên tới cả chục triệu người, đe dọa sự thay đổi quan trọng trong xã hội. Các nhà cầm quyền trên nhiều quốc gia có thể sụp đổ dưới sự ồ ạt người ta đang trốn chạy khỏi các vùng thảm họa. Từng quốc gia sẽ đối mặt với viện trợ nặng nề hơn và các gánh nặng về thuế khóa và thực phẩm gia tăng như một kết quả" (The Coming Famine, p. 147).
Những lời tiên tri về nạn đói trong Kinh thánh
Chắc chắn nhân loại đã đối mặt với những lần thiếu hụt thực phẩm xuyên suốt lịch sử. Nhưng hầu hết đều ngắn ngủi và có một kết thúc rõ ràng trước mắt. Tuy nhiên, khủng hoảng về lương thực mà chúng ta đang dối diện với trong lúc bây giờ thì lại khác xa. Trước đây chưa hề có hơn 1 tỉ người bị đe dọa với nạn đói và thiếu dinh dưỡng bao giờ. Trước đây chưa hề có thiếu hụt thực phẩm là một mối bận tâm cho cả thế giới đâu.
Trong lời tiên tri của Ngài về thời kỳ tận thế được đưa ra rất ngắn gọn trước sự chết và sự phục sinh của Ngài, Chúa Jêsus nói với các môn đồ Ngài rằng nạn đói sẽ là một trong những dấu hiệu nói tới kỳ tận thế của kỷ nguyên nầy (Mathiơ 24:7). Thiếu hụt thực phẩm, cùng với chiến tranh, dịch lệ, và các tai vạ thiên nhiên khác, sẽ leo thang trước lần đến thứ hai của Ngài. Lời cảnh cáo nầy được ghi lại ở Mác 13:8Luca 21:11.
Có lẽ nhiều cuộc chiến tranh trong thời kỳ nầy sẽ nhắm vào các nguồn cung cấp thực phẩm, và bịnh tật sẽ lan rộng thích ứng với tình trạng thiếu dinh dưỡng. Có lẽ điều đó cũng nói tới các tai họa thiên nhiên đã được nói trước, chúng sẽ đem lại nhiều thiếu hụt về mặt nông nghiệp.
Tất nhiên, nạn đói phát sinh không những từ thiên nhiên gây ra mà còn từ những chính sách sai trái của nhà cầm quyền. Trong thế kỷ qua, nổ lực của nhà lãnh đạo Liên sô là Joseph Stalin muốn chiếm lấy vùng đất nông nghiệp của người Ukrain đã kết quả khoảng 4 triệu nông dân phải chết mất (The Sunday Times, Nov. 13, 2009). Và theo Kinh thánh, nhiều việc sẽ rơi vào chỗ tồi tệ nhất trong các năm sắp tới.
Nạn đói có mặt giữa vòng những điều xảy ra khủng khiếp trong kỳ tận thế được thể hiện qua bốn người cỡi ngựa trong sách Khải huyền, là điều được mô tả ở Khải huyền 6. Con ngựa thứ ba và người cỡi nó, được mô tả ở các câu 5-6, tiêu biểu cho nạn đói và các tình trạng kinh tế khắc nghiệt: "Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tôi nghe con sanh vật thứ ba nói: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa ô. Kẻ ngồi trên ngựa tay cầm cái cân. Tôi lại nghe ở giữa bốn con sanh vật như có tiếng nói rằng: Một đấu lúa mì bán một đơ-ni-ê, ba đấu mạch nha bán một đơ-ni-ê, còn dầu và rượu chớ động đến".
Vào thời điểm mấy câu nầy được viết ra, một đơniê là tiền công trung bình người lao động nhận được cho một ngày làm việc. Quyển The Expositor's Bible Commentary nói như sau về phân đoạn nầy: "Số [tiền] nầy chi ra giá thực phẩm khoảng 12 lần cao hơn bình thường ... và ám chỉ tình trạng lạm phát và tình trạng đói kém ... Một đấu lúa mì sẽ cung ứng thức ăn một ngày cho một người trung bình. Mạch nha do người nghèo sử dụng để trộn với lúa mì". Phần dặn dò chớ đụng đến dầu hay rượu ám chỉ rằng chúng cũng sẽ ở trong tình trạng khan hiếm.
Lời tiên tri nầy nói trước một thời kỳ khi con người chỉ nên nhắm vào điều chi là cần thiết —chỉ để tồn tại mà thôi. Đây sẽ là một thời kỳ đói kém nặng nề không giống như nạn đói nào ở quá khứ và cả toàn cầu trong cái chạm của nó.
Chúng ta đang ở gần với nạn đói trong kỳ tận thế toàn bộ như thế nầy là dường nào. Chúng ta có thể đang chứng kiến những khởi đầu của một cuộc thiếu hụt thực phẩm ngày càng tăng trong lúc bây giờ. Ít nhất là chúng ta đang nhìn thấy những thiếu hụt về thực phẩm đang gia tăng thật gắt gao, y như Chúa Jêsus đã nói trước từ lâu trong lời tiên tri nầy.
Các đe dọa chính cho nguồn cung cấp lương thực thế giới
Không những chúng ta có lời tiên tri trong Kinh thánh nói tới sự thiếu hụt lương thực, mà chúng ta còn nhìn thấy nhiều yếu tố khác nhau đang bày biện ra trong thế giới chung quanh chúng ta, mỗi yếu tố đều chỉ thẳng vào tình trạng khan hiếm lương thực trên toàn cầu. Điều đó chỉ ra rằng một vài yếu tố nầy phát sinh từ các nhà cầm quyền cùng những chính sách đang gây trở ngại với sản phẩm và sự phân phối, làm méo mó thị trường và chối bỏ con người các quyền tự do kinh tế có thể ngăn ngừa hay làm giảm bớt một số nan đề nầy. Với điều đó trong trí, một số lời đe dọa to lớn nhất cho nguồn cung cấp lương thực thế giới là:
Dân số quá tải. Trong mấy năm gần đây, dân số thế giới đã gia tăng gần 1,3%/năm. Đấy là tỉ lệ thấp hơn tính từ cao điểm xảy ra cách đây mấy thập niên (2,1%/năm vào các năm 1965-1970). Tuy nhiên, một khi tỉ lệ tăng trưởng nầy nhắm vào cơ sở dân số đông hơn nhiều, con số tuyệt đối của người mới mỗi năm (90 triệu) đang ở tầm cao của mọi thời đại, theo thống kê của World Bank [Ngân hàng Thế giới]. Đại đa số sự tăng trưởng dân cư trên thế giới — khoảng 90% — đều ở trong các quốc gia đang phát triển.
Theo quyển The Coming Famine, Cribb trưng dẫn nhà khoa họa nông nghiệp Derek Tribe: "Nếu không còn tiếp tục kiểm tra, sự tăng trưởng theo số mũ — dù ở tỉ lệ giảm — sẽ có tai họa cho hành tinh Địa Cầu. Các tài nguyên hạn chế như nước, đất, thực vật, rừng, thú vật, năng lượng và khoáng sản, trên đó toàn thể nhân loại đang nương vào, chắc chắn sẽ bị hủy diệt, sút giảm, tiêu tán hay đã được sử dụng hết" (p. 154).
Nhiều nhà khoa học đang vang tiếng cùng một lời cảnh báo — rằng địa cầu của chúng ta sẽ không thể chịu nổi một dân số con người tăng vô hạn định, đặc biệt chiếu theo thực đơn kiểu Tây phương. Và khi thị trường tự do của nhà nước xen vào sẽ có sự điều tiết thích nghi cho số dân cư lớn lao hơn, đấy không phải là cách thức của thế giới.
Nhu cầu tiêu thụ. Nhu cầu tiêu thụ thịt đang tăng lên trên toàn cầu, đặc biệt ở các nền kinh tế đang nổi lên ở Trung hoa, Ấn độ và Brazil. Gustafson lưu ý: "Thu nhập của họ tăng lên, và giờ đây họ có thể sử dụng 'thực đơn Tây phương', nghĩa là ăn nhiều thịt"
Trong 30 năm qua, lượng tiếp thu thịt hàng năm của Trung hoa gấp bốn lần 109 cân cho một người, trong khi lượng tiêu thụ thịt tính theo đầu người của Brazil đã gấp đôi 197 cân/năm lượng tiêu thụ thịt tính theo đầu người cũng gia tăng ở Hoa kỳ, từ 234 cân/năm vào năm 1980 đến 273 cân ngày nay, theo USDA.
Gustafson giải thích: "Sự gia tăng chế độ ăn uống nầy đòi hỏi gạo nhiều chất lượng hơn để nuôi gia súc và gà, sánh với thực đơn truyền thống nhắm vào gạo thì họ ăn nhiều hơn trước đây". Theo một số đánh giá, cần từ 8 đến 10 cân lúa mì để tạo ra một cân thịt bò, và 3 cân bắp để tạo ra một cân thịt gà. Đổi lại, điều nầy đưa ra nhiều mức cung về gạo trên thế giới hơn.
Đánh cạn cá. Thị trường cá của thế giới đang hẹp dần đi, bị tàn phá bởi xí nghiệp hiện đại kỷ thuật đánh bắt cá nhắm mục tiêu và đánh bắt số đông các loài cá. "Mức cầu về cá đã trở nên cao ở một số nơi trên thế giới, cá được đánh bắt từ những đại dương thì nhanh hơn là họ có thể tái sản xuất".
Về mặt toàn cầu, lượng tiêu thụ cá tính theo đầu người đã gia tăng từ 23 đến 36 cân/năm hơn ba thập niên qua, theo báo cáo trích từ cơ quan Millennium Ecosystem Assessment. Đồng thời, thị trường cá đã giảm sút trên các đại dương tới điểm mà họ "đang ở gần hay gắng sức khai thác tối đa của họ" tường trình cho biết như vậy.
Tổ chức FAO phát ra một lời cảnh cáo tương tự vào năm 2008, cho biết rằng "tiềm năng đánh bắt cá tối đa" cho các đại dương trên thế giới cũng y như ao hồ, sông rạch, có lẽ đã đến tận điểm rồi.
Tổ chức bảo tồn đại dương cấp quốc tế là Oceana, cảnh báo rằng đánh bắt cá trên đại dương có thể suy sụp ở thập niên 2040 thích ứng với thị trường đánh cạn cá. Điều nầy sẽ rơi vào thời điểm khi sản phẩm lương thực cần phải tăng gấp đôi. Nếu hàng tỉ người cần tiếp lấy lượng protein cho họ từ các loài cá sẽ không còn được nữa đâu, họ sẽ cần lấy thứ ấy từ đất — đưa ra nhiều mức cầu hơn vào các bầy gia súc và công nghệ về gà nuôi.
Thiếu nước. Ở nhiều khu vực nông nghiệp, nước sử dụng được rất hiếm và sẽ càng hiếm đi trong những năm tháng hầu đến, David Molden nói, ông là tổng giám đốc viện nghiên cứu International Water Management Institute (IWMI). Các khu vực trồng lúa ở miền Bắc Trung Hoa, Ấn độ và lòng chảo Murray-Darling của Úc, cũng như các khu vực nông nghiệp ở miền Tây Hoa kỳ, Mexico và Pakistan, đang đối mặt với các tình huống "thực sự gay go" về nước, ông cảnh báo.
Hiện nay, nhà nông sử dụng khoảng 70% nước sạch của thế giới để trồng cây lương thực. Các vụ mùa đã dẫn thủy nhập điền từ sông ngòi, hồ ao, bễ chứa và các tầng ngậm nước, là điều khởi sự cho sự khô hạn ở một số khu vực.
Đến năm 2030, khi các thành phố mở rộng trong khu vực, dân số mức cầu về nước gia tăng, cơ quan IWMI hình dung các nhà nông sẽ có khoảng phân nửa lượng nước sạch sẵn có để lo cho vụ mùa của họ — thật là nghịch lý vào thời điểm khi mọi nhu cầu về thực phẩm của thế giới sẽ tăng đến gần 50%.
Molden nói: "Nông nghiệp và các phương pháp nước tưới phải thay đổi để thế giới sản xuất ra đủ lương thực". Khoảng 70% nước được nhà nông sử dụng không hề đến với các vụ mùa và bị thất thoát qua các ống dẫn thủy nhập điền bị rò rĩ. Nhiều hệ thống phân phối nước quí giá sẽ làm cho việc tưới tiêu được hiệu quả hơn.
Tất nhiên, thực tế cho thấy chẳng có việc thiếu hụt nước trên địa cầu. Bầu khí quyển và các đại dương thì đầy dẫy với nước. Vấn đề sử dụng lượng nước nầy là vấn đề rất đắt giá. Một thị trường tự do thực sự ở dưới một luật lệ thích ứng sẽ giúp làm cho giá cả giảm xuống, đưa lượng nước đến cho những ai đang có cần. Nhưng đấy chẳng phải là thế giới mà chúng ta đang sinh sống trong đó.
Mất đất trồng trọt. Nhiều quốc gia đang sử dụng đất có ích cho nông nghiệp, làm hạn chế gay gắt sản phẩm lương thực. Tổ chức FAO cảnh báo rằng một phần tư đất nông nghiệp của thế giới bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái nghiêm trọng, lên từ 15% hai thập niên qua.
Tờ The Futurist đăng một bài giải thích tình trạng nghiêm trọng của tình huống: "Sự xói mòn đất hiện đang làm giảm đi tình trạng sản xuất vốn có của khoảng 30% đất nông nghiệp của thế giới. Ở một số quốc gia, tình trạng nầy làm giảm thiểu sự sản xuất lúa gạo bởi phân nửa hay hơn ba thập niên vừa qua”.
"Những trận bão cát lớn cuất phát từ Hạ Sahara Phi châu, miền Bắc Trung hoa, miền tây Mông cổ, và Trung Á nhắc cho chúng ta nhớ rằng việc đất mất đi tầng lớp mặt không những còn tiếp diễn mà còn đang lan rộng nữa. Các sa mạc đang tăng dần ở Trung hoa — kết quả của việc chăn thả quá mức, cày cấy quá mức, và sự phá rừng — đã buộc lìa bỏ từng phần hay hoàn toàn của khoảng 24.000 ngôi làng và đất nông nghiệp ở chung quanh họ" (Lester Brown, "How to Feed 8 Billion People," January-February 2010).
Đồng thời, các thành phố trên thế giới đang vươn dài ra, đang nuốt chửng hết một số đất nông nghiệp tốt nhứt của địa cầu. Trong quyển The Coming Famine Cribb lưu ý: "Cái điều đáng đánh giá, ấy là giữa 20.000 và 40.000 km2 (77-154 dặm vuông) trong quốc gia trồng trọt tốt bị chuyển thành 'rừng bêtông' mỗi năm" (p. 58).
Kết quả là một sự giảm sút số lượng đất đai để trồng cây lương thực. Cribb liệt kê bản nghiên cứu được Rabobank thực hiện, nói rằng "khu vực sản xuất lương thực đã giảm sút từ 0.45 hectare (1,1 mẫu) cho từng người vào thập niên 1960 đến 0,23 hectare (0,6 mẫu) hiện nay và sẽ giữ việc giảm thiểu nữa một khi dân số gia tăng, khoảng 0,18 hectare (0,4 mẫu) vào năm 2050" (p. 48).
Cribb tóm tắt lại khủng hoảng đất nông nghiệp với phần lưu ý đáng kể sau đây: "Các thành phố hiện đại, từng cung cấp nhiều lương thực, đặc biệt trong hình thức trái cây, rau sạch và gà sống — đặc biệt là ở Á châu — đã hoạch định và phát triển theo những phương thức xóa bỏ nông nghiệp từ bên trong chu vi thành thị. Đây là một mảng mù quáng phi thường nơi phần của những nhà phát triển đô thị ngày nay . . . điều nầy chắc sẽ đưa một số thành thị lớn lọt vào bẫy chết chóc trong biến cố sút giảm cung cấp lương thực trầm trọng trong tương lai" (p. 59).
Khủng hoảng về phân bón. Kể từ thập niên năm 1960, các nông trường trên khắp thế giới đã nương vào việc sử dụng phân bón hóa học, mà nhiều nông trường mua chịu để tăng thu nhập gấp ba lần về sản phẩm lương thực trong 50 năm qua. Nhưng giờ đây phân bón rơi vào chỗ cung cấp hạn chế, và giá cả của nó đang leo thang, chạy theo với giá lương thực.
Vấn đề là, sự phát sinh mức cầu về sản phẩm lương thực đã tăng theo giá phân bón khi các quốc gia lo tích trữ nguồn cung cấp cho chính họ. Thêm vào các mối quan tâm, ấy là một trong những yếu tố chính là phân bón, phốtpho, hiện đang khan hiếm. Có người đã tiên đoán trước rằng vào đầu năm 2035, mức cầu dành cho phốt pho sự vượt quá mức cung.
Writes Cribb: "Các vụ mùa lương thực chính của thế giới được đánh giá phải có tới 12 triệu tấn (13.2 triệu tấn ở Mỹ) phốtpho mỗi năm, trong khi chỉ có 4 triệu tấn phốtpho lấy từ đá thiên nhiên hay chất trầm tích. Nền văn minh nổi bật nầy đang nương cậy vào nguồn cung cấp phân bón nhân tạo, và tình trạng bị động ngày càng tăng của chúng ta đối với bất kỳ sự thiếu hụt hay giảm sút ở mức cung ... Khắp thế giới, nông dân ngày nay sử dụng 7 lần phân bón nhiều hơn họ đã sử dụng cách đây một nửa thế kỷ" (pp. 71-73).
Cribb và một số chuyên gia nông nghiệp khác đang lấy làm lo sẽ chẳng có đủ phân bón để bung ra khắp nơi trong tương lai.
Sản xuất khí đốt. Theo sau đà gia tăng vào năm 2005 về giá khí đốt ở Mỹ, gạo được sử dụng càng tăng để sản xuất khí đốt nhiều hơn là lương thực thích ứng với chính sách bừa bãi của nhà nước. Nhiều người, giống như David Pimentel, một nhà khoa học về nông nghiệp với Đại học đường Cornell, rất quan tâm đến việc nhắm vào nhiên liệu theo cách như vậy đang lấy đi đất nông nghiệp hữu ích không còn sản xuất lương thực được nữa ở Hoa kỳ. "Hiến đất cho việc tăng khí đốt làm tăng thêm nan đề suy dinh dưỡng khắp thế giới bằng cách đổi gạo là thứ thực phẩm cần thiết nhất thành khí đốt" ông cảnh báo.
Không những điều nầy đã kết quả trong chỗ thiếu gạo tiêu thụ, mà nó còn gây ra sự tăng giá lương thực nữa. Pimentel nói: "Việc sử dụng bắp thay cho ethanol làm tăng giá thịt bò, gà, trứng, bánh mì, ngũ cốc và sữa ở Mỹ từ 20 đến 30%".
Bất kỳ thực phẩm nào có gạo hay thậm chí xirô bắp là một yếu tố hiện đang tăng giá. Điều nầy bao gồm cả thịt, một khi gạo được sử dụng nuôi bầy gia súc hay gà. Toàn bộ tình huống dường như nhiều quá không nắm bắt hết được — chúng ta cần nhiên liệu cho xe cộ, nhưng chúng ta cũng cần đồ ăn để sống nữa. Tuy nhiên, bao lâu giá dầu mỏ vẫn còn cao, chính sản xuất khí đốt sẽ bị đình chỉ bất kỳ lúc nào, không bao lâu nữa.
Đầu tư thấp vào khoa nông nghiệp. Tỉ lệ tăng trưởng của nghiên cứu nông nghiệp đang giảm nhanh kể từ cuối thập niên 1970. Các nhà cầm quyền quốc gia và khu vực, người hiến dâng và nhà đầu tư, các học viện đại học hết thảy đều cắt giảm ngân sách cho loại nghiên cứu nầy.
Cribb viết: "Các nhà quyền lực về tri thức nông nghiệp — Hoa kỳ, Đức, Pháp, Nhật bản, Canada và Úc — đã từ bỏ khoa nông nghiệp để theo đuổi kỷ thuật khác là El Dorados. Một báo cáo bởi Alex Evans cho Học Viện Hoàng Gia Anh Quốc về các vụ việc quốc tế nói rằng giữa 1980 và 2006 sự cân đối ngân sách viện trợ của thế giới hầu làm tăng sản lượng lương thực giảm từ 17 xuống còn 3%" (p. 104).
Gustafson nói thêm: "Sự tụt hậu giữa nghiên cứu và đà gia tăng sản phẩm nông nghiệp đang tăng từ 35 năm, đây là lý do tại sao trong một số trường hợp chúng ta mới đang khởi sự nhìn thấy bằng chứng của sự suy giảm nầy trong việc chi tiêu của R&D qua sự giảm sút sản phẩm". Điều nầy có ý nói nông dân sẽ chẳng có bao nhiêu kỷ thuật mới để giúp đỡ cho họ giữa lúc bây giờ và năm 2030 — vào thời điểm mà chúng ta thực sự có cần đến nó.
Những thay đổi về khí hậu và khuôn mẫu thời tiết. Thật là quan trọng khi nhớ rằng một số yếu tố mà các nông gia dựa vào để trồng tỉa mùa màng của họ và nuôi bầy gia súc của mình đã vượt quá quyền điều khiển của con người — nghĩa là cấp độ mưa, ánh sáng mặt trời và thời tiết khí hậu. Với những điều đang diễn ra ngày càng tăng, các yếu tố nầy dường như không còn đáng tin cậy nữa. "Mọi khuôn mẫu thời tiết đang thay đổi, và dường trở thành khắc nghiệt không thể tin được", Gustafson lưu ý.
Tường trình năm vừa qua, hơi nóng và hạn hán nổ ra, thường dẫn tới dễ cháy, đã hoành hành các khu vực nông nghiệp khắp cả Hoa kỳ, Nga sô, Ukraine, Kazakhstan, Ấn độ và Brazil, gây tàn hại cho các vụ mùa. Mưa lớn, gió mùa hay bão tố đã gây lụt lội vùng đất nông nghiệp ở Pakistan, Trung hoa, Niger, Vương quốc Anh, châu Âu và phần nhiều nơi trên đất Mỹ vào mùa hè qua, cụ thể tẩy sạch các cánh đồng hoặc gây ra thất thu các vụ mùa. Các quốc gia khác đã mất hết mùa màng vì lạnh giá, thời tiết lạnh lẽo thật bất hợp lý, mưa đá và gió xoáy.
Hạ Sahara Phi Châu, khu vực nghèo nhất của thế giới và là nơi nương dựa vào nông nghiệp để tồn tại, là khu vực của thế giới bị đe dọa nhiều nhất do các thay đổi khuôn mẫu thời tiết, theo tổ chức FAO. Khoảng 95% đất nông nghiệp của khu vực được mưa thấm tưới, đã trở thành khô hạn, đây là một nan đề nổi bật cho nhiều thập niên.
Các chứng bịnh nổi cộm trong nông nghiệp. Với du lịch và giao thông quốc tế ngày càng tăng, những thay đổi trong các hệ thống nông nghiệp và khuôn mẫu thời tiết, và việc dọn sạch các khu rừng chưa có ai chạm đến trước đây, nhiều vật gây hại và bịnh tật nông nghiệp đã nổi lên trong các thập niên gần đây. Bảng danh sách bao gồm bịnh bò điên, bịnh lở mồm long móng, ngày càng tăng, sốt heo châu Phi, bịnh cúm gà, bịnh Newcastle, và sốt Rift Valley — hết thảy các chứng bịnh nầy đã trút cơn giận xuống bầy gia súc và các nhà chăn nuôi, gây ra thiệt hại to lớn trong sản xuất.
Các chứng bịnh của mùa màng càng tăng thêm, thì có sự quan tâm càng lớn ngay bây giờ là chứng UG99, một loại nấm gây suy nhược tấn công lúa mì và các loại ngũ cốc khác, thủ tiêu từ 90 đến 100% mùa màng nào bị nhiễm. UG99 tạo ra những mụn mủ màu đỏ trên thân lúa mì, nó có thể bung ra và lan rộng vô số theo chiều gió.
Tờ Southeast Farm Press ghi lại: "Chứng UG99 bị nhiễm lần đầu tiên ở Uganda vào năm 1999 — vì vậy cái tên — nằm ở vùng Đông Phi. Kể từ đó, chứng bịnh nầy lan rộng sang các quốc gia châu Phi khác và mới đây đã được tìm thấy ở Iraq, Iran và Afghanistan ... Nhà nghiên cứu bệnh thực vật học là ở Virginia Tech là Erik Stromberg lưu ý việc nhiễm UG99 vào Hoa kỳ là một vấn nạn chớ không phải chỉ là “nếu” không đâu. Stromberg nói: 'Với mọi nhân lực trong quân đội, chúng ta có thể khoanh tròn vùng Trung đông, việc nầy đã là khó rồi, nếu không phải là bất khả thi khi muốn ngăn ngừa mầm mống chứng bịnh không nhắm vào nước Mỹ' " (Roy Roberson, "UG99 a Future Threat to U.S. Wheat Growers," July 7, 2010).
Nghiên cứu đánh giá rằng 85% lúa mì của thế giới với sự đa dạng của chúng rất dễ nhiễm đối với chứng bịnh nầy. Chưa có một phương chữa chạy nào được biết đến.
Các nguyên nhân về mặt thuộc linh. Những gì nằm ở đàng sau cuộc khủng hoảng lương thực hiện có ngày hôm nay của chúng ta tự nhiên là thuộc về mặt thuộc linh. Nhân loại trong vai trò một tổng thể đã chối bỏ Đức Chúa Trời, và Ngài không chúc phước cho các quốc gia với những điều kiện cần thiết để có những mùa gặt bội thu và bầy gia súc lành mạnh.
Điều nầy chẳng có gì mới mẻ cả. Cách đây hàng ngàn năm, khi Đức Chúa Trời đem dân Israel ra khỏi Aicập, Môise đã nói cho dân sự biết rằng nếu họ tuân theo luật pháp của Đức Chúa Trời, họ sẽ được phước với "mưa thuận mùa" và những cánh đồng nông nghiệp thật trù phú. Tuy nhiên, nếu họ nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời, mùa màng của họ sẽ mất ráo và các bịnh dịch sẽ hành hại bầy gia súc của họ (Lêvi ký 26:14-22; Phục truyền luật lệ ký 28:18).
Đức Chúa Trời cũng cảnh cáo rằng, vì cớ sự bất tuân: "Các ngươi gieo mạ luống công, quân thù nghịch sẽ ăn hết" và Ngài còn cảnh cáo thêm Ngài sẽ "dẫn sự đói kém đến" (Lêvi ký 26:16, 26).
Khi phần đạo đức, giá trị và sinh hoạt của xã hội giảm sút ở cuối kỷ nguyên nầy, thiếu hụt lương thực — thích ứng với thời tiết xấu, tai họa trong thiên nhiên, bịnh tật trong nông nghiệp, v.v… — một lần nữa là công cụ mà Đức Chúa Trời sẽ sử dụng để lôi kéo sự chú ý của con người.
Một thế giới dư dật hầu đến!
Thế giới đang đối mặt với những rào chắn liên quan tới lương thực rất rộng lớn. Cribb tóm tắt phần thách thức như sau: Việc xuất khẩu lương thực khắp thế giới cần phải tăng gấp đôi trong 40 năm tới, với việc không sử dụng đủ nước, đất đai, năng lượng và phân bón, và với sự thiếu thốn kỷ thuật mới cần phải có.
Trong 20 năm tới đây, các chuyên gia dự tính một sự phát triển 33% dân số trên khắp thế giới. Cribb cảnh cáo: "Kết hợp với phần tiêu thụ thịt ngày càng tăng khi giai cấp trung lưu trên toàn cầu tăng nhiều lên, [điều nầy] có nghĩa là sản phẩm lương thực phải tăng trưởng ít nhất 50% trong cùng một thời kỳ". Nói cách khác, dân số thế giới và người tiêu thụ đòi hỏi một sự gia tăng khoảng 2%/năm. Tuy nhiên, thực phẩm phân phối ra chỉ tăng khoảng 1%/năm.
Một số nghiên cứu nông nghiệp giờ đây đang được thực hiện, nhưng "chưa đủ", Gustafson nói.Những nhà nghiên cứu mùa màng đang tạo ra nhiều giống lúa mì mới với hy vọng tìm được giống nào miễn nhiễm nấm UG99. Các nhà khoa học về gia súc đang làm việc theo các phương thức tạo ra thịt để người ta ăn ít đi. Những nhà nghiên cứu đang ra sức phát triển khí đốt sử dụng ít bắp đi. Các kỷ sư về di truyền đang nổ lực phát triển các loại giống mới kháng bịnh và kháng hạn. (Tất nhiên, cho dù họ có thành công, vẫn còn có việc lớn phải lo về sự đối kháng với các thứ giống được thay đổi nhiều trên thế giới).
Các nhà khoa học có thể có khả năng thực hiện một số cải thiện về lương thực cho nguồn cung cấp trên toàn cầu trước khi chúng ta nhìn thấy sự ứng nghiệm của Khải huyền 6. Mặc dù vậy, khoa học không hoàn toàn giải cứu chúng ta. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể cung cấp giải pháp thật cho cuộc khủng hoảng lương thực và nạn đói. Và Ngài sẽ.
Một ngày nào đó trong tương lai, Đức Chúa Jêsus Christ sẽ tái lâm để thiết dựng chính quyền nhơn từ của Đức Chúa Trời ở trên đất. Đây sẽ là một sứ mệnh giải cứu để cứu vớt nhân loại ra khỏi chính nó (Mathiơ 24:21-22). Đấng Christ sẽ trị vì trong 1.000 năm với các thánh đồ đã được biến đổi bởi Thánh Linh Ngài, họ sẽ dạy cho nhân loại biết về đường lối sống của Đức Chúa Trời (Khải huyền 20:4-6). Điều nầy bao gồm các nguyên tắc của sự tự do thật — kể cả tự do về kinh tế.
Các nước sẽ được phước với thời tiết tốt, mùa màng dư dật và đồng lúa phì nhiêu. Amốt 9:13 cho chúng ta biết: "Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, kẻ cày sẽ theo kịp kẻ gặt, kẻ đạp nho theo kịp kẻ gieo giống. Các núi sẽ nhỏ rượu ngọt ra và mọi đồi sẽ tan chảy'" Ngay cả sa mạc cũng sẽ trổ hoa và nở ra như bông hường (Êsai 35:1-2, 6-7). Đây sẽ là một kỷ nguyên bình an, thịnh vượng và dư dật. Đói kém sẽ là một việc của quá khứ.
Chắc chắn các tin tức liên quan tới nông nghiệp ngày nay không phải là vui vẻ đâu và có thể gây ra nhiều sợ hãi rúng động. Tuy nhiên, chúng ta không cần phải sợ thiếu hụt lương thực hay bất kỳ nan đề trầm trọng nào khác mà thế giới nầy đang đối diện. Đức Chúa Trời đang nắm lấy quyền tể trị. Ngài ý thức rõ mọi nan đề trên địa cầu và sẽ can thiệp khi đến lúc thuận tiện.
Chúng ta luôn luôn cần phải ghi nhớ điều đó. Một thế giới mới đang tới đến, trong đó Đức Chúa Trời sẽ đổi rủa sả thành phước hạnh. Đúng là một thời kỳ tuyệt vời mà ai nấy đều có quyền trông mong!



Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Khải huyền 2:8-11: "Khi Cuộc Sống Đi Tới Chỗ Tồi Tệ"


Khi Cuộc Sống Đi Tới Chỗ Tồi Tệ
Khải huyền 2:8-11
Sự việc xảy ra khi tôi đang viết mấy lời nầy từ phòng khách sạn của tôi ở tại Seoul, Nam Hàn. Trong mấy ngày nữa, chúng tôi sẽ bay sang Dalian, Trung hoa, ở đó chúng tôi sẽ gặp gỡ với các sinh viên Cơ đốc đến từ mấy trường đại học địa phương. Hết thảy chúng ta đều biết rằng cuộc sống trong vai trò một Cơ đốc nhân là không dễ dàng tại Trung hoa. Nếu bạn làm chứng cho đức tin của bạn, bạn đang chuốc lấy sự phiền nhiễu và có khi cả sự bắt bớ triệt để nữa. Tôi có nhận một tin nhắn cách đây mấy ngày mô tả mọi điều sinh viên nói tới khi chúng tôi gặp nhau. Đây là những gì sinh viên đã viết:
Chúng tôi thường đối diện với các tình huống trong cuộc sống chống chọi với đức tin của chúng tôi nơi Chúa, thí dụ:
· Khi các thành viên trong gia đình hay bản thân chúng tôi đối diện với sự bất công
· Khi chúng tôi gặp các nan đề về y tế
· Khi các thành viên chưa tin Chúa của chúng tôi qua đời đột ngột
· Khi chúng tôi gặp các Cơ đốc nhân chúng tôi quen biết và những người kính mến Chúa gặp những việc tồi tệ trong đời sống của họ hay các thành viên trong gia đình họ.
Khi chúng ta gặp gỡ các tình huống như thế trong cuộc sống, chúng ta thường hay lấy làm lạ: “Có thực sự Chúa yêu thương chúng ta không?” Đâu là thái độ của Chúa đối với các tình huống nầy? Và Ngài cảm nhận ra sao về những tình huống đó?
Rồi khi chúng ta đến tham quan những viện mồ côi hay bịnh viện dành cho thiếu nhi khuyết tật, chúng ta nhìn thấy nhiều thảm họa của cuộc đời, nhưng các trẻ em thiếu khả năng về lý trí hay tình cảm vì đầu óc của chúng không phát triển được. Trong nhưng trường hợp như vậy, chúng ta lấy làm lạ: “Tại sao lại có những việc như thế nầy chứ?” Chúa nhìn xem các hoàn cảnh nầy như thế nào? Chúng ta đối diện với và phản ứng ra sao trước loại tình huống ấy?
Khi tôi suy gẫm mọi điều các sinh viên đại học đó viết, cái điều gây ấn tượng cho tôi, ấy là mọi nan đề của cuộc sống đều như nhau ở khắp mọi nơi. Bất chấp những dị biệt rất lớn về văn hóa giữa Đông và Tây và giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu, các nhu cần của tấm lòng con người là như nhau cho dù là ở đâu.
Có nhiều lúc khi cuộc sống đi tới chỗ tồi tệ cho hết thảy chúng ta. Thư tín từ Chúa Jêsus gửi cho Hội thánh tại Simiệcnơ (Khải huyền 2:8-11) hiến cho chúng ta một khuôn khổ thích đáng để suy gẫm theo Kinh thánh về những vật vã trong cuộc sống, đặc biệt những vật vã ấy xảy đến là vì cớ đức tin Cơ đốc của chúng ta.
Hòn ngọc của Á châu
Nếu bạn đi khoảng 40 dặm Bắc Êphêsô, bạn sẽ đến một hải cảng tự nhiên trong thế kỷ đầu tiên là quê hương của thành phố Simiệcnơ. Ngày nay Simiệcnơ được gọi là Izmir, một thành phố hàng đầu nằm trong xứ Thỗ nhĩ Kỳ hiện đại. Vì cớ địa thế và sự xinh đẹp của nó, ai cũng biết Simiệcnơ là “hòn ngọc của Á châu”. Vào năm 26SC, một cuộc thi đấu được tổ chức để quyết định thành phố nào sẽ được quyền xây dựng đền thờ cho sự thờ lạy Caesar. Simiệcnơ đã thắng cuộc thi ấy và đã thực hiện lòng tự hào rất lớn với thái độ trung thành với Rome. Từ bối cảnh vây quanh ngọn núi, một người có thể tìm thấy các đền thờ dành cho những thần dị giáo khác nhau. Trải qua thời gian, một số người Do thái đến định cư tại Simiệcnơ và đã trở thành một phần quan trọng cho bối cảnh thương mại. Họ đã mua và bán các thứ hàng hóa trao đổi ở Rome về phía Tây và Ba tư về phía Đông.
Vì cớ hình thái thờ lạy hình tượng thịnh hành và vì cớ sự thờ lạy hoàng đế trong một thành phố lớn, các Cơ đốc nhân ở Simiệcnơ tự thấy mình đang chịu áp lực không ngừng nghỉ. Mỗi năm một lần các công dân trung thành của Simiệcnơ, họ công khai tuyên bố: “Caesar là Chúa”. Không một Cơ đốc nhân trung tín nào có thể làm được điều nầy. Vì thế các tín đồ theo Chúa Jêsus tự thấy mình không được lòng người ta và luôn bị chỉ trích phê phán. Sống ở Simiệcnơ có nghĩa là bạn đã sống trong cái lò lửa thờ lạy Caesar và dâng của lễ cho hình tượng. Như chúng ta sẽ thấy, điều đó đã đặt Cơ đốc nhân vào một vị thế bất lợi hiển nhiên.
Chúng ta sẽ thấy rằng Simiệcnơ là một trong hai hội thánh duy nhứt trong Khải huyền 2-3 mà Chúa chúng ta chẳng có một lời quở trách nào trong đó (hội thánh kia là hội thánh Philađenphia). Sự im lặng của Chúa chúng ta rất gây ấn tượng khi bạn xem xét lời lẽ gay gắt nầy dành cho các hội thánh khác gần đó. Ấy chẳng phải vì cớ bất kỳ một sự cảm thông giả dối nào khiến cho Chúa chúng ta không quở trách họ.
Nổi khổ của họ đã khiến cho họ ra mạnh mẽ.
Nổi khổ ấy đã tước đi khỏi họ mọi sự trừ ra chính mình Chúa Jêsus. Đây là một hội thánh rõ ràng đang lâm vào rối rắm. Những kẻ thù của họ hiển nhiên đã chiếm ưu thế hơn. Khi nhìn vào các tín đồ đã bị bao vây ở Simiệcnơ, Đấng Christ chẳng có một điều tiêu cực nào để phán.
Bức thư ngắn ngủi nầy cho chúng ta biết đôi điều về hội thánh nầy và nhiều điều về chính mình Chúa. Trong giây lát, chúng ta hãy đọc qua phần mô tả của Ngài ở câu 8 rồi xem xét những gì chúng ta biết về Chúa Jêsus từ sứ điệp của Ngài trước các thánh đồ chịu khổ ở thành phố Simiệcnơ. Qua những lời lẽ ngắn ngủi nầy, chúng ta sẽ thấy có nhiều điều khích lệ chúng ta trong chính những lần vật vã của chúng ta.
I. Chúa Jêsus biết rõ rối rắm của bạn.
“Ta biết sự khốn khó của ngươi” (câu 9).
Cụm từ “khốn khó” không mô tả các rối rắm bình thường của cuộc sống đâu. Thay vì thế, nó đề cập tới những gì chúng ta gọi là áp lực thê thảm.Trong phần văn mạch khác, cụm từ nầy được sử dụng nói tới một người đang bị đè nặng bởi một tảng đá cực kỳ lớn. Khi bầu trời sụp xuống quanh chúng ta, khi mọi kỳ vọng không còn nữa, khi bóng tối tăm vây quanh chúng ta và kẻ thù đang áp sát một bên, Chúa Jêsus phán: “Ta biết sự khốn khó”. Khi tôi đọc câu nói đó, tôi nghĩ tới nổi đau khổ của các tín đồ ngày nay đang sống trong các vùng đất Hồi giáo hoặc các Cơ đốc nhân can trường ấy đang đối diện với những cuộc công kích từ những đám đông Ấn giáo đầy giận dữ ở Ấn độ hay các thánh đồ ở Nigeria họ bị chém cho tới chết bởi những người theo đạo Hồi cuồng tín.
Những việc nầy đang xảy ra từng ngày trên khắp thế giới. Sự việc ấy đã xảy có kể từ lúc bắt đầu của thời gian và nó thực sự vẫn còn cho tới ngày hôm nay.
II. Chúa Jêsus biết rõ tình trạng nghèo khó của bạn.
“Ta biết sự … nghèo khổ của ngươi (dầu ngươi giàu có mặc lòng)” (câu 9)
Lời lẽ nầy rất cụ thể, chớ chẳng có gì là hình bóng hết. Cơ đốc nhân ở Simiệcnơ rõ ràng xuất thân từ những thanh ngang thấp hơn trên chiếc thang kinh tế. Nếu họ từng sống giàu có trong các thứ thuộc đời nầy, những ngày ấy đã qua lâu rồi. Chắc chắn là nhiều người đã mất công ăn việc làm trong phường buôn bán vì họ không thốt ra câu: “Caesar là Chúa".
Đối với những Cơ đốc nhân đang bị nghèo khổ ụp đến như thế nầy, Đấng Christ phán: “dầu ngươi giàu có mặc lòng!”
Có phải Ngài đang chế giễu họ không?
Hết thảy đều nương vào chỗ chúng ta đánh giá như thế nào về thời gian so với cõi đời đời. Nếu mọi sự trong đời nầy là vấn đề, thế thì lời lẽ của Chúa Jêsus chẳng khác gì hơn là vô lý. Khi nói “ngươi giàu có mặc lòng” một khi họ đang đói khổ thì có ý tốt gì?
Ở chỗ “nương vào”.
Không một người nào nhận biết Chúa Jêsus thực sự từng nghèo khổ.
Không một người nào không có Chúa Jêsus thực sự từng giàu có.
Vậy, chúng ta sẽ nói sao về Steve Jobs, nhân vật sáng chế lẫy lừng của Apple, là nhân vật mà các phát minh của ông đã làm thay đổi thế giới? Trong túi của tôi khi tôi đánh máy hàng chữ nầy, tôi có một cái iPhone 4. Cách mấy bước thôi, tôi có một cái Apple iPad. Không tới hai bước chân (tôi đang viết bài nầy trên một máy bay đang bay từ Dallas đến Seoul, Nam Hàn) con trai tôi có MacBook Pro. Hàng triệu người đang tải hàng triệu bài hát xuống từ iTunes. Chúng ta chứa dữ liệu trên iCloud. Chúng ta lên update Facebook và Twitter sử dụng kỷ thuật của Apple. Mọi sự của hảng nầy đều rút tỉa từ thiên tài sáng tạo Steve Jobs, cái chết mới đây của ông để lại sau lưng nhiều tỉ đôla.
Cho dù tôi xưng nhận mình mắc nợ đối với Steve Jobs, cho phép tôi chỉ ra cụm từ “để lại sau lưng”.
Ông đã để mọi sự lại ở sau lưng.
Mọi thứ mà máy tính Mac chẳng ăn nhằm gì nữa lúc bây giờ.
Mọi thứ mà iPhones chẳng làm được điều gì tốt lành cho ông.
Mọi thứ cho thấy tiền bạc không còn thuộc về ông nữa.
Steve Jobs đã qua khỏi cuộc sống nầy là nơi mà ông được tôn trọng để bước vào lãnh vực khác, ở đó ông phải trả lời với Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên ông.
Tôi chẳng đưa ra một lời tuyên bố nào về số phận đời đời của ông ta, trừ phi lưu ý rằng trong mọi lời khen ngợi dành cho các thành tựu xuất sắc của ông, chẳng có ai đưa ra lý do nhẹ nhàng nhất để suy nghĩ ông là một Cơ đốc nhân.
Bất cứ điều chi xảy ra cho ông ta và cho dù ông ta đang ở đâu, thì sự giàu có đồ sộ của ông ta chẳng có việc gì phải làm đang khi ông ta còn sống ở trên đất.
Nếu ông ta nghĩ ông ta sẽ biến mất vào trong chỗ hư không, ông ta đã sai lầm rồi.
Nếu ông ta nghĩ ông ta có thể đến được Niết bàn, ông ta đã sai lầm rồi.
Nếu ông ta tưởng cuộc sống của ông ta trên đất là sự sống duy nhứt có ở đó, ông ta đã sai lầm rồi.
Sự giàu có đời nầy của ông ta chẳng còn có thể bảo hộ cho ông ta nữa rồi.
Cũng một thể ấy đối với tất cả người giàu có của trần gian nầy. Thật là dại dột làm sao khi chúng ta nghĩ rằng từng chút một chúng ta tích lũy trong đời nầy lại là vấn đề trong cõi đời đời. Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên các ngôi sao chắc là bị ấn tượng với chiếc du thuyền kia chăng? Chắc Ngài sẽ bị choáng mạnh bởi một, hai hay ba tòa lâu đài? Liệu Ngài có thấy ấn tượng lắm với một chiếc BMW xịn không?
Ngài đã bật cười với mọi kỳ vọng về sự cao thấp chăng!?!
Chúa Jêsus biết tình trạng nghèo khó của bạn - và Ngài cũng biết mọi sự giàu có của bạn nữa đấy. Ngài nhìn thấy đức tin của bạn thể hiện ra trong những lúc gay go. Ngài chú ý đến những lời cầu nguyện mà bạn dâng lên qua hai hàng nước mắt. Ngài lắng nghe những tiếng kêu cầu xin trợ giúp trong tuyệt vọng của bạn.
Thiệt là kỳ cục, những kẻ ghét bỏ Cơ đốc nhân ở Simiệcnơ lại là hạng người giàu có nhất trong thành phố. Cách đây nhiều năm tôi có nghe người ta nói tới việc ấy theo cách nầy:
Bạn sẽ không bao giờ biết được nếu Chúa Jêsus là mọi sự bạn cần cho tới khi Chúa Jêsus là mọi sự mà bạn đang có.
Khi Chúa Jêsus là mọi sự bạn có, khi ấy bạn khám phá ra Chúa Jêsus là mọi sự bạn cần.
Hầu hết chúng ta đều có một thời gian khó nhọc để hình dung ra sự ấy. Vì Cơ đốc nhân tại thành phố Simiệcnơ đều nghèo khó, họ đã sớm học biết rằng Chúa Jêsus thực sự là mọi sự bạn cần. Đấy là lý do tại sao Chúa Jêsus phán: “dầu ngươi giàu có mặc lòng!” Không một người nào là nghèo khó một khi họ đã học biết nương cậy vào một mình Đấng Christ.
Trong bài giảng về phân đoạn Kinh thánh nầy, Ray Stedman trưng dẫn một bài thơ áp dụng lẽ thật nầy cho hết thảy chúng ta:
Tôi đếm những đồng đôla
trong khi Đức Chúa Trời đếm những cây thập tự.
Tôi đếm thứ kiếm được
trong khi Ngài đếm cái bị mất.
Tôi lượng giá trị của mình
bằng các thứ kiếm được chứa trong kho,
Nhưng Ngài đo tôi bằng mấy cái thẹo trên người tôi.
Tôi thèm muốn vinh quang, và tìm kiếm nhiều học vị.
Ngài bật khóc
khi Ngài tính giờ giấc trên hai đầu gối của tôi.
Tôi không bao giờ biết
cho tới một ngày kia bên ngôi mộ địa,
Nhưng thứ tôi dành cả đời để tiết kiệm
hư không dường bao.
Thế mà tôi chẳng biết:
cho tới chừng Thiết Hữu đến từ trên cao,
phán: người giàu có nhất
là người giàu có trong tình yêu của Đức Chúa Trời!
III. Chúa Jêsus biết rõ những kẻ thù của bạn.
“Ta biết … những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội quỉ Sa-tan” (câu 9).
Hạng người nầy là ai mà được gọi là “hội quỉ Satan?” Phần mô tả đáng sợ nầy áp dụng cho những người Do thái kia ở Simiệcnơ, là những người hiệp lực với những kẻ theo tà giáo tố cáo Cơ đốc nhân phản bội chống lại Rome. Khi chọn đứng về phía chống nghịch Hội thánh của Chúa Jêsus, họ tỏ ra hiệu quả trong việc đứng về phía chống nghịch với chính mình Chúa.
Đức Chúa Trời không xem nhẹ những người nào tấn công con cái của Ngài.
Vì Cơ đốc nhân không thờ lạy hình tượng, thay vì thế họ thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng không thấy được bằng mắt thường, có khi họ bị xem là hạng người vô thần. Đối thủ của họ đã nghe tiếng đồn về việc ăn và uống thân thể và huyết của Chúa trong Tiệc Thánh của Chúa và đã gọi họ là thứ ăn thịt người. Vì Cơ đốc nhân bị xem khinh và bị xem là hàng thứ yếu, dường như họ giống như con virus trong bộ phận chính trị, một loại bịnh tật cần phải bị dời ra khỏi Simiệcnơ. Những người Do thái nầy đã tấn công họ thực sự chẳng phải là người Do thái chi cả. Họ là người Do thái chỉ trên danh nghĩa. Toàn bộ sự việc nhắc đến một phần mô tả của Phaolô ở Rôma 2:28-29 rằng: “Vì người nào chỉ bề ngoài là người Giu-đa, thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài, thì không phải là phép cắt bì; nhưng bề trong là người Giu-đa mới là người Giu-đa, phép cắt bì bởi trong lòng, làm theo cách thiêng liêng, không theo chữ nghĩa, mới là phép cắt bì thật. Một người Giu-đa như vậy được khen ngợi, chẳng phải bởi loài người, bèn là bởi Đức Chúa Trời”.
Lời lẽ nầy đã gây sốc cho người Do thái tại thành Rome. Chúng cũng gây sốc cho chúng ta nữa. Phaolô không phải là một người bài Do thái một khi bản thân ông là người Do thái. Tuy nhiên, vấn đề chủng tộc hay lai lịch sắc tộc chẳng phải là vấn đề chi hết khi đến với sự cứu rỗi.
Chúng ta nên để ý trong việc làm chứng, bản thân tôn giáo vẫn là trở ngại lớn lao nhất cho việc rao giảng Tin Lành. Tôn giáo làm mù mắt một người trước nhu cần đến Đức Chúa Trời vì nó dẫn người ấy vào việc suy nghĩ mình có thể góp phần gì đó vào chính sự cứu rỗi của mình. Hàng triệu người có một tôn giáo dựa theo sự mê tín. Họ đặt sự tin cậy vào yếu tố bên ngoài nào đó làm nguồn hy vọng của họ về thiên đàng. Hạng người thể ấy một ngày kia sẽ thất vọng đau đớn lắm. Nhiều người khác tin cậy vào tôn giáo kế thừa: “Bố là chấp sự. Mẹ là giáo viên Lớp Trường Chúa Nhật”. Họ hành động giống như thể sự cứu rỗi được thừa kế giống như bạn thừa hưởng màu mắt của mình vậy. Sự việc chẳng tác động theo cách ấy đâu. Không một ai khác có thể tin thay cho bạn được. Bạn phải tin cho chính mình nếu bạn muốn lên thiên đàng.
Đừng bao giờ ngạc nhiên khi hạng người tôn giáo thù ghét bạn.
Họ cũng thù ghét Chúa Jêsus nữa đấy.
Khi ấy họ đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá.
IV. Chúa Jêsus phán: “Đừng sợ”.
“Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày” (câu 10).
Chúng ta thấy được nhiều điều dạy dỗ chúng ta trong câu nầy. Trước tiên, Chúa chúng ta có tri thức trọn vẹn về mọi sự sắp sửa xảy đến cho chúng ta. Cái điều làm cho chúng ta ngạc nhiên không làm cho Ngài phải kinh ngạc. Thứ hai, có khi Chúa để cho ma quỉ tấn công chúng ta cách nghiệt ngã. Ma quỉ bỏ tù một số Cơ đốc nhân chính xác như thế nào? Chắc chắn hắn đã tác động người Do thái cộng tác với những kẻ tà giáo khuấy đảo sự thù hận để rồi Cơ đốc nhân phải bị bỏ tù, chẳng có cách gì để bài bác những lời vu cáo.
Thứ ba, những sự chịu khổ của chúng ta đã được Chúa hạn chế. Ở đây Kinh thánh cho chúng ta biết về sự bắt bớ nghiệt ngã sẽ kết thúc trong “mười ngày”. Có người trong chúng ta sẽ nghĩ: “thời gian ấy không đến nỗi đâu”. Chúng ta hãy xét xem bạn cảm thấy thế nào sau khi bạn bị trục xuất ra khỏi công ăn việc làm, bị đánh đập vô lý, nhà cửa bạn bị cướp bóc, vợ của bạn bị lăng nhục, và con cái bạn bị tấn công về mặt thuộc thể. Liệu việc ấy có nhỏ nhen với bạn không?
Có người trong các bạn đang đọc lời lẽ của tôi đã sống trong cái lò khốn khó còn lâu hơn mười ngày nữa. Đối với họ, thời gian nầy giống như mười năm vậy. Đối với nhiều người khác, dường như là cả cuộc đời.
Tôi dám xưng nhận rằng tôi không thể giải thích lý do tại sao có người dường như chịu khổ nhiều hơn mọi người khác. Trong khi sự thực cho thấy rằng “bước vào từng đời sống thì mưa rào sẽ rơi xuống”, có người dường như có cả mùa mưa đổ xuống ở trên họ. Sau khi suy nghĩ về điều nầy trong nhiều năm trời, tôi đã kết luận rằng mọi suy tưởng của chúng ta là chỉ chừng ấy thôi — những suy tưởng biếng nhác chẳng giúp gì được nhiều cho chúng ta cả thảy.
Nhưng chúng ta hãy để cho linh hồn chúng ta yên nghỉ tại chỗ nầy. Chúng ta không thể bị cám dỗ quá sức chúng ta chịu đựng (I Côrinhtô 10:13). Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên chúng ta, Ngài biết rõ mọi hạn định của chúng ta, và mặc dù chúng ta bị thử thách, Ngài biết những điều chúng ta có thể chịu được và sẽ không ban cho chúng ta quá sức chúng ta chịu đựng.
Hãy suy nghĩ việc ấy theo chiều hướng nầy. Nếu Chúa Jêsus phán bạn sẽ chịu khổ trong mười ngày, không một sức mạnh nào trên đất có thể khiến cho sự thử thách ấy kéo dài đến mười một ngày! Nó không kết thúc sớm, mà nó cũng không kéo dài thêm. Thời gian hạn định cho thử thách của chúng ta đã được Chúa quyết định.
Đấy là lý do tại sao Ngài phán: “Đừng sợ”. Chúa biết những gì Ngài sẽ làm, và Ngài đang làm việc ấy. Ngài sẽ làm thành ý định của Ngài về chúng ta.
V. Chúa Jêsus phán: “Khá giữ trung tín”.
“Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai” (các câu 10-11).
Có một yếu tố quan trọng mà chúng ta không nên bỏ sót. Chúa Jêsus không hề hứa dời đi các thử thách trong cuộc sống. Ngài không hề phán với Hội thánh tại thành Simiệcnơ: “Chỉ tin nơi Ta thì mọi sự sẽ khá hơn” đâu.
Chúa Jêsus không phải là một nhà Truyền Đạo Tin Lành Thịnh Vượng. Sự tà giáo ấy đã tiêm nhiễm vào trong hội thánh trên khắp thế giới và đã tạo ra một thế hệ Cơ đốc nhân thiên về với vật chất, với đời nầy, và xanh xao về mặt thuộc linh. Vì họ không có thần học về sự chịu khổ, họ chưa sẵn sàng khi đau khổ xảy đến.
Vì họ tin theo “sự sống tốt đẹp nhất trong lúc bây giờ”, họ chẳng có sức lực để đối diện với những vật vã kinh khiếp của cuộc sống.
Chúa Jêsus không hề phán: “Hãy tin nơi Ta và Ta sẽ ban cho các ngươi một cuộc sống dễ dàng".
Ngài phán: “Khá giữ trung tín cho đến chết, và ta sẽ ban các ngươi mão triều thiên của sự sống”.
Chắc chắn có nhiều tín đồ tại thành Simiệcnơ đã trả giá đầy đủ cho đức tin của họ. Sau khi theo Chúa Jêsus trong cuộc sống, giờ đây họ bước theo Ngài trong sự chết.
Chúng ta nhìn thấy tầm quan trọng của tước hiệu mà Đấng Christ gán cho chính mình Ngài ở câu 8.
“Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại”.
Đây là hai thái cực.
Trước hết và Sau cùng.
Chết và Sống.
Chúa Jêsus là Chúa của hai thái cực. Ngài có mặt ở đó lúc ban đầu, và Ngài hiện diện ở đó lúc sau cùng. Vì Ngài đã thắng hơn sự chết, bản thân sự chết không thể thắng hơn chúng ta. Sử dụng cụm từ của John Stott, sự chết đã trở thành một “tình tiết bình thường” cho dân sự của Đức Chúa Trời. Tôi đã xem qua trưng dẫn nầy từ Max Lucado về cái chết có ý nghĩa như thế nào đối với Cơ đốc nhân:
Trên thiên đàng, chúng ta sẽ nhớ lại cái ngày mà chúng ta chịu chết với cùng sự vui vẻ khi chúng ta nhớ lại ngày tốt nghiệp.
Nhiều Cơ đốc nhân đương thời chưa hề học hỏi về một người có tên là Polycarp. Những tín hữu đầu tiên đều biết rõ về ông vì ông là một trong những người tuận đạo sáng giá đầu tiên của đức tin Cơ đốc. Thời tuổi trẻ, ông là môn đồ của Sứ đồ Giăng. Trong nhiêu năm trời, ông đã phục vụ trong vai trò một Giám mục của Hội thánh Simiệcnơ. Trong một làn sóng bắt bớ vào năm 155SC, khi một đám đông đòi hỏi cái chết của ông, các quan chức Lamã đã tìm cách cứu mạng ông bằng cách hiến cho ông nhiều cơ hội, chúng được lặp đi lặp lại là ông phải chối bỏ đức tin của mình nơi Đấng Christ. Ông đã từ chối cứ mỗi lần như vậy. Khi được trao cho cơ hội cuối cùng để cứu mạng ông, ông đã bác bỏ trong lời lẽ vang dội trải qua nhiều thế kỷ:
“Trong 86 năm tôi hầu việc Ngài, và Ngài chẳng làm một điều chi sai lầm với tôi. Làm sao tôi có thể xúc phạm Vua của tôi là Đấng đã cứu tôi chứ?”
Ông bị kết án tử hình chiếu theo sự bài bác của ông. Khi mấy tên lính sửa soạn đóng đinh ông trên giàn giáo, ông đã từ chối, ông nói: “Cứ để ta y nguyên như thế. Vì Ngài là Đấng ưng ban cho ta phải gánh chịu ngọn lửa cũng là Đấng ở trong ngọn lửa không rời đi, không cần phải đóng đinh”. Ngọn lửa được thắp lên và Polycarp bị thiêu đốt cho tới chết. Khi những ngọn lửa thiêu đốt ông, người ta đã nghe ông cầu nguyện: “Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì Ngài thấy con xứng đáng với ngày và giờ nầy một khi vác lấy thập tự giá của Đấng Christ với nhiều chứng nhân”.
Khi tôi đọc câu chuyện nầy, tôi nhũ lòng: “Bạn kiếm đâu ra được hạng người như thế nầy?”
Tôi không biết Đức Chúa Trời có nhiều Polycarp của Ngài trên khắp thế gian ngày nay. Họ là những người nam người nữ dũng cảm, họ không chịu quì gối trước Baanh, họ không thề thốt liên minh với Caesar, họ sẽ không đem đức tin Cơ đốc ra mà nhượng bộ, và họ sẽ không trở lại với đạo Hồi.
Thay vì thế, họ chịu chết hơn là đem những gì Chúa Jêsus ban cho họ mà đầu hàng.
Về những người nam người nữ đó, thế gian quả là chẳng xứng đáng. Thực vậy, “lần chết thứ hai” không thể gây tổn thương cho những người nam người nữ như thế. Tôi nhớ câu chuyện nói tới một vị giáo sĩ, người ta nói cho ông biết ông sẽ bị giết nếu ông không ngưng việc rao giảng Tin Lành lại. Ông đáp: “Các ngươi không thể đe dọa ta với thiên đàng được đâu”.
Bạn không thể ngăn hạng người thể ấy được.
Bản thân sự chết chẳng có quyền lực gì đối với người tín đồ nào cứ giữ lòng trung tín.
Chúng ta thực sự chết đấy, một ngày kia chúng ta sẽ chết!
Đấy chẳng phải là thắc mắc đâu.
Liệu chúng ta có giữ lòng trung tín cho dù bất luận là như thế nào đi nữa hay không?
Một ít người trong chúng ta sẽ bị kêu gọi phải làm theo những gì Polycarp đã làm. Đối với hầu hết chúng ta, những sự chịu khổ mà chúng ta gánh chịu sẽ chẳng thảm hại bao nhiêu, các áp lực sẽ tinh vi hơn, những thử thách khó phát hiện hơn. Nhưng ơn kêu gọi từ Chúa Jêsus vẫn y như nguyên cũ.
Đừng sợ!
Khá giữ lòng trung tín!
Thiên đàng đang trông chờ chúng ta. Sự chết có thể đến, song nó không thể tước đi khỏi chúng ta những gì Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Thế gian cung ứng tiếng tăm cho, rồi thế gian cất nó đi. Quả thực là như thế. Chúng ta sống giàu có hôm nay rồi khốn khó ở ngày mai. Chúng ta có công ăn việc làm và rồi chúng ta không có gì hết. Chúng ta sống mạnh khỏe và rồi ung thư xuất hiện. Chúng ta có một gia đình hạnh phúc và rồi nó dường sa sút đi. Bạn bè của chúng ta nói họ yêu chúng ta và rồi họ biến mất.
Đối với người nào đứng mạnh mẽ giữa những cơn thử thách, điều tốt nhứt chắc chắn sẽ đến. Chúng ta sẽ nhận lãnh “mão triều thiên sự sống” và trị vì với Chúa Jêsus cho đến đời đời. “Lần chết thứ hai” ở địa ngục không thể chạm được tới chúng ta.
Hãy dạn dĩ lên, hỡi con cái của Đức Chúa Trời. Hãy chuẩn bị mũ áo đi rồi hãy trở lại với cuộc chơi. Đừng bỏ chạy khỏi những rối rắm của cuộc đời. Bạn còn giàu có hơn là bạn tưởng nữa đấy.
Và thiên đàng chỉ ở quanh đâu đó thôi.
Nguồn trích dẫn (0)

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Khải huyền 2:1-7: " KHI CHÚA JÊSUS ĐẾN VỚI HỘI THÁNH"

KHI CHÚA JÊSUS ĐẾN VỚI HỘI THÁNH
Khải huyền 2:1-7

Nếu Chúa Jêsus đến viếng hội thánh của bạn, Ngài sẽ nói gì về cuộc thăm viếng ấy?
Liệu Ngài có ấn tượng bởi các thứ đang gây ấn tượng cho người khác không?
Liệu Ngài có phê phán gì về ngôi nhà thờ của bạn không?
Liệu Ngài có nhắc tới tầm cỡ hội chúng của bạn không?
Liệu Ngài có chú ý bao nhiêu tiền được dâng hiến trong tuần qua không?
Liệu Ngài có cảm nhận giống như kẻ ở ngoài nhà thờ không?
Quí Mục sư luôn luôn cảm thấy lên thần kinh khi có ai đó nói: “Tôi đến viếng nhà thờ của ông Chúa nhật qua và . . ."
Chính các thứ đến sau chữ “và” đó làm cho chúng ta phải lo lắng.
Sẽ ra sao nếu chính mình Chúa Jêsus ghé qua?
Liệu vị Mục sư có muốn chịu khó làm việc hơn với bài giảng của ông không? (Câu trả lời là “có”).
Cách đây nhiều năm John Stott đã viết một quyển sách nhỏ rất hay có đề tựa là What Christ Thinks of the Church [Những Điều Đấng Christ Nghĩ Về Hội Thánh] dựa theo các thư tín gửi cho bảy Hội thánh ở Khải huyền 2-3. Bản thân quyển sách là hay rồi, song chính cái đề tựa kia cuốn lấy sự chú ý của chúng ta.
Chúa Jêsus nghĩ gì về Hội thánh?
Ngài nghĩ gì về Hội thánh mà bạn đến nhóm lại?
Cảm tạ Chúa, chúng ta không bị bỏ lại để lấy làm lạ về thắc mắc rộng lớn hơn: Với bài giảng nầy, chúng ta đang khởi sự một loạt bài gồm có bảy phần căn cứ vào các thư tín gửi cho các Hội thánh ở Khải huyền 2-3. Vì cớ các bức thư rất ngắn, chúng ta gọi loạt bài nầy là Email gửi đến từ Chúa Jêsus. Trong bảy bức thư nầy, Chúa chúng ta cung ứng một cuộc thăm viếng mục vụ với các hội thánh địa phương khác nhau vào thế kỷ thứ nhứt. Trong từng trường hợp, Ngài đưa ra một sứ điệp thích ứng với hội chúng ấy tại nơi ấy ngay thời điểm ấy trong lịch sử. Đấy là tất cả các hội thánh hiển nhiên ở Tiểu Á (phần phía Tây của Thổ nhĩ Kỳ ngày nay) họ đang vật vã với sự bắt bớ và sự cám dỗ phải thỏa hiệp về đạo đức và về mặt thuộc linh. Có hội thánh (như Simiệcnơ) đã đối diện với sự bắt bớ nhiều hơn các hội thánh khác. Có hội thánh (như Thiatirơ) đã đối diện với các vấn đề hư hỏng về mặt đạo đức ở bên trong hội thánh. Hội thánh ở trong tình trạng gây đố kỵ nhất về mặt kinh tế (Laođixê) nhận lãnh lời cảnh báo gay gắt nhất từ nơi Chúa.
Đọc Khải huyền 2-3 giống như đọc email của ai đó vậy. Đây là các hội thánh thực đầy dẫy với con người thực đang vật vã với các nan đề thực. Mặc dù 2000 năm phân cách chúng ta với họ, các nan đề của họ chẳng khác biệt nhiều với mọi nan đề của chúng ta. Khi chúng ta lần lượt đi qua bảy thư tín nầy, chúng ta sẽ nhìn thấy bản thân mình và các nhà thờ của chúng ta theo một ánh sáng mới.
Chúng ta cần loạt bài nầy vì thật là dễ suy nghĩ rằng bao lâu hội thánh còn bận rộn, mọi sự đều sẽ suông sẻ hết. Tôi có nhiều thì giờ để suy nghĩ về điều nầy vì phần lớn nhất trong chức vụ của tôi đã được sử dụng ở hội thánh địa phương. Khi tôi nhìn lại các năm tháng được sử dụng khi làm Mục sư quản nhiệm ở California, Texas, và Illinois, tôi có nhiều ký ức tốt đẹp và cũng có nhiều điều phải hối tiếc. Tôi nhớ có nhiều lần khi tôi lấy làm lạ: “Chúng ta thực sự đang sống như thế nào đây?” Thật là khó biết trả lời cho thắc mắc đó một khi bạn đang ở dưới giao thông hào. Chúng ta có khuynh hướng hình dung ra câu trả lời bằng các con số: những người đang có mặt, y như họ nói vậy. Và các việc ấy tạo thành vấn đề. Số tiền chúng ta dâng chỉ ra một việc quan trọng, và số người cho thấy cũng là việc quan trọng đấy. Người ta bỏ phiếu với túi tiền của họ và với đôi chân của họ mỗi ngày Chúa nhật. Chúng ta đánh giá các hội thánh theo cách đó.
Rõ ràng, Chúa Jêsus không đánh giá như vậy.
Đây là một cú sốc.
Vậy, Chúa Jêsus tìm điều gì khi Ngài đến với Hội thánh? Bảy bức thư nầy cung ứng một câu trả lời quan trọng.
Với mọi sự ấy làm nền, chúng ta có thể bắt đầu. Bức thư thứ nhứt gửi đến Êphêsô, một thành phố liên minh chính trong thế giới cổ. Vì cớ địa thế của nó là một thành phố cảng nằm trên bờ biển Aegean, trong nhiều phương thức thì thành nầy là siêu thị của Á châu. Đây cũng là quê hương của Đền Thờ Artemis (cũng gọi là Diana), một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ. Ba con đường chính giao nhau tại thành Êphêsô, biến nó thành cửa ngõ đến các tỉnh thành Lamã về phía Đông. Thành phố là một trung tâm quốc tế rất rộn ràng, một nơi mà Sứ đồ Phaolô để ra hai năm cho việc thiết lập một hội thánh ở đó (Công Vụ các Sứ Đồ 19). Về sau, ông viết thư tín Êphêsô trong Tân Ước gửi cho hội chúng nầy. Trải qua nhiều năm tháng, hội thánh đã được dạy dỗ bởi Phaolô, Abôlô, Timôthê, và chắc chắn là bởi sứ đồ Giăng. Chưa có một nhà thờ nào trong thế kỷ đầu tiên được như thế.
Một Lời Khen Ngợi
Thư tín đến từ Chúa Jêsus mở ra với một sự nhắc nhớ rằng Chúa Jêsus có đầy đủ tư cách để viết vì Ngài “cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng” (câu 1). Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy hội thánh. Bảy chân đèn vàng là bảy hội thánh kia (Khải huyền 1:20). Đây là lời tốt lành dành cho quí Mục sư và các cấp lãnh đạo khác trong hội thánh, là những người cảm thấy giống như họ đang thường xuyên ở dưới một kính hiển vi vậy. Đừng sợ hãi. Quí vị bị chính mình Chúa nắm chặt lấy. Ngài biết rõ quí vị, Ngài đang nhìn xem quí vị, và Ngài không quên quí vị đâu.
Có nhiều điều để khen ngợi về Hội thánh tại thành Êphêsô. "Ta biết công việc ngươi” (câu 2).
Họ có lòng sốt sắng nhiều dành cho Chúa. Đây là một hội chúng bận rộn, chịu khó làm việc, phục vụ có định hướng. Họ không ngồi đấy để đấm lưng cho nhau đâu. Họ rất sốt sắng phục vụ Chúa. Họ đã có tấm lịch trong nhà thờ phủ kín hết với các sự kiện, chương trình, những buổi nhóm lại, và đầy các chương trình truyền giảng Tin Lành cho cộng đồng.
Nhưng chẳng phải là bấy nhiêu đâu. Họ còn không dung chịu được hạng giáo sư giả nữa kìa (câu 2). Chúng ta chưa từng nghe điều nầy được nói lên về một hội thánh ngày nay. Nếu một vị Mục sư nói rằng Chúa Jêsus là con đường duy nhứt dẫn tới thiên đàng, chắc chắn người sẽ bị xem là một kẻ mù quáng. Hãy để cho một giáo sư Cơ đốc nói nghịch với cuộc hôn nhân phóng đảng, và chắc chắn bà ấy sẽ rơi vào chỗ rối rắm và sẽ mất công tác của mình. Hôm nay rất thích ứng để giữ lấy nhận định tiêu cực cho chính mình bạn đấy. Rốt lại, chúng ta không muốn liều lĩnh xúc phạm chính những người mà chúng ta tìm cách làm chứng cho họ.
Hội thánh tại thành Êphêsô rõ ràng chẳng có vấn nạn ấy. Họ đã thử các “sứ đồ giả” rồi quăng họ ra khỏi hội chúng. Họ cũng cự tuyệt sự dạy của đảng Nicôla, một đảng phái kỳ lạ trong hội thánh đầu tiên, họ dạy dỗ “tự do trong Đấng Christ” có nghĩa là bạn có quyền tự do phạm tội mà không bị hình phạt. Họ muốn nhà thờ phải có tính đa nguyên về tôn giáo. Họ muốn nhập nhằng với hình thái đa thần chung quanh. Họ là những người thỏa hiệp về tình dục thuần khiết, họ nói ra những việc như “Thân thể tôi là của tôi, tôi có thể làm bất cứ điều chi tôi muốn với nó mà vẫn trụ lại trong chỗ phải lẽ với Đức Chúa Trời”. Hãy chú ý, Chúa Jêsus thực sự phán Ngài “ghét” những việc làm của đảng Nicôla (câu 6). Đấy chính là sai sót về mặt chính trị nên Chúa Jêsus mới phán dạy như thế. Họ dạy rằng Chúa Jêsus vốn yêu thương mọi người và không thù ghét bất cứ ai hay bất cứ điều gì. Nhưng Chúa Jêsus đấy chẳng phải là Chúa Jêsus của Tân Ước.
Hơn nữa, hội thánh đã chịu đựng sự bắt bớ mà chẳng hề sờn ngã. Hội thánh tại thành Êphêsô có rất nhiều kẻ thù. Không một điều gì thực sự thay đổi trong 2000 năm. Ngày nay, chúng ta đọc về các Cơ đốc nhân nói tiếng Hylạp ở Aicập đã bị cảnh sát giết chóc. Ở Iran, Mục sư Youcef Nadarkhani đang bị nhốt trong tù, bị kết án tử hình vì bội đạo do trở thành Cơ đốc nhân và rồi từ chối không chịu chối bỏ đức tin mình. Bức thư thật hùng biện của ông viết từ trong tù đã được dán lên mạng. Đây là một phần những gì ông đã viết:
Những gì chúng ta đang hứng chịu hôm nay, là một sự khó khăn song chẳng phải là hoàn cảnh không thể chịu nổi đâu, Ngài không để cho chúng ta chịu đựng quá sức đâu. Và như chúng ta đã biết từ trước, chúng ta phải tỉnh thức không được thất bại, mà phải càng tấn tới trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa Jêsus Christ chúng ta, và hãy xem nhà tù và những va chạm nầy là những cơ hội để làm chứng cho danh của Ngài.
Chúng ta phải gọi đấy là “đức tin của người thành Êphêsô” vì đấy chính xác là điều Chúa chúng ta đang khen ngợi trong sứ điệp của Ngài gửi cho Hội thánh nầy.
Đúng đấy là một Hội thánh lớn. Chịu khó làm việc, lấy Kinh thánh làm trung tâm, can đảm, đầy dẫy với những con người dám đương đầu và không bao giờ nhượng bộ. Ai không muốn mình là chi thể của một Hội thánh như thế chứ?
Nhưng, còn có nhiều điều trong câu chuyện nữa đấy.
Một Lời Quở Trách
Khi Đấng Christ nhìn vào một hội thánh, Ngài dò xét dưới bề mặt để nhìn thấy thực tại đang có ở đó. Trong trường hợp nầy mọi sự tốt lành mà hội thánh đã làm bị phủ lút bởi một thực tại đáng buồn.
Họ đã đánh mất tình yêu ban đầu (câu 4).
Họ không còn yêu mến Chúa Jêsus nhiều nữa.
Không cứ cách nào đó ở giữa tình trạng bận rộn tin kính của họ và mọi chỗ đứng của họ cho lẽ thật, không cứ cách nào đó, không biết ở chỗ nào đó, họ đã gạt Đấng Christ ra khỏi hội thánh của họ.
Điều đó khả thi chăng?
Điều đó phải khả thi vì đấy là những gì đã xảy ra tại thành Êphêsô. Một người lấy làm lạ không biết Phaolô có nhận ra vấn đề nầy ba mươi năm trước khi ông viết cho người thành Êphêsô và cầu nguyện để họ: "đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào" (Êphêsô 3:17-18). Có phải Phaolô nhìn lại thuở ban đầu rồi thấy hội thánh lớn nầy sẽ thiếu tình yêu thương chăng?
Đây là phần đáng buồn nhất.
Đấng Christ vốn biết rõ họ chẳng yêu mến Ngài.
Có lẽ khi Giăng ghi lại mấy lời nầy của Chúa Jêsus, ông đã nhớ tới một thời điểm khác, nhiều năm trời trước kia, khi Đấng Christ hỏi Phierơ không phải một lần, mà là ba lần: “Ngươi yêu ta chăng?” (Giăng 21:15-17). Phierơ, đã bối rối và thấy xấu hổ vì cớ ông phản bội ở sân thầy tế lễ, thốt ra câu nói mà bất kỳ ai trong chúng ta sẽ nói: “Lạy Chúa, Ngài biết con yêu Ngài!”
Những gì đã xảy ra cho Phierơ có thể xảy ra cho bất kỳ ai trong chúng ta. Tôi e rằng những gì đã xảy ra ở Êphêsô rất giống với những gì hiện có ở giữa vòng chúng ta. Thật dễ dàng dùng tri thức thay thế cho một tấm lòng ấm áp dành cho Chúa Jêsus dường bao. Chúng ta mau mắn xưng công bình tấm lòng chai cứng của chúng ta bằng cách chỉ vào thái độ mộ đạo với dự tính tốt dường bao.
Tôi phải trưng dẫn điều nầy từ Michael Horton có thể áp dụng tương xứng với người thành Êphêsô và với chúng ta: “Chúng ta có thể đánh mất Đấng Christ do xao lãng cũng dễ dàng như sự chối bỏ”. Tôi nghĩ đấy là những gì đã xảy ra ở thành Êphêsô. Họ đã xao lãng đối với Chúa Jêsus, và đang trên tiến trình họ đánh mất Ngài.
Nhưng Chúa Jêsus không bỏ qua đâu.
câu 5, Ngài cung ứng cho họ một phần mô tả rất là thách thức:
Hãy nhớ lại sự thể sao lại xảy ra như thế.
Hãy ăn năn – hãy đổi ý và đổi lòng của bạn.
Làm lại những công việc ban đầu.
Điều nầy áp đảo tôi giống như một mệnh lệnh nổi bật vì đấy là một lẽ thật quan trọng về mặt thuộc linh. Bạn không thể kiếm được tình yêu ban đầu của mình chỉ qua một đêm đâu. Hãy hỏi bất kỳ đôi vợ chồng nào đã nếm trải cơn khủng hoảng về hôn nhân xem. Một cuộc hôn nhân không xấu đi chỉ qua một đêm, và nó không được phục hồi chỉ qua một đêm.
Sự chữa lành cần có thời gian.
Cũng một thể ấy trong lãnh vực thuộc linh. Và hết thảy bắt đầu với một ký ức tốt đẹp. "Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu!” (câu 5). Hãy suy nghĩ mọi điều bạn từng có, có thể là một việc tốt lành nếu nó dẫn bạn tới hành động thực tiễn. Tôi thường bảo dân sự phấn đấu về mặt thuộc linh, họ cần phải nắm lấy “những bước nhỏ hướng tới sự sáng”. Nếu bạn cứ giữ lấy việc đi đúng hướng, thì chẳng bao lâu nữa bạn sẽ ra khỏi chốn tối tăm rồi bước vào sự sáng láng của tình yêu của Đức Chúa Trời.
Hết thảy chúng ta đều ưa thích một lời cầu nguyện thật nhanh ở bàn thờ. Trong thời đại cái gì cũng có liền nầy, không một ai muốn chờ đợi cả. Chúng ta muốn tập trung thật nhanh để nhanh chóng sửa ngay lại mọi việc. Lời lẽ của Chúa Jêsus nhắc cho chúng ta nhớ đang khi sự chữa lành là khả thi, nó phải bắt đầu trong tấm lòng và trong lý trí.
Khi Chúa Jêsus gặp một người bị liệt trong 38 năm, Ngài hỏi ông ta một câu quan trọng:
“Ngươi có muốn lành chăng?” (Giăng 5:6).
Tại sao Ngài lại đưa ra một câu hỏi như thế chứ?
Tôi nghĩ Chúa Jêsus đang thăm dò cấp độ của ý chí. Ngài đang phán: “Ngươi có thực sự muốn được thay đổi không?” Nếu câu trả lời là “có”, thì phép lạ có thể xảy ra. Nếu câu trả lời là “không”, thì ngay cả Chúa Jêsus cũng không thể giúp gì được cho bạn.
Hết thảy chúng ta đều đối diện với cùng sự thách thức ấy hôm nay. Có phải chúng ta đang suông sẻ đây và chúng ta không muốn thay đổi? Nếu thực vậy, thì Chúa Jêsus chẳng còn gì để nói với chúng ta nữa. Nhưng nếu chúng ta cảm thấy sự lay động của Đức Chúa Trời ở bên trong, thế thì chúng ta sẽ làm theo những gì Đấng Christ truyền dạy ở Khải huyền 2.
Chúng ta sẽ suy gẫm các phước hạnh trong quá khứ.
Chúng ta sẽ ăn năn về lối sống lấy cái tôi làm trọng.
Chúng ta sẽ làm lại “các công việc ban đầu”.
Tôi thấy rất hay ở chỗ Chúa Jêsus không định rõ các “công việc ban đầu”. Cũng rất là cám dỗ cho nhà truyền đạo phải đưa ra bản danh sách những điều “phải làm” mà ông ưa thích tại điểm nầy, thường là các việc lành như đọc Kinh thánh, cầu nguyện, suy gẫm, thờ phượng, và còn nhiều điều nữa. Nhưng khi bị hỏi đâu là mạng lịnh lớn lao nhất (Mathiơ 22:34-40), Chúa Jêsus đã tóm tắt toàn bộ luật pháp trong hai câu nầy:
Hết lòng kính sợ Đức Chúa Trời.
Yêu mến người lân cận như mình.

Bấy nhiêu cũng sẽ là đủ cho chúng ta nữa đấy. Hãy thực hiện những hành động yêu thương và không lâu sau đó các cảm xúc yêu thương sẽ theo sau. Chúng ta thường bảo những đôi vợ chồng bất hạnh: “Hãy hành động giống như thể bạn yêu người bạn đời của mình mặc dù lúc đó bạn chẳng cảm biết gì hết”. Chúng ta nói như thế vì bản thân hành động theo lối cảm xúc mới thì dễ hơn là bản thân cảm xúc theo một hành động mới.
Lời nói cảnh cáo
Chúng ta không bỏ qua lời lẽ trang trọng của Chúa Jêsus ở câu 5b: “nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó”. Chân đèn tiêu biểu cho sự tán thưởng của Đức Chúa Trời về bản thân Hội thánh. Không một hội thánh nào có lời xưng nhận vô hạn về phước hạnh của Đức Chúa Trời. Bất kỳ hội thánh nào cũng có thể có “chân đèn” của nó sẽ bị Chúa dời đi.
Cho phép tôi hỏi một câu mà tôi chưa có câu trả lời nào hết. Làm sao một Hội thánh nhận biết lúc nào chân đèn của nó bị dời đi? Tôi đề nghị rằng bản thân hội thánh sẽ không bao giờ biết được vì theo một ý nghĩa chẳng có gì sẽ thay đổi. Đức Chúa Trời sẽ buông tay Ngài ra khỏi Hội thánh và mọi sự sẽ cứ tiếp tục như thường lệ.
Nhà truyền đạo sẽ rao giảng.
Ca đoàn sẽ hát.
Những ngọn đèn sẽ chiếu sáng.
Hệ thống âm thanh sẽ hoạt động.
Trường Chúa nhật sẽ nhóm lại.
Ban chấp sự sẽ lãnh tiền dâng.
Hướng dẫn thờ phượng sẽ cứ hướng dẫn.
Dân sự sẽ vỗ tay.
Chấp sự sẽ cầu nguyện.
Thanh thiếu niên sẽ vẫn nhóm bình thường.
Và Đức Chúa Trời sẽ không hiện diện ở đó.
Khi ấy sẽ là tôn giáo không hiện thực, giảng dạy không có năng quyền, và hội thánh không có Chúa Jêsus.
Sự thực đáng buồn, ấy là hội thánh tại thành Êphêsô chắc chắn bị đình chỉ không còn tồn tại nữa. Chắc chắn hội thánh ấy không còn tồn tại nữa. Nhưng có lẽ thà như thế thì tốt hơn: là hội thánh mà Chúa Jêsus lại vắng mặt.
Lời Mời Gọi
Thế là chúng ta đến với câu hỏi quan trọng nầy: Có phải chúng ta đang lắng nghe những gì Đức Chúa Trời đang phán dạy không? Từng thư tín trong bảy bức thư đều có cáo trạng nầy: "Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh” (câu 7). Chúng ta có tai để nghe không? Hay chúng ta quá mê muội với tiếng ồn của thế gian nầy? Đức tin Cơ đốc là một tôn giáo của những người có tai – để nghe Lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đang phán dạy. Chúng ta có lắng nghe không?
Sứ điệp cho hội thánh tại thành Êphêsô kết thúc với lời hứa nầy cho kẻ đắc thắng: “Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời” (câu 7). Cụm từ Barađi nói tới sự hiện diện cá nhân của Chúa Jêsus. Đây là điều Chúa Jêsus hứa cho tên cướp biết ăn năn: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi" (Luca 23:43). Nếu chúng ta trung tín trong đời nầy, chúng ta sẽ biết Chúa Jêsus mật thiết hơn trong đời sau. Không một người nào thực sự nhận biết hay có thể nói chính xác điều đó có nghĩa gì, nhưng điều đó phải rất kỳ diệu. Trong ngày ấy chúng ta sẽ không bao giờ hối tiếc một khi yêu mến Chúa trong đời nầy.
Nếu chúng ta yêu mến Ngài ở đây, chúng ta sẽ yêu mến Ngài nhiều hơn ở đó.
Nếu chúng ta vui mừng ở đây, chúng ta sẽ vui mừng nhiều hơn ở đó.
Đối với người nào sống trung tín, Đấng Christ hứa mối thông công mật thiết cứ tiếp tục ở Barađi, được nâng đỡ bên “cây sự sống” suốt cõi đời đời.
Trong thời gian bịnh tật vào năm 1856, Elizabeth Prentiss đặt ra một bài thơ mà về sau chồng bà đã cho in ấn trong một quyển sách nhỏ. Khi William Howard Doane [1832-1915] xem thấy lời lẽ ấy, ông đã phổ nhạc cho chúng trở thành bài thánh ca Tin Lành đáng yêu {“Nguyện Càng Yêu Thương Christ”, TC 244}. Câu đầu tiên thổ lộ ước ao thành khẩn nhất của bà:
Lòng nguyện càng yêu Jêsus, mến yêu Ngài thêm!
Thành tâm quì xin chăm chú, mến yêu Ngài thêm.
Mối sở ước chẳng chi hơn: yêu thương Jêsus keo sơn;
lòng nguyện ngày đêm, mến yêu càng thêm!

Câu 2 mô tả lời cầu nguyện mà Hội thánh ở thành Êphêsô cần phải dâng lên:
Mùi tục trần xưa đeo đuổi, kiếm nơi bình yên;
Nỗi khẫn thiết chẳng chi hơn: yêu thương Jêsus keo sơn;
lòng nguyện ngày đêm, mến yêu càng thêm!

Dòng thứ hai của câu 2 tóm tắt những gì chúng ta cần phải nghe hôm nay:
“Nỗi khẫn thiết chẳng chi hơn: yêu thương Jêsus keo sơn”.
Khi chúng ta kết thúc bài nghiên cứu sứ điệp đầu tiên gửi cho bảy hội thánh, nguyện sẽ được nên trong tinh thần của bài thánh ca Tin Lành xa xưa nầy:
Lòng nguyện càng yêu Jêsus, mến yêu Ngài thêm! Amen.

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Mathiơ 1:1-3, 5-6, 16-17: "Bảng Gia Phổ Của Ân Điển"



Bảng Gia Phổ Của Ân Điển

Mathiơ 1:1-3, 5-6, 16-17


Bây giờ, chắc chắn là bạn đã mở Kinh thánh ra ở Mathiơ chương 1 và nếu bạn chưa biết, bạn để ý thấy cả chương là bảng gia phổ thật dài – một bảng danh sách các tên tuổi, hầu hết chúng đều rất khó đọc, ít nhất là đối với tôi. Vì cớ như thế, cho nên đây là một phân đoạn Kinh thánh mà chúng ta có khuynh hướng đọc lướt qua. Chúng ta hãy đọc câu 1: “Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham”.
Tôi phải nhìn nhận rằng nghiên cứu gia phổ làm cho tôi mê mẫn và cùng một lúc khiến tôi phải run sợ nữa. Tôi nghĩ đúng là mê mẫn khi nhận ra dân tộc của bạn là ai và họ đã ra từ đâu. Nhưng việc nghiên cứu ấy cũng làm cho tôi phải run sợ không ít, bạn không hề biết bạn sẽ đào bới ở chỗ nào nữa. Có mấy bộ hài cốt gia đình mà bạn phải giữ lấy trong hộp kín. Tôi bắt sợ hãi, khi nhận ra một ít về gia đình mình, hết thảy họ đều không phải là hạng công dân tốt đẹp gì đâu. Còn bạn thì sao?
Thực ra có hai bảng gia phổ nói tới Chúa Jêsus trong Tân Ước, một trong sách Mathiơ lần theo bảng gia phổ hợp pháp của Ngài sẽ làm vua qua Giôsép. Tuy nhiên, khi Mathiơ nói tới Giôsép (câu 16) hãy lưu ý rằng ông thay đổi công thức và nói rằng Giôsép là “chồng Mary; Mary là người sanh Đức Chúa Jêsus”. Chữ “người” [whom] là giống cái trong tiếng Hylạp, cho thấy rằng Giôsép không phải là cha theo phần xác của Chúa Jêsus. (Chúng ta sẽ nói nhiều về vấn đề nầy trong sứ điệp tới). Nhưng có bảng gia phổ khác trong sách Luca, lần theo gia phổ của Ngài qua Mary, mẹ Ngài.
Bảng gia phổ của Mathiơ nói tới Chúa Jêsus ít nhất ba vấn đề. Thứ nhứt, Đức Chúa Trời đã phán khoảng 1.000 năm trước rằng Đấng Mêsi phải hiện đến từ dòng dõi hoàng gia của David (II Samuên 7). Mathiơ minh chứng rằng Chúa Jêsus đủ tư cách để làm vua bởi Ngài là dòng dõi theo phần xác của David. Thứ hai, bảng gia phổ thiết lập Chúa Jêsus là một nhân vật của lịch sử; đức tin của chúng ta bắt rễ trong lịch sử chớ không phải bắt rễ từ huyền thoại hay hoang đường.
Và thứ ba, bảng gia phổ tỏ ra phạm vi ân điển của Đức Chúa Trời. Bảng gia phổ của Mathiơ bất thường ở chỗ nó chứa tên của bốn người phụ nữ. Bốn người phụ nữ hơi khác thường; ba người là dân Ngoại, ba người dính dáng vào tình trạng phi luân về tình dục, một người là kỵ nữ, một người phạm tội tà dâm, và tuy nhiên hết thảy bốn người đều có mặt trong gia phổ dẫn tới Đức Chúa Jêsus Christ, là Cứu Chúa của nhân loại. Khi đọc qua hết các câu Kinh thánh nầy, tôi muốn bạn gạch dưới mấy cái tên của bốn người phụ nữ nầy.
(các câu 1-3) “Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham. Áp-ra-ham sanh Y-sác; Y-sác sanh Gia-cốp; Gia-cốp sanh Giu-đa và anh em người. Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra …”
(các câu 5-6) “Sanh-môn bởi Ra-háp sanh Bô-ô. Bô-ô bởi Ru-tơ sanh Ô-bết. Ô-bết sanh Gie-sê; Gie-sê sanh vua Đa-vít. Đa-vít bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn (Bátsêba)”
(các câu 16-17) “Gia-cốp sanh Giô-sép là chồng Ma-ri; Ma-ri là người sanh Đức Chúa Jêsus, gọi là Christ. Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít, hết thảy có mười bốn đời; từ Đa-vít cho đến khi bị đày qua nước Ba-by-lôn, cũng có mười bốn đời; và từ khi bị đày qua nước Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ, lại cũng có mười bốn đời”
Tôi nghĩ rằng ít nhất hầu hết các bạn đều hiểu rằng chữ “sanh” có ý nói “cha của”. Bây giờ, tôi muốn nhìn vào từng người một trong bốn phụ nữ nầy và lưu ý lý do tại sao họ có mặt trong một bức tranh nói tới Ân Điển như thế.
Thứ nhứt, Tama (1:3) Tội Nhân Cần Chúa Jêsus.
“Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham. Áp-ra-ham sanh Y-sác; Y-sác sanh Gia-cốp; Gia-cốp sanh Giu-đa và anh em người. Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra…”
Câu chuyện nói tới Tama được thuật lại trong Sáng thế ký 38. Tama là một phụ nữ người xứ Canaan kết hôn với con trai của Giuđa tên là Êrơ. Người con nầy chết không con, vì vậy em của người (Ônan) đã lấy nàng làm vợ, nhưng người đã chết và nàng vẫn chưa có con. Khi Giuđa chần chừ không đưa con trai thứ ba của mình kết hôn với Tama, nàng mất kiên nhẫn và không bằng lòng chờ đợi thì thuận tiện của Đức Chúa Trời. Nàng ngấm ngầm dự tính một kế hoạch để buộc cha chồng của mình là Giuđa phải ngủ với nàng. Đồng thời luôn luôn là một lỗi lầm khi nghĩ rằng chúng ta cần giúp đỡ Đức Chúa Trời thực hiện ý chỉ của Ngài.
Dường như nàng đã nhận biết cha chồng của mình rất rõ cho nên nàng đã tự cải trang làm một kỵ nữ rồi đứng dọc theo con đường mà nàng biết ông sẽ đi ngang qua. Nàng tự mình ăn mặc giống như một kỵ nữ rồi quyến dụ Giuđa (cha chồng của nàng) phải ngủ với nàng, và nàng có thai rồi sanh đôi, đặt tên là Phêrách và Xêrách. Điều nầy bẩn thỉu đủ để đưa nó lên “Jerry Springer Show”. Sự thực là chẳng có ai tốt đẹp gì trong câu chuyện nầy; nó bốc mùi tham lam, dối gạt, tư dục theo xác thịt và thậm chí còn là một gợi ý loạn luân nữa. Chẳng có kết cuộc phước hạnh nào trong câu chuyện nầy.
Khi Giuđa nghe nói rằng con dâu góa của ông có thai, ông phẫn nộ lắm, tố cáo nàng về việc làm nhục nhã gia đình (38:24). Khi họ đang ở trong quá trình kéo nàng ra quảng trường công cộng để đối mặt với sự xét đoán, nàng bình tỉnh đưa ra minh chứng rằng Giuđa là cha của hai đứa con sanh đôi khi trình chiếc nhẫn, cây gậy và sợi dây mà ông đã để lại để bảo đảm tiền công cho lần gặp gỡ (38:25). Giuđa bị bẽ mặt và phải nhìn nhận: “Nàng phải hơn ta” (38:26) mặc dù câu nói không chỉ ra nhiều về cá tánh.
Chúng ta tiếp thu được gì từ chỗ Tama được kể vào danh sách nầy? Chúng ta học được rằng không một tội lỗi nào quá trầm trọng hơn ân điển của Đức Chúa Trời. Mục đích, ấy là Giuđa và Tama được kể vào gia phổ của Đấng Mêsi, điều nầy gửi đi một sứ điệp nói tới ân điển của Đức Chúa Trời. Có thể bạn nói: “Điều nào khả thi khiến cho nàng đủ tư cách ở trong bảng gia phổ của Chúa chứ?” Và việc duy nhứt khiến cho nàng đủ tư cách, ấy là sự xấu hổ của nàng.
Thứ hai, Raháp (1:5a) – Tội Nhân Được Cứu Nhờ Đức Tin.
“Sanh-môn bởi Ra-háp sanh Bô-ô”
Thật là khó tưởng tượng được một ứng viên chẳng xứng đáng gì cho thanh danh của Thiên Chúa lại được kể trong bảng gia phổ Chúa Jêsus hơn Raháp. Tên Raháp được nhắc tới tám lần trong Kinh thánh và trong 6 lần xuất hiện đó, nàng được nhận ra với chữ “kỵ nữ” hay “gái điếm”. Giống như bạn không thể nghĩ đến Thôma với suy nghĩ về “nghi ngờ”, bạn không thể nghĩ đến Raháp mà không nghĩ tới “kỵ nữ”. Vì thế Raháp là một cư dân người Ngoại sống trong thành Giêricô, ở đó nàng đã hành nghề kỵ nữ và đã sống trong một ngôi nhà xây trên tường thành sắp sửa bị đổ xuống. Chúng ta đọc câu chuyện của nàng trong sách Giôsuê (các chương 2 & 6). Giôsuê đã phái các thám tử đến thu thập thông tin về quân sự và chiến lược về những gì chờ đợi bên trong Đất Hứa.
Hiển nhiên, khi các thám tử vào trong thành phố, họ tìm một địa điểm thích ứng sẽ chu cấp cho họ với tình báo về sức mạnh phòng thủ các bức tường thành. Ngôi nhà của Raháp nằm trên bức tường thành là một địa điểm lý tưởng.
Không cứ cách nào đó, các báo cáo về sự có mặt của người Hêbơrơ đã rò rĩ vào trong thành Giêricô, và các tin tức nói tới Đức Giêhôva, Đức Chúa Trời của họ, là Đấng đã làm ra những việc lạ lùng vì ích cho họ. Có lẽ chính tại điểm nầy mà Raháp bắt đầu nhận biết có một sự khác biệt giữa Đức Chúa Trời mà người Hybálai đang thờ lạy và các thần của nàng. Chắc chắn sau khi các thám tử đến tại nhà của nàng, họ đã giải thích họ là ai và nói cho nàng biết đôi điều về vị Thần có danh là Giêhôva mà họ đã thờ phượng.
Nhưng dù sao đi nữa thì sự có mặt của các thám tử đã bị phát hiện và binh lính của nhà vua xứ Giêricô đang truy đuổi họ với dự tính giết chết họ. Sau khi nghe biết các thám tử đã vào nhà của Raháp, nhà vua liền sai các sứ giả đến kiểm tra câu chuyện. Đây là chỗ mà Raháp làm cho chúng ta phải kinh ngạc. Khi đối diện với người của nhà vua, nàng đã bảo hộ cho các thám tử mà Giôsuê đã sai tới. Có lẽ có một phần thưởng rất hậu hĩ trong đó cho nàng nếu nàng giao nộp các thám tử. Nếu nàng giao nộp họ, nàng sẽ trở thành một anh hùng. Nhưng lợi thế làm anh hùng gì ở đó nữa một khi thành phố đã bị định phải sụp đổ chứ.
Nhưng liều lĩnh trước sự an toàn của cá nhân mình, Raháp che giấu các thám tử và làm cho người của nhà vua phải lệch hướng (nghĩa là, nàng nói dối để bảo vệ họ). Điều nầy đã tạo ra sự khó khăn rất lớn cho những nhà giải kinh trải qua nhiều thế kỷ, họ đã tìm cách để xưng công bình cho mọi hành vi của nàng. Nhưng chúng ta không phải hợp lý hóa cách xử sự của nàng, nàng không được khen ngợi vì đạo đức của nàng, nàng đã được khen ngợi vì cớ đức tin của nàng.
Nàng đã giúp cho các thám tử trốn thoát song khẳng định rằng các thám tử phải xét nàng và nhà nàng được bảo vệ trong cuộc xâm lược sắp xảy ra. Nàng dòng các thám tử xuống bức tường thành bằng sợi dây màu đỏ điều, sợi dây nầy treo bên cánh cửa sổ nhà nàng để làm dấu cho người Hêbơrơ biết đó là Raháp và gia đình của nàng.
“Bất luận Raháp tin gì về Đức Chúa Trời, bất luận nàng tin thể nào về chiến thắng của dân Hêbơrơ, bất luận tấm lòng của nàng cảm nhận ra sao, nếu nàng không treo sợi dây màu đỏ điều, mọi sự sẽ trở thành con số 0” [Dan Schaeffer. “Defining Moments: When Choices Matter.” (Grand Rapids: Discovery House Pub., 2006) p. 117]
Lúc nầy phải là thời điểm xác định đối với Raháp. Không những đây là một việc quan trọng cần phải nghĩ đến – phải cầu nguyện đến – điều nầy buộc nàng phải hành động. Nhưng đức tin nàng khiến cho nàng xứng đáng ra sao để được nhắc tới cao kỳ như thế chứ? Không những Raháp bị thuyết phục nhưng nàng đã hành động căn cứ theo sự thuyết phục đó. Ở Giacơ 2:25 chép: “Đồng một thể ấy, kỵ nữ Ra-háp tiếp rước các sứ giả và khiến họ noi đường khác mà đi, người há chẳng phải cậy việc làm mà được xưng công bình sao?” Giacơ đang đưa ra luận điểm đức tin thực thì quan trọng hơn sự đồng ý theo trí khôn. Sự việc cũng rất thú vị khi để ý thấy rằng chỉ có những người nào tin theo lời của nàng rồi đi theo nàng qua các đường phố trở lại nơi nhà của nàng, chắc chắn họ sẽ được cứu.
Chúng ta tiếp thu được gì từ chỗ Raháp được kể vào trong danh sách nầy …. hạng tội nhân bất luận họ đã làm gì đều có thể được cứu nhờ đức tin. Raháp không phải là một trường hợp về sự tự cải thiện, mà là một sự nhắc nhớ để cách thức Đức Chúa Trời cứu chuộc thậm chí trong cuộc sống bỉ ỗi nhất nhờ ân điển của Ngài. Hêbơrơ 11:31 chúng ta đọc: “Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp không chết với kẻ chẳng tin, vì nàng đã lấy ý tốt tiếp rước các kẻ do thám”. Trong sách Hêbơrơ, chỉ có hai phụ nữ được nhắc tới đích danh tại đại sảnh đức tin, ở đây chúng ta thấy bà Sara (vợ của Ápraham) và kỵ nữ Raháp. Khi chúng ta đến với Đức Chúa Trời, Ngài tiếp nhận chúng ta y như chúng ta vốn có nhưng Ngài không bỏ chúng ta y như chúng ta vốn có đâu.
Thứ ba, Rutơ (1:5b) Hạng Người Đạo Đức Tốt Cần Đến Chúa Jêsus.
“…Bô-ô bởi Ru-tơ sanh Ô-bết. Ô-bết sanh Gie-sê”
Câu chuyện của nàng được thuật lại ở Rutơ 1-4. Rutơ là một người nữ Môáp. Dân Môáp là sản phẩm của một mối quan hệ loạn luân. Sau khi Sôđôm và Gômôrơ bị hủy diệt hai đứa con gái của Lót phục rượu ông và đã quan hệ tình dục với cha ruột của họ. Cả hai người con gái đều có thai và sanh con trai – họ trở thành các quốc gia Môáp và Ammôn. Rutơ là một người Môáp bị loại bỏ ra khỏi lời hứa của Đức Chúa Trời.
Rutơ là một phụ nữ đạo đức. Không có một vết uế nào nơi cá tánh của Rutơ khác hơn nàng là một người nữ Môáp, và vì thế bị rủa sả và bị loại bỏ ra khỏi việc trở thành một chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời. Phục truyền luật lệ ký 23:3, chép: "Dân Am-môn và dân Mô-áp sẽ không được phép vào hội Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng hề bao giờ vào được”. Tuy nhiên, nhờ đức tin của nàng, nàng trở thành một chi thể trong gia đình của Đức Chúa Trời.
Câu chuyện nói tới Rutơ bắt đầu với nạn đói kém trong xứ Israel. Một người Do thái tên là Êlimaléc và vợ người là Naômi, và hai con trai mình lên đường sang xứ Môáp vì những điều kiện sống tốt hơn ở đó. Trong khi họ ở đó, hai người con trai đã kết hôn với phụ nữ người Môáp. Thế rồi, thê thảm thay, trước tiên là Êlimêléc, rồi kế đó là hai con trai người cũng chết.
Rutơ là một trong hai cô con dâu. Ở một thời điểm nào đó, Rutơ đưa ra quyết định bước theo Đức Giêhôva là Chúa, có lẽ đây là ảnh hưởng tin kính của mẹ chồng của cô. Theo thời gian, Naômi mẹ chồng của Rutơ quyết định trở về xứ Israel. Bà đã làm hết sức mình để khuyên hai cô con dâu trở về nhà cha của họ. Một người làm theo, nhưng Rutơ đáp ứng lại trong một tư thế cảm động đến nỗi người ta thường nghe nói tới trong các lễ cưới hôm nay. Nàng nói với Naomi: “Xin chớ nài tôi phân rẽ mẹ; vì mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân sự của mẹ, tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi" (Rutơ 1:16).
Khi nàng trở về xứ Israel với mẹ chồng mình, không những nàng là một góa phụ chẳng có phương tiện gì hết chỉ là một người Ngoại sống trong một xứ lạ mà thôi. Khi nàng mót lúa ở ngoài đồng ngày nọ, như các góa phụ được phép trong xứ Israel, nàng nắm bắt được ánh mắt của chủ ruộng có tên là Bôô. Sự việc xảy ra sau đó là một truyện tình rất hoàn hảo. Chương trình rất táo bạo có lẽ khi suy nghĩ bằng các tiêu chuẩn của thế kỷ thứ 21, Naômi cố ý khuyên Rutơ nên kết hôn với Bôô (Rutơ 3:3-4). Rutơ đưa đề nghị của mình và Bôô đồng ý rồi ngày sau trải qua các thủ tục đáng phải có trong việc tự lập mình làm mục tiêu của nàng – người bà con có quyền chuộc. Họ kết hôn và có một con trai đặt tên là Ôbết, Ôbết là tổ phụ của Vua David. Vì vậy, Rutơ là tổ mẫu của Vua David.
Chúng ta tiếp thu gì từ chỗ Rutơ được kể vào bảng danh sách nầy …. Chúng ta học được rằng hạng người đạo đức tốt cần đến một Cứu Chúa.
Thứ tư, Bátsêba (1:6) Chẳng có một tội lỗi nào loại bỏ một người ra khỏi ân điển của Đức Chúa Trời.
“Gie-sê sanh vua Đa-vít. Đa-vít bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn (Bátsêba)”.
Người phụ nữ sau cùng không được nhắc tới đích danh, tuy nhiên nàng được xác nhận rõ ràng “là vợ của Uri”. Câu chuyện của nàng được thuật lại ở II Samuên 11. Mặc dù Bátsêba không phải là hoàn toàn vô tội trong bối cảnh nầy, tôi tin rằng chính tội lỗi của David được xác nhận ở đây. Ở đây bạn có David, một môn đồ của Đức Chúa Trời, Kinh thánh nói về ông như sau: “là người vừa lòng Đức Chúa Trời”, thế mà ông đã sa vào tội lỗi thật khủng khiếp.
Phần lớn các bạn đều biết rõ câu chuyện, nói tới Vua David thể nào vào một chiều kia đi dạo trên nóc đền vua quan sát cả thành phố Jerusalem. Trong khi nhà vua có mặt ở đó, ông nhìn thấy một phụ nữ xinh đẹp đang tắm trên mái nhà mình (II Samuên 11:2). Như câu chuyện tiếp tục, ông đã đứng xem, ông nán lại, ông thèm muốn và sau cùng ông muốn làm thỏa mãn dục vọng ấy bèn sai vời người phụ nữ nầy đến rồi ngủ với nàng. Thế rồi một ngày kia, David nhận được tin tức gây sốc, Bátsêba đã có thai. Một khi chồng nàng không có ở nhà mà ở với quân đội, họ đang có một nan đề. Vì vậy, David đưa ra quyết định tìm cách che đậy việc đó bằng cách sai người triệu chồng nàng từ chiến trận về nhà rồi báo cáo cho nhà vua biết. Tất nhiên là trong quá trình ấy, Uri có chút thời gian với vợ mình, và không có ai là người khôn ngoan hơn.
Nhưng người chồng, Uri, đến báo cáo với nhà vua nhưng lại từ chối không về nhà bao lâu đồng đội của ông còn chiến đấu nơi trận mạc. David sai ông về lại chiến trường với chỉ dụ bảo họ phải đặt Uri nơi tuyến đầu và rồi rút lui. Uri cần phải chết (11:14). Khi người chồng bị đưa ra khỏi bối cảnh rồi, David đã lấy Bátsêba làm vợ mình (11:27).
Đây là câu chuyện nói tới một vụ tà dâm, dối gạt rất kinh khủng, nổ lực che đậy và hoàn toàn là vụ giết người. Chúng ta biết rõ Bátsêba là một người Do thái (I Sử ký 3:5), và nàng cùng David nhắc cho chúng ta nhớ đến sự thực ngay cả hàng tín đồ cũng có thể sa vào trong tội trọng. Chúng ta tiếp thu được gì từ chỗ Bátsêba cũng được kể vào trong bảng danh sách nầy … ngay cả mọi tội lỗi của họ (tội lỗi của Bátsêba và của David) thật là khủng khiếp giống như họ đã tự loại bỏ ra khỏi ân điển của Đức Chúa Trời và không còn là một chi thể trong bảng gia phổ của Cứu Chúa nữa.
Khi chúng ta đọc các câu chuyện của bốn người phụ nữ nầy (và nhiều người nam) trên bảng danh sách, chúng ta không nghĩ là mình nên chú trọng vào tình trạng tội lỗi của họ mà hãy nhìn xem ân điển diệu kỳ của Đức Chúa Trời.
Vị anh hùng của câu chuyện nầy là Đức Chúa Trời, ân điển của Ngài đang chiếu ra sáng láng nhất nghịch lại tình trạng đen kịch của tội lỗi con người. Tuy nhiên, bất chấp hạng người nầy đã sống ra sao và họ đã làm gì, Đức Chúa Trời sử dụng họ và đặt họ vào trong cây gia đình của Chúa Jêsus. Cũng vậy, bất luận quá khứ của bạn có như thế nào đi nữa hoặc tình trạng hiện tại có ra sao, bất luận bạn sinh sống nơi nao hay hạn đã làm gì, Chúa Jêsus đã đến vì bạn.
Từ chỗ nầy, Mathiơ chắc chắn muốn chúng ta phải hiểu rõ rằng Tin Lành là dành cho mọi người, người Do thái và dân Ngoại đều như nhau và Tin Lành là dành cho hạng tội nhân đủ các loại. Đây là một thế giới tội lỗi và Mathiơ đang viết về việc ban hiến ân điển thật diệu kỳ kia.
Phần kết luận:
Có thể bạn có những bộ hài cốt trong tủ kín của gia đình. Có thể bạn là hài cốt trong tủ kín của gia đình bạn. Có thể bạn đang có một con cừu đen trong gia đình mình. Có thể bạn đang có con chiên màu đen trong gia đình của bạn. Bảng gia phổ ân điển nầy chúng ta đã xem xét sáng nay là một lời mời gọi bạn hãy đến với Chúa Jêsus và cầu xin Ngài giải cứu bạn.

Gia phổ ân điển
Mathiơ 1:1-3, 5-6, 16-17

Có hai bảng gia phổ nói tới Chúa Jêsus trong Tân Ước: Một trong sách Mathiơ lần theo gia phổ hợp pháp của Ngài để làm vua qua _______________ và một trong sách Luca lần theo gia phổ qua _____________.
Gia phổ trong sách Mathiơ nói tới Chúa Jêsus đang thực hiện ít nhất ba điều.
Ông minh chứng rằng Chúa Jêsus xuất thân từ dòng dõi hoàng gia của _________ và là người đũ tư cách để làm vua.
Ông lập Chúa Jêsus làm một nhân vật ___________________ , đức tin của chúng ta đã bắt rễ theo lịch sử chớ không phải theo huyền thoại hoặc hoang đường.
Ông tỏ ra phạm vi _____________ của Đức Chúa Trời. Thứ nhứt, ______________ (1:3).
__________________ Cần Chúa Jêsus.
Câu chuyện của nàng được thấy có ở Sáng thế kỷ 38.
Từ nàng, chúng ta học biết không một tội lỗi nào là trọng khi đem đặt ____________ ân điển của Đức Chúa Trời.

Thứ hai ______________ (1:5a) Tất Cả Hạng Tội Nhân Đều Được Cứu Qua ________.
Câu chuyện của nàng được thấy có ở Giôsuê (các chương 2, 6) (Hêbơrơ 11:31 Giacơ 2:25)
Từ nàng, chúng ta học biết hạng tội nhân bất luận họ đã làm gì đều sẽ được cứu qua ________.

Thứ ba, Rutơ (1:5b) Hạng Người ____________ Cần Tới Chúa Jêsus.
Câu chuyện của nàng được thấy trong sách Rutơ (1-4)
Từ nàng chúng ta học biết rằng ngay cả hạng người _________ đều cần một Cứu Chúa.
Thứ tư, _____________________ (1:6) Chẳng có một tội lỗi nào __________ một người ra khỏi ân điển của Đức Chúa Trời.
Câu chuyện của nàng được thấy có ở II Samuên 7
Từ nàng, chúng ta học biết gì về tội lỗi của họ (Bátsêba và David) thật khủng khiếp giống như họ đang ____________ họ ra khỏi ân điển của Đức Chúa Trời