Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Côlôse 1:19-23: "Huyết Của Thập Tự Giá"


HUYẾT CỦA THẬP TỰ GIÁ
Côlôse 1:19-23

          Thập tự giá nầy chẳng phải là “bất kỳ”.
          Đây chẳng phải là “một” cây thập tự.
          Huyết nầy chẳng phải là huyết của “ai đó”.
          Đây là huyết và thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ.

THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST

 

            VỚI THANH ĐỨNG VÀ THANH NGANG CỦA NÓ
CHỈ THẲNG LÊN CHA TRÊN TRỜI
 LÀ TÁC GIẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH CỨU RỖI

NÓ CHỈ RA CÁC ĐẦU CÙNG ĐẤT
KÊU GỌI NGƯỜI NAM, NGƯỜI NỮ, CON TRAI VÀ CON GÁI
ĐẾN TỪ TỪNG QUỐC GIA VÀ TỪNG BỘ TỘC

TIN THEO VÀ DẦM MÌNH DƯỚI
DÒNG HUYẾT ĐỎ THẮM
VÀ TỘI LỖI HỌ ĐƯỢC THANH TẨY


Phaolô đã chia sẻ với các tín hữu thành Côlôse những lẽ thật kỳ diệu và vinh hiển nói tới Đức Chúa Cha và Chúa Jêsus Con của Đức Chúa Trời.
Câu 12:  Phaolô nói cho chúng ta biết rằng chúng ta được dựng nên “xứng đáng” đủ tư cách trở thành người dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng.

1.  Đức Chúa Trời đã làm cho kẻ không xứng đáng ra xứng đáng bởi ân điển của Ngài để dự phần vào cơ nghiệp mà Đức Chúa Trời đã cung ứng cho chúng ta.
2.   Cơ nghiệp của chúng ta gồm cả sự sống đời đời.
3.   Cơ nghiệp của chúng ta một ngày kia bao gồm cả đất. Chúa Jêsus phán những người tin Chúa một ngày kia sẽ hưởng được đất mới (Mathiơ 5:5).
4.     Ngày hầu đến, khi chúng ta đồng trị với Đấng Christ trong vương quốc ngàn năm của Cứu Chúa (Khải huyền 20:6).
5.   Chúng ta sẽ thừa hường MỌI lời hứa của Đức Chúa Trời. Hêbơrơ 6:12 khích lệ chúng ta cứ “học đòi những kẻ bởi đức tin và lòng nhịn nhục mà được hưởng lời hứa”.
6.  Chúng ta đã nhận lãnh phần cơ nghiệp nầy rồi, song toàn bộ cơ nghiệp của chúng ta hãy còn ở trong thì tương lai.

Câu 13: Ông nói cho chúng ta là hết thảy những người tin Chúa đã được giải cứu ra khỏi quyền lực của sự tối tăm, và đã được dời vào trong Nước của Con yêu dấu Ngài.

1. Đức Chúa Trời đã giải cứu chúng ta “ra khỏi” nước của Satan đến với chính mình Ngài nhờ vào sự sanh lại.
2. Chúng ta ngay lập tức được “dời ra khỏi” bóng tối tăm vào trong Đấng Christ ngay thời điểm chúng ta được cứu.

Câu 14: Ông nói cho chúng ta biết chúng ta đã được chuộc nhờ vào huyết của Ngài, và đã nhận được sự tha tội.

1.    Chúa Jêsus đã “chuộc” chúng ta qua sự chết của Ngài trên thập tự giá và đã giải phóng chúng ta ra khỏi tình trạng làm nô lệ cho tội lỗi.
2.      Chúa Jêsus  – đã cung ứng “sự tha tội” Đức Chúa Trời đã dời đi hết thảy tội lỗi “Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu” (Thi thiên 103:12).

Câu 15: Ông chia sẻ với chúng ta rằng Chúa Jêsus là hình ảnh Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên.

1.   Chúa Jêsus – là hình ảnh Đức Chúa Trời trọn vẹn, tuyệt đối chính xác.
2.     Đấy là lý do tại sao Chúa Jêsus dám nói: “Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha” (Giăng 14:9).
3.     Chúa Jêsus – là Đấng sanh đầu hết thảy mọi vật dựng nên – nghĩa là, đứng đầu hàng.
        
Thi thiên 89:27:Lại ta cũng sẽ làm người thành con trưởng nam ta, Vua cao hơn hết các vua trên đất”.

Câu 16:  Tác giả chia sẻ với chúng ta rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã dựng nên muôn vật – muôn vật ở trên trời, và muôn vật đang ở dưới đất, cả hai: thấy được và không thấy được – muôn vật đã được dựng nên bởi Ngài và vì Ngài.

1. Các khoa học gia ước lượng rằng số các ngôi sao trong vũ trụ là khoảng số lượng cát trên những bờ biển của thế giới.
2.  Sự sáng tạo cung ứng bằng chứng cho cả hai: không những bản “Thiết Kế” của Đấng Cứu Thế mà còn sự “khôn ngoan” của Cứu Chúa nữa.
3.  Chúa Jêsus – đã phán và quyền phép của tiếng phán Ngài đã đưa sự sáng tạo vào hiện thực.  Ngài ra lịnh thì việc liền có.

Câu 17: Ông nói cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus hiện hữu TRƯỚC muôn vật, và BỞI Ngài muôn vật được vững bền.

1. Chúa Jêsus  có mọi quyền phép ở trên trời và dưới đất và bởi Ngài muôn vật đứng vững.
2.  Chúa Jêsus – đã dựng nên vũ trụ, hiện hữu ở ngoài và trước cả vũ trụ, và bảo tồn nó.

Câu 18:  Chúng ta học biết Chúa Jêsus là đầu của hội thánh và Ngài là ban đầu sanh trước nhất từ trong kẻ chết, hầu cho trong mọi vật, Ngài đứng đầu hàng.

1.   Chúa Jêsus – là “đầu” của Hội thánh và ban “sự sống”, và “hướng đi” cho hội thánh
2.     Chúa Jêsus – cung ứng năng lực và điều phối sự đa dạng bên trong Hội thánh.
3.     Chúa Jêsus – điều khiển các thuộc viên hội thánh khi họ phục vụ và hổ trợ nhau.

Câu 19:  Chúng ta khám phá Đức Chúa Cha vui lòng khiến mọi sự đầy dẫy của mình chứa trong Chúa Jêsus.

+ Đức Chúa Cha ngự trong Chúa Jêsus
+ Đức Thánh Linh ngự trong Chúa Jêsus

Mọi sự mà Đức Chúa Cha từng làm, đang làm, và sẽ làm đều qua Con vô tội của Ngài – là Đức Chúa Jêsus Christ.

Sự thánh khiết của Đức Cha, tình yêu thương của Đức Cha, tấm lòng chăn bầy của Đức Cha, lòng thương xót cứu chuộc của Đức Cha – đã bày tỏ ra đầy năng quyền và kỳ diệu trong đời sống  trên đất của Đấng Christ.

CHÚA JÊSUS LÀ SỰ SÁNG – ĐỨC CHÚA TRỜI THẤY ĐƯỢC.
CHÚA JÊSUS LÀ NGÔI LỜI – ĐỨC CHÚA TRỜI NGHE THẤY ĐƯỢC.
CHÚA JÊSUS LÀ SỰ SỐNG – ĐỨC CHÚA TRỜI CẢM NHẬN ĐƯỢC.

Sự Sống Của Chúa Jêsus Ơ Trên Đất Là Tình Tiết Quan Trọng Giữa Hai Cõi Đời Đời– Một Sự Sống Nầy Đi Ngược Lại Trước Khi Có Mọi Thế Giới, Và Sự Sống Kia Chìa Tay Ra Phía Trước Cho Đến Đời Đời.

Câu 20:  Chúng ta đến với câu trọng tâm cho sứ điệp hôm nay:

và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời”.

HÃY DỪNG LẠI VÀ SUY NGHĨ VỀ ĐẤNG CỨU THẾ TRONG MỘT PHÚT XEM:

1.     CHÚA JÊSUS – lìa bỏ hội chúng trên thiên đàng, nơi các thiên sứ ca hát rồi đến với một thế giới mà các tôi tớ thù nghịch của âm phủ vây quanh Ngài.
2.     CHÚA JÊSUS – lìa bỏ tiếng halêlugia quanh ngôi Đức Chúa Trời rồi đến với địa ngục đầy tiếng huýt sáo chê bai khi Satan tấn công.
3.     CHÚA JÊSUS – đã đến từ chỗ đầy dẫy với hạng người nghĩ Ngài xứng đáng với sự ngợi khen, tôn qui và thờ lạy đến với hạng người nghĩ Ngài chỉ xứng đáng với sự chết mà thôi.
4.     CHÚA JÊSUS – đã đến từ một Ngôi xuống tới bệ chơn, từ đỉnh vinh quang xuống tới đáy của sự sỉ nhục.
5.     CHÚA JÊSUS – đã đến và tự mình gánh chịu mọi sự thương khó mà chúng ta đáng phải chịu vì cớ tội lỗi của chúng ta.
6.     CHÚA JÊSUS – đã trả giá, cái giá đầy cay đắng, và là cái giá đời đời buông tha cho chúng ta.

Hãy nhìn xem, từ đầu, hai bàn tay, và hai chơn của Ngài
Buồn rầu và tình yêu trộn lẫn tuôn tràn ra:
Phải chăng tình yêu và sự thống khổ gặp nhau,
Hay mão gai tạo ra một mão triều thiên lộng lẫy thể ấy?

CHÚA JÊSUS – tạo nên sự hoà bình nhờ huyết của thập tự giá Ngài
CHÚA JÊSUS – có khả năng khiến cho muôn vật phục hoà lại với chính mình Ngài
CHÚA JÊSUS – có khả năng làm cho muôn vật trên đất và trên trời phục hoà 
PHỤC HOÀ (tiếng Hy lạp katallasso) ý nói: “thay đổi hoàn toàn”.

1. LÀM HOÀ LẠI  nghĩa là: “đem lại sự hài hoà trọn vẹn”.

Câu 21:  Chúng ta khám phá ra những ơn phước mới đến với chúng ta nhờ huyết của thập tự giá Ngài.

VỐN XA CÁCH 

THÙ NGHỊCH 

1.    Ngài đã thay đổi hết thảy chúng ta là những người vốn xa cách và thù nghịch trong lý trí của chúng ta bởi các việc làm gian ác.


John Bunyan mau mắn nói về sự ấy như sau:

          “Tôi được dựng nên để nhìn thấy rất nhiều lần, rằng Đức Chúa Trời và linh hồn tôi là bạn hữu bởi huyết của Ngài; phải, tôi đã nhìn thấy sự công bình của Đức Chúa Trời và linh hồn tội lỗi của tôi có thể ôm lấy nhau và hôn nhau nhờ vào huyết của Ngài.  Đây là một ngày tốt lành cho tôi; tôi mong tôi sẽ chẳng bao giờ quên được ngày ấy”.

Câu 22:  nhờ sự chết của Con Ngài chịu lấy trong thân thể của xác thịt mà khiến anh em hòa thuận, đặng làm cho anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được”.

Câu 23:  miễn là anh em tin Chúa cách vững vàng không núng, chẳng hề dời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành mà anh em đã nghe”.

KHI CHÚA JÊSUS BỊ TREO TRÊN THẬP TỰ NGÀY ẤY,
SỰ THỐNG KHỔ CỦA NGÀI QUÁ NGHIỆT NGÃ VÀ TÀN NHẪN
CHO TỚI LÚC SAU CÙNG NGÀI GỤC CẰM TRÊN NGỰC
TRONG KHI NHỮNG GIỌT HUYẾT NGÀI NHỎ XUỐNG BẮN TUNG TOÉ TRÊN MẶT ĐẤT.

LỜI LẼ SAU CÙNG NGƯỜI TA NGHE THẤY:  “MỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN, MỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN”.

MỘT GIỌT HUYẾT RƠI XUỐNG CÁT RỒI NÓ THÌ THẦM VỚI HẠT CÁT MỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN
MỘT GIỌT HUYẾT RƠI TRÊN LÁ CỎ MỎNG MANH KIA THÌ THÀO VỚI LOÀI CỎ MỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN
TIẾNG KÊU CỦA CỨU CHÚA NGHE THẤY ĐƯỢC TRÊN MỌI NẺO ĐƯỜNG DẪN TỚI CỔNG THIÊN ĐÀNGMỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN
VÀ LỜI LẼ ĐƯỢC GOM LẠI, ĐƯỢC TẢI XUỐNG MỌI NẺO ĐƯỜNG CỦA SỰ VINH HIỂN – MỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN.

SỰ CỨU RỖI ĐÃ HOÀN TẤT.
ĐỨC CHÚA CON ĐÃ CHỊU CHẾT VÌ HẠNG TỘI NHÂN
SỰ CỨU RỖI GIỜ ĐÂY ĐANG SẴN CÓ CHO NGƯỜI NÀO TIN.

TẠI THẬP TỰ GIÁ, MỌI NHU CẦN CỦA CHÚNG TA ĐƯỢC THOẢ:

1. CHÚNG TA CẦN ĐƯỢC YÊU THƯƠNG – VÀ CHÚNG TA ĐANG ĐƯỢC YÊU THƯƠNG
2.  CHÚNG TA CẦN ĐƯỢC THA THỨ – VÀ CHÚNG TA ĐANG ĐƯỢC THA THỨ
3.  CHÚNG TA CẦN SỰ AN NINH – VÀ CHÚNG TA CÓ SỰ AN NINH ĐÓ
4.  CHÚNG TA CẦN SỰ TRÔNG CẬY – VÀ CHÚNG TA ĐANG CÓ SỰ TRÔNG CẬY ẤY

TÁC GIẢ THI THIÊN NÓI THẬT MẠNH MẼ:
         HỠI LINH HỒN TA, KHÁ NGỢI KHEN ĐỨC GIÊ-HÔ-VA!
         MỌI ĐIỀU GÌ Ở TRONG TA HÃY CA TỤNG DANH THÁNH CỦA NGÀI!
         HỠI LINH HỒN TA, HÃY NGỢI KHEN ĐỨC GIÊ-HÔ-VA,
          CHỚ QUÊN CÁC ÂN HUỆ CỦA NGÀI.
                             (Thi thiên 103:1-2).

HÔM NAY, ĐẤNG CỨU THẾ ĐANG ĐỢI ĐỂ LÀM THOẢ MÃN CÁC NHU CẦN CỦA BẠN.
HÔM NAY ĐẤNG CỨU THẾ ĐANG SẴN SÀNG ĐỂ LÀM THOẢ MÃN MỌI NHU CẦN CỦA BẠN.
HÃY ĐẾN VỚI NGÀI HÔM NAY.
HÃY ĐẾN VỚI NGÀI NGAY BÂY GIỜ.





Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

BỊ BẮT & BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ


ĐẤNG CỨU THẾ XUẤT HIỆN
BỊ BẮT & BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ
            Chúng ta đã bước theo cuộc thám hiểm ‘EPIC’ qua mọi phân đoạn của Kinh thánh. Đỉnh cao của cuộc thám hiểm nầy là đời sống của Chúa Jêsus. Cao điểm của đời sống Chúa Jêsus là lần thăm viếng sau cùng của Ngài tại thành Jerusalem. Thực vậy, các sách Tin Lành đã dành một phần ba lời chứng của họ cho việc mô tả các biến cố đã diễn ra vào ngày Chúa nhật lễ lá đó.
            Những người Do thái công bình vốn mong đợi đến được thành Jerusalem để thờ lạy mỗi năm ba lần. Và những chuyến lữ hành “lên thành Jerusalemhàng năm như thế nầy có thể được xem là hình bóng cho cả cuộc đời của Chúa. Sự ra đời, phép báptêm, sự cám dỗ, những sự chữa lành và sự rao giảng của Chúa Jêsus, sự chú ý của kẻ thù và bạn hữu Ngài thiết lập một cuộc hành trình — một cuộc hành trình kết thúc với sự Ngài đến trong thành thánh. Một lần sau cùng Ngài đã bước vào thành Jerusalem, giờ đây với một mục đích duy nhứt — ‘Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi’.
            Trong tuần lễ sau cùng của cuộc đời Ngài, chúng ta thấy rằng mặc dù Chúa Jêsus luôn luôn ở cùng với nhiều người khác, Ngài vẫn bị hiểu lầm và thật cô độc. Nắm lấy phần chú thích tình trạng cô độc của Chúa Jêsus có thể khích lệ chúng ta hướng đến Ngài để xin giúp đỡ khi chúng ta bị dứt bỏ trong tình trạng chẳng có ai hiểu rõ hay quan tâm đến chúng ta.
            Chúng ta bắt lấy câu chuyện vào ngày Chúa nhật trước ngày lễ Vượt Qua.
Luca 19:36-42: “Khi Đức Chúa Jêsus đang đi tới, có nhiều kẻ trải áo trên đường. Lúc đến gần dốc núi ô-li-ve, cả đám môn đồ lấy làm mừng rỡ, và cả tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời về những phép lạ mình đã thấy, mà nói rằng: Đáng ngợi khen Vua nhân danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời, và vinh hiển trên các nơi rất cao! Bấy giờ, có mấy người Pha-ri-si ở trong đám dân đông nói cùng Ngài rằng: Thưa thầy, xin quở trách môn đồ thầy! Ngài đáp rằng: Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên. Khi Đức Chúa Jêsus gần đến thành, thấy thì khóc về thành, và phán rằng: Ước gì, ít nữa là ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy”.
            Bối cảnh rất ồn ào và sinh động. Đám dân đông hô to lên lời ngợi khen. Một số người Pharisi thốt ra sự chống đối. Ở giữa các biến cố, một mình Chúa Jêsus đang tan vỡ, kêu la. Hai hàng nước mắt của Ngài không phải khóc vì chính mình Ngài đâu. Dân tộc mà Ngài yêu thương và thành Jerusalem yêu dấu với đền thờ nguy nga của nó đang ở trong chỗ hiểm nguy. Đám đông cổ vũ kia không hiểu rõ bản chất của sự cứu rỗi mà Ngài đang hiến cho (thích chẳng nhìn thấy hơn) và kẻ thù của Ngài đã quyết không những quở trách Ngài, mà còn muốn giết chết Ngài nữa. Và vì thế Chúa Jêsus khóc.
            Về sau, chúng ta thấy Chúa ở Bêthany ngay phía ngoài thành Jerusalem đang ăn tối với các môn đồ Ngài tại một ngôi nhà riêng. Một môn đồ của Ngài có tên là Mary đã xức dầu thơm đắt tiền cho Ngài — một hành động vừa khó khăn về mặt xã hội và ngông cuồng về mặt tài chính nữa. Khi nàng ta bị quở trách, Chúa Jêsus bảo hộ cho nàng ta rồi một lần  nữa kêu gọi sự chú ý đến chuyến hành trình đơn độc của chính Ngài. Sự xức dầu mà Ngài nhận lãnh là một sự chuẩn bị cho sự chôn của Ngài.
            Khi nhìn vào tương lai ở một khoảng cách ngắn, Chúa Jêsus nhìn thấy một thi hài, chịu chết bởi đóng đinh vào thập tự giá và xác quyết hành động yêu thương của Mary. Sự Ngài nhắc nhở đến cái chết tạo ra sự cô lập đối với Chúa Jêsus. Không một ai muốn nghe nói về sự hành quyết Ngài sắp xảy ra.
            Hai ngày kế đó, một lần nữa Chúa Jêsus nhóm lại với các môn đồ Ngài để dùng bữa tối — bữa ăn Lễ Vượt Qua, bữa tiệc cuối cùng của Chúa Jêsus. Mặc dù 13 người có mặt, một lần nữa chúng ta lại nhìn thấy Chúa Jêsus trong cảnh đơn độc, đang có một cuộc trao đổi riêng với Giuđa (và ma quỉ đã nhập vào hắn)“những gì ngươi đang làm, hãy làm mau đi”. Chiếc đồng hồ cát gần như là trống trơn, tuy nhiên các môn đồ khác tiếp tục bữa ăn mà chẳng ý thức gì về những gì sắp xảy đến.
            Sau bữa ăn tối, họ rời phòng cao, ở đó họ đã ăn uống rồi băng qua trũng đến với Núi Ôlive. Khi họ đã đi rồi, Chúa Jêsus bảo các môn đồ rằng hết thảy họ sẽ bỏ chạy trong sự sợ hãi (“đánh kẻ chăn thì bầy chiên sẽ tan tác”). Phierơ được nhắc nhớ về những lời xưng nhận kiêu căng kia và những lần chối bỏ lặp đi lặp lại của ông, nhưng hầu hết các môn đồ đều bỏ chạy tránh nguy hiểm và bỏ Chúa Jêsus lại để chính mình Ngài đối diện với sự hành hình. Trên Núi Ôlive là một ngôi vườn, Chúa Jêsus đã bước vào để cầu nguyện, một lần nữa cùng với các bạn hữu của Ngài, một lần nữa trong sự cô độc.
Mác 14:32-36: “Kế đó, đi đến một nơi kia, gọi là Ghết-sê-ma-nê, Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Các ngươi hãy ngồi đây, đợi ta cầu nguyện. Ngài bèn đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi, thì Ngài khởi sự kinh hãi và sầu não. Ngài phán cùng ba người rằng: Linh-hồn ta buồn rầu lắm cho đến chết; các ngươi hãy ở đây, và tỉnh thức. Rồi Ngài đi một đỗi xa hơn, sấp mình xuống đất mà cầu nguyện rằng: nếu có thể được, xin giờ nầy qua khỏi mình. Ngài rằng: A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn, mà theo điều Cha muốn”.
            Chúa Jêsus đã trở nên người gánh lấy tội lỗi và lần đầu tiên trong cuộc đời của Ngài một lời thỉnh cầu được trình ra với Cha Ngài trong sự cầu nguyện đã bị khước từ. Các môn đồ một lần nữa đã làm cho Ngài phải chùng xuống, họ sa vào giấc ngủ thay vì ở đó thức canh. Và những lời cầu nguyện của Ngài đã mở ra khoảng cách ngày càng tăng của Ngài đối với Đức Chúa Trời — giờ đây những khao khát của Ngài đã đi ngược lại với ý chỉ của Đức Chúa Cha.
            Rồi khi ban đêm trầm hẳn xuống, bóng tối tăm càng đậm nét hơn. Chúa Jêsus bị bắt và chịu bốn lần thẩm vấn bởi các nhân vật cầm quyền — Anne, Caiphe, Hêrốt, và Philát. Ngài bị quất bằng roi bởi lính canh đền thờ của người Do thái và kế đó bị mấy tên lính Lamã quất bằng roi da.
Mathiơ 27:27-31: “Lính của quan tổng đốc bèn đem Đức Chúa Jêsus vào công đường, và nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài. Họ cổi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài. Đoạn, họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa. Họ nhổ trên Ngài, và lấy cây sậy đánh đầu Ngài. Khi đã nhạo báng Ngài rồi, thì họ cổi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự”.
            Một lần nữa, tình trạng cô độc của Đấng Cứu Thế quả là hết mức. Mặc dù Ngài cầu thay xin tha thứ cho những kẻ đánh đập Ngài, không một ai thốt ra một từ nào tỏ ra quan tâm hay yên ủi dành cho Ngài. Và bóng tối tăm vẫn đang trên đà tăm tối hơn.
Mathiơ 27:45-46: “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?”
            Chúa Jêsus đã ở trong tình trạng cô độc vào Chúa nhật lễ lá. Ngài bị cô lập khi Ngài còn ở với các bạn hữu Ngài, lời cầu xin của Ngài bị từ khước khi Ngài cầu nguyện ở trong vườn, và bị kẻ thù Ngài đánh đập. Nhưng đây là điều tệ hại nhất cả thảy: ‘Đức Chúa Trời tôi ơi, Cha yêu dấu ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?’ Những gì chúng ta không thể nghe thấy là sự nát lòng của Cha trên trời đang dứt bỏ Con yêu dấu của Ngài. Chúa Jêsus đã trở nên “tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (II Côrinhtô 5:21). Bị hoán đổi từ người vô tội thành kẻ gánh lấy tội lỗi, Đức Chúa Con bị phân cách đối với Đức Chúa Cha. Biến cố đơn độc nầy sẽ cất lấy hơi thở ra khỏi chúng ta, làm cho sợ hãi và khiến chúng ta phải kinh ngạc.
            Một dòng từ bài thánh ca của Charles Wesley có đề tựa là And Can It Be, thoạt đến với tâm trí: “Đây là lẽ mầu nhiệm: Đấng bất tử đang gục chết . . . Đây là ơn thương xót! Nguyện cả đất phải thờ lạy, thiên sứ thôi không còn nói nữa. . . . Tình yêu diệu kỳ! Sao lại như thế được, hỡi Đức Chúa Trời tôi, lẽ nào Ngài phải chết vì tôi?” 
            Chúng ta kết luận bài học nầy với một phân đoạn từ sách Hêbơrơ, ở đây tình trạng cô độc và sự thương khó của Chúa Jêsus được xem là nguồn phước hạnh cho chúng ta khi chúng ta đang ở trong chỗ có cần nghiêm trọng nhất.
Hêbơrơ 2:18, 4:15-16: “Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy … Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng”
            Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời có thể răn đe chúng ta. Tội lỗi chúng ta chẳng có một chỗ nào trong sự hiện diện của Ngài. Cái điều đáng sợ khả thi hơn hết, ấy là mối quan hệ quan trọng một thời có thể kết thúc, Đức Chúa Trời không còn nghe thấy một tiếng kêu xin cứu giúp nào nữa, rằng Ngài đã quên chúng ta.
            Vấn đề quan trọng cần phải nhớ, ấy là Chúa Jêsus đến trợ giúp chúng ta trong vai trò Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm thành tín; rằng Ngài đã từng trải mọi nổi buồn rầu và đau khổ của tội lỗi ở một khoảng cách đối với một Đức Chúa Trời thánh khiết. Ngài đã bị tàn phá bởi sự thử thách và bị hạ thấp bởi tình trạng yếu đuối của thân thể và tâm linh. Đau khổ và sự chối bỏ trong hiện tại, sợ hãi về tương lai, vật vã trong sự cầu nguyện, in lặng từ trời — mọi điều nầy Cứu Chúa chúng ta đã từng kinh nghiệm.
            Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.




Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

HÃY Ở LẠI VỚI TA


Bài học từ các thí dụ ... Hãy ở lại với ta:
Thí dụ nói tới người đàn bà goá khăng khăng

Tác giả: Darris McNeely

Đức tin ở trong lời cầu nguyện chúng ta thốt ra với giọng nói yếu ớt trong giờ phút tối tăm nhất của đời sống chúng ta. Khi giọng nói của chúng ta yếu ớt nhất là khi chúng ta nghe thấy giọng nói êm dịu nhỏ nhẹ của Đức Chúa Trời.

Người đàn bà goá:
            Khi câu chuyện của Đấng Christ mở ra, bên trong thành phố của vị quan án nầy có một người đàn bà goá, bà ta có một nan đề. Bà ta kính mến Đức Chúa Trời, nhưng nan đề còn lớn lao hơn bà có thể chịu đựng. Điều nầy đã tạo ra mối quan tâm lớn lao của bà kể từ khi bà ta còn có thể tự lực cánh sinh và có khả năng tự chăm sóc cho bản thân mình.
            Ai đó lấn lướt bà ta và kết quả là một tình huống tranh cãi mà bà ta không sao chịu được. Sự trông cậy duy nhứt của bà ta theo luật định là phải đến gặp vị quan án rồi trình bày duyên cớ của mình.
            Bà ta xin xét lẽ sự công bình, vị quan án đang lắng nghe và thấy rằng bà ta đã ăn ở phải lẽ rồi can thiệp cho bà ta. Dường như bà ta đã thực hiện nhiều lần đến với vị quan án để nài xin được xét lẽ cho, song ông ta chẳng chịu nghe.
            Một thời gian trôi qua. Sự nài xin của người đàn bà goá cứ khăng khăng không dứt. Bà ta cần sự giúp đỡ. Bà ta cần sự khuây khoả. Vị quan án, hay ai đó, sẽ giúp cho bà ta? Sự việc dường như vô vọng rồi!
Một vết nứt ở mặt ngoài
            Ngay cả tấm lòng chai đá nhất không đầu hàng để thông cảm hoàn cảnh của người khác có thể chùng xuống qua sự quấy rối liên tục như vầy. Thế rồi, thời điểm bực tức đã đến khi vị quan án nhận ra ông không muốn nhìn thấy người đàn bà nầy xuất hiện trước mặt ông ta nữa.
            Ông ta kết luận sẽ chăm chú nghe trường hợp của bà ta rồi xét xử theo lẽ công bình có cần. Ông ta không muốn bị kiệt sức hay bị làm cho bối rối mãi bởi trường hợp kéo dài. Có thể là có một sự bức rức về tội lỗi, nhưng một sự mong muốn áp đến cần phải xét cho xong với người đàn bà nầy và với trường hợp của bà ta.
            Ngày đến, khi vị quan án cho triệu tập xét xử trong sự ưu đãi cho người đàn bà goá nầy. Trường hợp được xét duyệt, và người đàn bà trở về nhà mình. Bà ta đã tiếp thu được bài học có giá trị về sự công bình của con người. Trên hết mọi sự, bà ta đã học biết phải bám lấy vụ kiện — chớ không chịu thua — phải thật khăng khăng. Đến cuối cùng, điều phải sẽ đắc thắng.
Sự khôn ngoan từ vị quan án bất công
            Đấng Christ bảo chúng ta phải "nghe lời quan án không công bình đó đã nói" (Luca 18:6). Trong phần kết luận của vị quan án có một bài học. Không phải bài học theo kiểu vị quan án có đâu, một người khó chịu và kiêu căng, mà là một bài học trong chỗ làm thế nào chúng ta tiếp cận mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời kìa.
            Sự việc cho thấy chẳng phải Đức Chúa Trời là bất công hay chẳng quan tâm. Chúa Jêsus muốn chúng ta tiếp thu một việc về cách Ngài và Đức Chúa Cha điều động "phòng xử án" của họ. Đức Chúa Trời là quan án công bình của toàn thế gian, và sự phán xét của Ngài luôn luôn là công bằng và không thiên vị, và thời điểm của Ngài luôn luôn là thích ứng.
            Khi ấy, Chúa Jêsus đưa ra nhận định của Ngài: "Vậy, có lẽ nào Đức Chúa Trời chẳng xét lẽ công bình cho những người đã được chọn, là kẻ đêm ngày kêu xin Ngài, mà lại chậm chạp đến cứu họ sao?" (Luca 18:7). Người được chọn là dân sự của Đức Chúa Trời, là thuộc viên được kêu gọi, được chọn và trung tín trong Thân của Đấng Christ. Trong phút chốc, Đấng Christ nhắm vào nhóm người nầy mà Ngài gọi là "thuộc về Ngài".
            Câu nói nầy không loại trừ đặc quyền trả lời cho những lời cầu nguyện của bất cứ ai vào thời điểm hay nơi chốn nào, mà nó có một sứ điệp cho những người được Đức Chúa Cha kêu gọi để trở thành chi thể của Hội thánh Ngài. Có những thời điểm dầu ngay cả người được chọn của Đức Chúa Trời sẽ thắc mắc liệu Ngài có nghe lời cầu nguyện của họ và có hiểu rằng họ cần những câu trả lời tức thì hay không!?! Họ đưa ra những lời thỉnh cầu hàng ngày của họ ở trước ngai của Đức Chúa Trời, xin xét lẽ công bình, xin được chữa lành, xin được bình an trong tâm trí hay xin sự tha thứ và một tấm lòng trong sạch.
            Khi giấc ngủ tránh né họ và họ thức giấc lúc nửa đêm không thể ngủ được, họ cầu nguyện, tìm kiếm sự hiểu biết và yên ủi. Họ khao khát cái chạm nhẹ nhàng nơi bàn tay yêu thương của Đức Chúa Trời đưa họ đến với một nơi rộng rãi hay đồng cỏ xanh tươi nơi có thể tìm được mé nước bình tịnh.
            Đức Chúa Trời lắng nghe cả thảy. Đấng Christ phán: "Ngài …chậm chạp đến cứu họ sao?" (Luca 18:7). Ngài biết ngay chúng ta cần gì, trước khi chúng ta xuất hiện trong sự hiện diện của Ngài. Ngài lắng nghe từng lời của chúng ta trong sự cầu nguyện. Lỗ tai Ngài không điếc đâu.
            Khi ấy Đấng Christ phán ra một việc chúng ta có thể thấy khó mà tin được: "Ta nói cùng các ngươi, Ngài sẽ vội vàng xét lẽ công bình cho họ. Song khi Con người đến, há sẽ thấy đức tin trên mặt đất chăng?" (Luca 18:8).
            Vội vàng sao? Chúng ta phải bình luận về việc ấy xem. Thậm chí chúng ta sẽ nghĩ rằng Đức Chúa Trời không nghe hay rất chậm đáp ứng. Nhưng chúng ta sẽ lầm. Vì mục đích thật của thí dụ nầy nằm trong câu hỏi: "Há sẽ thấy đức tin trên mặt đất chăng?"
            Đức tin là điều mà người đàn bà goá khăng khăng nầy đã có. Đức tin cho thấy chủ trương của bà ta là công bình và bà ta đã ở về phía lẽ phải. Đức tin cho thấy rằng luật pháp đã ở về phía của bà ta và luật pháp là tốt lành và trọn vẹn phục vụ cho những ai là nạn nhân của sự bất công. Đức tin cho thấy ngay cả vì quan án sừng sõ lòng chai cứng nhất sẽ phải chìa tay ra với hoàn cảnh của người goá bụa như bà ta và từ những chỗ gay go lắm của tấm lòng, khiến phải hành động như ông ta đã làm.
            Qua trường hợp đức tin nầy, Đấng Christ đang tỏ ra cho chúng ta biết phải sống khăng khăng với sự chúng ta bước đi với Đức Chúa Trời. Đừng thối lui. Đừng dừng lại việc tin tưởng. Đừng bao giờ bắt đầu nghĩ Ngài chẳng hiện diện ở kia, hay Ngài đã quên, hoặc Ngài chẳng quan tâm.
            Đức Chúa Trời đang hiện diện ở đó, và Ngài đang lắng nghe. Những gì chúng ta nghĩ là một sự “chậm trễ” thì chẳng có với Đức Chúa Trời đâu. Thời gian với Đức Chúa Trời không phải là thời gian như với chúng ta đâu. Hãy nhớ, Đấng Christ phán Đức Chúa Trời "sẽ vội vàng xét lẽ cho họ". Đức Chúa Trời luôn luôn là đúng giờ — thời điểm của Ngài.
"Hãy ở lại với Ta"
            Những gì Đấng Christ đang phán với chúng ta là "hãy ở lại với Ta". Hãy quay lại với phần mở đầu của thí dụ, ở đó Luca đưa ra lý do cho bài học: "Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ một thí dụ, để tỏ ra rằng phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt" (Luca 18:1, phần nhấn mạnh được thêm vào).
            Người đàn bà goá không mệt mỏi. Bà ta cứ đến gặp vị quan án và tìm kiếm sự công bình. Chúng ta cần phải giữ việc đến với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện cho từng nhu cần và từng thiếu thốn. Chúng ta không thể mỏi mệt và thối lui trong thất vọng và bỏ cuộc được.
            Đức Chúa Trời sẽ hoàn tất những gì Ngài đã khởi sự nơi từng người được chọn của Ngài (xem Philíp 1:6). Ngài là ngay thẳng và công bình và sẽ đáp lời cầu nguyện của chúng ta (Mathiơ 7:7-11). Ngài đã phán như thế, và Ngài sẽ làm như thế. Về phần chúng ta, chúng ta cứ đến với ngôi công bình và thương xót của Ngài và cứ cầu xin. Đức Chúa Trời không mệt mỏi khi lắng nghe chúng ta. Ngài không chơi một game với chúng ta để xem coi bao lâu hay bao nhiêu lần chúng ta quay trở lại.
            Lời hứa của Ngài là lắng nghe và không chập chạm đối cùng chúng ta. Ngài phán: Hãy ở lại với Ta khi ngươi mạnh khoẻ và hạnh phúc, khi mọi nhu cần của ngươi đã được thoả. Hãy ở lại với Ta khi ngươi có công ăn việc làm và tài khoản ngân hàng của ngươi đầy đủ. Hãy ở lại với Ta khi mặt trời đang chiếu sáng và cuộc sống thì tốt lành và ngọn gió đang ở sau lưng ngươi. Hãy ở lại với Ta khi ngươi có những câu trả lời, bạn bè và sự tán thưởng của đám đông. Hãy ở lại với Ta khi người đang tin cậy, khôn khéo và thành thực.
            Hãy ở lại với Ta, Ngài phán, khi cuộc sống là tốt lành, và rồi ngươi sẽ học biết kính sợ Ta trong mọi sự, và sự giàu có và đủ thứ ngươi có sẽ phục vụ ngươi và nhiều người khác nữa.
            Những cũng: Hãy ở với Ta, Ngài phán, khi ngươi ốm yếu, đói khát và không biết bữa ăn sắp tới sẽ đến từ đâu. Ngài phán, Hãy ở với Ta, Ngài phán, khi sức khoẻ của ngươi lụn bại hay một tai nạn xảy ra và ngươi chịu khổ mà trước đây chưa hề có. Ngài phán, Hãy ở với Ta, khi mọi sự ngươi đã làm bị vụn nát trước mắt ngươi và những kẻ mà tình bạn của người ấy ngươi thèm khát không thể nhớ đến tên ngươi. Hãy ở với Ta, Đức Chúa Trời phán, khi ngươi sống cô đơn và sợ hãi tư tưởng phải ra khỏi giường mỗi ngày giống như phải giáp mặt với một sự phấn đấu bất khả thi.   .
            Hãy ở với Ta, Ngài phán, thêm một ngày nữa, thêm một lần nữa và thêm một lời cầu nguyện nữa. Hãy ở với Ta vì chẳng còn có ai khác nữa.
            Đây là những gì câu chuyện nói tới người đàn bà goá khăng khăng dạy chúng ta về sự cầu nguyện và đức tin mà chẳng mỏi mệt. Chúng ta có thể mất nhiều thứ trong đời nầy, nhưng đừng bao giờ nghĩ đến việc để cho tấm lòng phải chào hàng trước sự thất vọng và vô tín. Hãy canh giữ lòng mình. Phải bền đỗ giống như người đàn bà goá kia khi chạy đến với vị quan án con người, tin vào sự thật và công bình cuối cùng sẽ thắng.
            Hãy ở với Ta, Đức Chúa Trời phán, vì Ta sẽ đem ngươi vào Vương Quốc đời đời của Ta. Ta sẽ làm xong những gì Ta đã khởi sự nơi ngươi. Hãy kiên nhẫn và đừng mỏi mệt!



Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

Các Sứ Đồ & Sự Chống Đối



ĐẤNG CỨU THẾ XUẤT HIỆN
CÁC SỨ ĐỒ & SỰ CHỐNG ĐỐI
            Một “đám dân đông” có thể tạo ra tiếng vang. Mối giao thông rộng khắp, thực tế ra hiệu cho một nhóm người đến với một sự kiện có tính cách đại chúng: một sự phản kháng về chính trị, một hí trường, một lễ hội. Đám đông tan đi một cách nhanh chóng giống như nó khởi sự và rời đi mà chẳng có một dấu hiệu nào cả.
            Đôi khi, những nhóm người có thể tụ tập lại để hoàn thành nhiều việc quan trọng. Nhưng thường thì những đám dân đông chỉ có cái bề ngoài quan trọng thôi. Họ ‘loé lên’ mà chẳng có một mục tiêu nào lâu dài cả. Những đám dân đông theo sau Chúa Jêsus phần lớn là thuộc về loại nầy.
            Trong loạt sứ điệp mà chúng ta đang theo dõi qua trình tự của Kinh thánh và giờ đây chúng ta đang ở tại thời điểm thuật là truyện tích cuộc đời Chúa Jêsus. Chúng ta đã rời khỏi phần khởi sự chức vụ công khai của Ngài trong xứ Galilê. Sự rao giảng cùng các phép lạ của Ngài đã khiến cho đoàn dân đông sốt sắng kia nhóm lại, nhưng họ không kéo dài đâu. Người nào vui vẻ được Chúa Jêsus cho ăn uống đã xây khỏi sự dạy của Ngài. Những người nào lấy làm vui nơi các phép lạ của Ngài họ không muốn bị thách thức bởi ý nghĩa của những sự dạy đó. Những đám dân đông khi ấy và bây giờ có thể thay đổi. 
            Tuy nhiên, có hai nhóm người bước theo Chúa Jêsus cách trung thành, những ai nhóm lại đầy đủ với Ngài, và người nào có mặt từ đầu cho đến cuối. Họ chính là hai nhóm người luôn xem trọng Ngài hôm nay: các kẻ thù và các môn đồ của Ngài. 
            Phần việc của chúng ta trong phần nghiên cứu nầy là đi với tốc độ nhanh để bắc cầu nối khoảng cách giữa những ngày đầu tiên của Chúa Jêsus như nhân vật của quần chúng và các biến cố bi thảm của tuần lễ cuối cùng của cuộc đời Ngài — một khoảng thời gian chừng hai năm rưỡi. Khi đi nhanh chóng như thế, chúng ta sẽ ra sức nhìn xem tận mắt các biến cố của cả hai: kẻ thù và các môn đồ của Chúa Jêsus. 
            Những kẻ thù nghịch Chúa Jêsus đã nhìn xem Ngài như thế nào vậy? Thứ nhứt, có người xem Ngài là một tay giả mạo. Ở thành Naxarét, Ngài bị quở với cả bầu không gian: “Ngươi chẳng có gì đặc biệt hết — chỉ là con trai của một gã thợ mộc mà thôi. Chúng ta đã biết hết mọi sự trong cuộc sống của ngươi”. Và Chúa Jêsus phán: “một tiên tri không nhận được sự tôn trọng của quê hương mình”. Giống như trường hợp với các tiên tri trước kia, hạng người có đầu óc hẹp hòi đã nhìn thấy sự giả mạo và xem thường sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
            Sau đó, Chúa Jêsus bị kẻ thù Ngài gọi là kẻ phạm thượng. Có người bị què từ thuở sinh ra được đem đến cho Chúa Jêsus trước sự hiện diện của đám dân đông. Chúa tuyên bố trước tiên: “tội lỗi ngươi đã được tha”. Kẻ thù của Ngài, họ đang tìm cách gây rối, đã xem câu nói nầy là phạm thượng — họ cho rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới có quyền tha tội. Sự chữa lành tới sau của Chúa Jêsus cho người què đã cung ứng như bằng chứng rằng “Con Người có quyền tha tội”. Trong cơ hội nầy và nhiều cơ hội khác, kẻ thù của Chúa Jêsus càng để ý đến Ngài kỹ hơn — không phải để khám phá hay học hỏi mà để củng cố sự chống đối của họ.
            Kẻ thù của Chúa Jêsus gọi Ngài là một kẻ giả mạo, một kẻ phạm thượng rồi đi thêm một bước xa hơn, một kẻ phản nghịch. Sứ điệp của Ngài bị họ xem là nguồn gốc của sự dối trá cần phải làm cho câm bặt đi. Ngài nhìn thấy thánh khiết và bất khiết là các vấn đề của tấm lòng, chớ không phải bề ngoài, rồi phán rằng ngày Sa-bát đã được dựng nên vì con người, chớ không phải ngược lại. Rồi khi Ngài tiếp xúc với những kẻ bị xã hội ruồng bỏ và kẻ nghèo, thì rõ ràng lắm các kẻ thù Ngài dự tính thiên vị về số ít, chớ không bảo hộ hạng người bình thường tránh cơn nguy hiểm thuộc linh.
            Sứ điệp của Chúa Jêsus là một sứ điệp giải phóng đã được ban ra cho mọi người và sứ điệp ấy tiếp tục làm giày vò những người nào muốn sử dụng tôn giáo làm nguồn lợi cá nhân. Chúa Jêsus buộc tội những kẻ thù Ngài bằng đủ thứ từ ngữ.
Luca 11:39-52: “Nhưng Chúa phán rằng: Hỡi các ngươi là người Pha-ri-si, các ngươi rửa sạch bề ngoài chén và mâm, song bề trong đầy sự trộm cướp và điều dữ. Hỡi kẻ dại dột! Đấng đã làm nên bề ngoài, há không làm nên bề trong nữa sao? Thà các ngươi lấy của mình có mà bố thí, thì mọi điều sẽ sạch cho các ngươi. Song khốn cho các ngươi, người Pha-ri-si, vì các ngươi nộp một phần mười về bạc hà, hồi hương, cùng mọi thứ rau, còn sự công bình và sự kính mến Đức Chúa Trời, thì các ngươi bỏ qua! Ấy là các việc phải làm, mà cũng không nên bỏ qua các việc khác. Khốn cho các ngươi, người Pha-ri-si, vì các ngươi ưa ngôi cao nhất trong nhà hội, và thích người ta chào mình giữa chợ! Khốn cho các ngươi, vì các ngươi giống như mả loạn, người ta bước lên trên mà không biết! Một thầy dạy luật bèn cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, thầy nói vậy cũng làm sỉ nhục chúng tôi. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Khốn cho các ngươi nữa, là thầy dạy luật, vì các ngươi chất cho người ta gánh nặng khó mang, mà tự mình thì không động ngón tay đến! Khốn cho các ngươi, vì các ngươi xây mồ mả các đấng tiên tri mà tổ phụ mình đã giết! Như vậy, các ngươi làm chứng và ưng thuận việc tổ phụ mình đã làm; vì họ đã giết các đấng tiên tri, còn các ngươi lại xây mồ cho. Vậy nên, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ sai đấng tiên tri và sứ đồ đến cùng chúng nó; chúng nó sẽ giết kẻ nầy, bắt bớ kẻ kia, hầu cho huyết mọi đấng tiên tri đổ ra từ khi sáng thế, cứ dòng dõi nầy mà đòi, là từ huyết A-bên cho đến huyết Xa-cha-ri đã bị giết giữa khoảng bàn thờ và đền thờ; phải, ta nói cùng các ngươi, sẽ cứ dòng dõi nầy mà đòi huyết ấy. Khốn cho các ngươi, là thầy dạy luật, vì các ngươi đã đoạt lấy chìa khóa của sự biết, chính mình không vào, mà người khác muốn vào, lại ngăn cấm không cho!”.
            Chúng ta xét mình rất giỏi trong các vấn đề nầy. Có phải chúng ta nhắm vào những việc nhỏ rồi bỏ qua sự công bình? Có phải chúng ta đắm mình trong việc tự khen tặng rồi gây trở ngại cho những ai đang tìm kiếm Đức Chúa Trời? Có phải chúng ta nhìn thấy rõ ràng cái tôi của mình?
            Kẻ thù của Chúa Jêsus, đang xây dựng sự chống đối của họ, sau cùng tuyên bố Ngài không những là một kẻ phạm thượng Đức Chúa Trời, mà còn là một tay ma thuật khi cho rằng Ngài hiệp với Bêênxêbun và chính mình Ngài là ma quỉ. Chúa Jêsus đã trả lời cho sự cáo buộc nầy với phần lưu ý rằng Ngài đã đuổi quỉ, đã buông tha tự do cho kẻ tù, và đánh đỗ nhửng đồn lũy tăm tối. Ngài rõ ràng là kẻ nghịch, chớ không phải tôi tớ, thuộc về ma quỉ.
            Sau cùng, kẻ thù của Ngài quyết định làm câm bặt Chúa Jêsus một lần đủ cả rồi bắt đầu mưu giết Ngài với sự sốt sắng nhất. Chúng ta hãy xem một câu trong Giăng 11, trong đó chương trình nầy được thiết lập rất rõ ràng. Nhưng trước tiên hãy lần theo kinh nghiệm của các môn đồ Chúa Jêsus khi họ bước theo Chúa Jêsus.
            Các môn đồ lúc ban đầu của Ngài đã trở thành môn đệ của Giăng Báptít và lúc ban đầu họ là bạn bè của Chúa Jêsus (‘hãy đến xem’ Giăng 1:39). Cuộc điều tra dẫn tới lòng trong thành và sau khi Giăng bị tù, Chúa Jêsus bảo các môn đồ hãy bỏ lưới cá đi mà theo Ngài. Sự lựa chọn của họ vâng theo ở điểm nầy tương tự với sự lựa chọn lập ra trong từng thế hệ bởi những người dâng lòng trung thành của họ cho Chúa Jêsus và được ‘sanh lại’.
            Những người học việc trở thành hạng tôi tớ. Chúa Jêsus sai phái các môn đồ từng đôi một đi ra công bố Nước của Đức Chúa Trời với những kết quả rất ấn tượng. Những sự chữa lành, các lần biến đổi, những lần đuổi quỉ là kinh nghiệm của các vị giáo sĩ còn non nớt nầy.Bảy mươi môn đồ trở về cách vui vẻ, thưa rằng: Lạy Chúa, vì danh Chúa, các quỉ cũng phục chúng tôi (Luca 10:17).
            Giống như kẻ thù của Chúa Jêsus càng lúc càng xác quyết hơn, cũng một thể ấy sự chống đối của họ đối với Ngài, và cũng xác quyết thể ấy với sự vâng phục của các môn đồ Ngài. Những nhà điều tra đã trở thành môn đồ và môn đồ đã trở thành hàng tôi tớ. Sau cùng, tôi tớ trở thành chiến binh, những người được kêu gọi chịu khổ vì cớ Đấng Cứu Thế. 
Luca 9:23-25: “Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu. Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?”
            Chúng ta đã lưu ý rằng cả hai: kẻ thù và các môn đồ của Chúa Jêsus đều kinh nghiệm một sự đào sâu thái độ tin quyết của họ trải qua thời gian. Giờ đây, chúng ta quay sang hai phân đoạn Kinh thánh đưa từng nhóm — kẻ thù và các môn đồ — vào trong nhận định rõ ràng gần cuối cuộc đời của Ngài ngay trước khi bước vào thành Jerusalem lần cuối cùng.
            Thứ nhứt, một cuộc gặp gỡ với những người quyết định giết Chúa Jêsus khi họ phản ứng với phép lạ Laxarơ sống lại từ kẻ chết.
Giăng 11:45-48: “Có nhiều người Giu-đa đã đến cùng Ma-ri và thấy sự Đức Chúa Jêsus làm, bèn tin Ngài. Nhưng một vài người trong bọn đó đi tìm người Pha-ri-si, mách cho họ sự Đức Chúa Jêsus đã làm. Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nhóm tòa công luận, bàn rằng: Người nầy làm phép lạ nhiều lắm, chúng ta tính thế nào? Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng ta nữa”. 
            Hãy chú ý sự chối bỏ không có ở đó. Cái điều rõ ràng đối với kẻ thù của Chúa Jêsus, ấy là Ngài đã làm ra nhiều phép lạ và các phép lạ nầy là dấu hiệu chỉ ra một việc còn lớn lao hơn nhiều. Họ đã công nhận những việc làm phi thường xác minh Chúa Jêsus là Đấng Mêsi, song lại sợ quyền lực của Rome hơn quyền phép của Đức Chúa Trời.
Giăng 11:49-50: “Nhưng một người trong bọn họ, tên là Cai-phe, làm thầy cả thượng phẩm đang niên, nói rằng: Các ngươi chẳng biết gì hết! Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất”.
            Caiphe đã trải qua từ lâu chặng đường ‘những điều chúng ta sẽ làm’ xem thường những kẻ chưa lên kế hoạch sự chết của Chúa Jêsus. Mối quan tâm của ông ta, ấy là xứ sở sẽ bị hư mất là một màn khói. Caiphe chỉ lo đến địa vị của ông ta mà thôi.
Giăng 11:51-53: “Vả, người nói điều đó chẳng phải tự mình, nhưng bởi làm thầy cả thượng phẩm đang niên, người nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết; và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn.  Từ ngày đó, chúng lập mưu giết Ngài”.
Một số lưu ý:
1) Cấp lãnh đạo người Do thái tưởng rằng mọi quyết định của họ sẽ lèo lái mọi biến cố. Thực ra, họ đang ở trong chỗ chẳng có gì là quan trọng hết. Chúa Jêsus đã phó mạng sống Ngài, mạng sống ấy không bị cất đi khỏi Ngài.
2) Toà Công Luận hiện hữu là để cung ứng chức năng lãnh đạo cho Israel, nhưng chẳng có một tham khảo nào cho thấy họ giao thông với Đức Chúa Trời hay các mục đích của Ngài. Lòng trung thành đích thực của họ là hướng tới Rome.
3) Thầy tế lễ thượng phẩm (Caiphe) nói tiên tri rất thực nhưng ông ta đã nói trong sự vô tình. Sự chết của Chúa Jêsus là vì sự cứu rỗi — ra khỏi tội lỗi và sự chết — chớ không phải ra khỏi cơn thịnh nộ của Xêsa.
4) Mọi nổ lực nơi phần của Toà Công Luận hầu xoa dịu Rome bằng cách giết chết kẻ gây rắc tối xuất thân từ thành  Naxarét được thực hiện ngược lại với những gì đã được dự trù. Không đầy 40 năm sau, thành Jerusalem bị vây, đền thờ bị san phẳng, và xứ sở bị tản lạc khi Đức Chúa Trời xét đoán dân sự Ngài vì đã chối bỏ Đấng Mêsi. Lời tiên tri của Chúa Jêsus là siêu việt hơn lời tiên tri của Caiphe.
Luca 19:44: “Họ sẽ hủy hết thảy, mầy và con cái ở giữa mầy nữa. Không để cho mầy hòn đá nầy trên hòn đá kia, vì mầy không biết lúc mình đã được thăm viếng”.
            Sau khi xem xét một phân đoạn thuật lại mọi mưu định của kẻ thù Chúa Jêsus, chúng ta cũng hãy nhìn cho kỹ Chúa Jêsus trong cuộc trao đổi với bạn bè của Ngài.
Mác 10:35-37, 41-45: “Bấy giờ, Gia-cơ và Giăng, hai con trai Xê-bê-đê, đến gần Ngài mà thưa rằng: Lạy thầy, chúng tôi muốn thầy làm thành điều chúng tôi sẽ xin. Ngài hỏi rằng: Các ngươi muốn ta làm chi cho? Thưa rằng: Khi thầy được vinh hiển, xin cho chúng tôi một đứa ngồi bên hữu, một đứa bên tả . . . Mười sứ đồ kia nghe sự xin đó, thì giận Gia-cơ và Giăng. Nhưng Đức Chúa Jêsus gọi họ mà phán rằng: Các ngươi biết những người được tôn làm đầu cai trị các dân ngoại, thì bắt dân phải phục mình, còn các quan lớn thì lấy quyền thế trị dân. Song trong các ngươi không như vậy; trái lại hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ; còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi mọi người. Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người”.
            Con Người đến để chịu chết để chúng ta được sống. Thuộc về Ngài là tấm gương tối hậu nói tới tình yêu hy sinh — phục vụ tha nhân, tự chối bỏ mình. Nhưng Chúa cũng trông mong các môn đồ Ngài, ở một cấp độ khác, vác lấy thật tự giá mà theo Ngài; chọn lấy tình yêu hy sinh. Trong nhiều cách thức, sự dạy của Chúa Jêsus ở đây là một sự giải thích ý nghĩa vác lấy thập tự giá. 
            Có lẽ rất đáng ngạc nhiên, Chúa Jêsus xem tình yêu hy sinh là một con đường cao trọng. Tin cậy Đức Chúa Trời dấy lên những người biết tôn trọng Ngài, chúng ta không cần phải tự cỗ vũ mình hoặc giữ theo những gì chúng ta thấy là xứng đáng. Giữa vòng những người không tin Chúa, sự cao trọng được đánh giá bởi việc ‘làm chúa tể’ trên bao người khác, bằng cách đếm những người bị buộc phải vâng theo. Trong Đấng Christ quyền bính tuôn ra từ một tấm lòng phục vụ và sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Các chức phận cao cả của họ đang thực thi quyền bính trên họ. Đối với bạn thì chẳng phải là như vậy.
            Sự trao đổi nầy đã khởi sự khi hai môn đồ nổ lực nắm lấy chiếc ghế cao nhất và kích động sự ganh tỵ giữa mười người kia, họ ước ao họ đã nghĩ đến việc yêu cầu trước tiên. Nhưng Chúa Jêsus nói rõ rằng địa vị môn đồ không phải là một sự đua tranh.
            Cấp lãnh đạo tôi tớ gây dựng nhau thêm và một lãnh đạo thành công phải được xem là một nguồn phước cho mọi người. Sau cùng, chúng ta cần phải nói rõ rằng Chúa Jêsus dự trù sự dạy dỗ của Ngài làm thay đổi đường lối chúng ta hành động. Đây không phải là một mặc khải thơ mộng chỉ có giá trị lý thuyết thôi đâu. Chúa trông mong các môn đồ Ngài nhận ra những tư tưởng và cư xử ích kỷ và để đóng đinh chúng lên thập tự giá. Chúng ta phải nhận ra khuynh hướng tranh đua trong ganh tỵ và rồi hãy xây khỏi khuynh hướng ấy.
            Thật là ấn tượng khi nhìn thấy có bao nhiêu quan sát viên (tin Chúa hay không tin Chúa như nhau) đã chú ý đến sự hạ mình đánh dấu Tân Giáo Hoàng Francis. Cách thức ông đã sống khi ông là một Hồng Y trong xứ Argentina (sống trong một căn hộ nhỏ, đi làm bằng xe bus) và thái độ trước kia ông không quan tâm về địa vị Giáo Hoàng là cực kỳ hấp dẫn đâu. Sự làm chứng chơn thật xảy ra khi lối sống riêng của Chúa Jêsus được tái tạo trong các tôi tớ Ngài.
            Kẻ thù của Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài đã đi theo Ngài gần gũi và đã đào sâu thái độ tin quyết của họ như họ đã làm. Các quan sát viên vô ý tứ đã bị cuốn đi mất. Khuôn mẫu còn lại rất hiển nhiên hôm nay. Đối với những ai trong chúng ta gọi Ngài là Chúa, địa vị môn đồ đòi hỏi một thập tự giá — nâng cao tha nhân lên trên bản thân mình và tin cậy Đức Chúa Trời tôn trọng những ai kính mến Ngài.


Ngài Dạy Cách Có Quyền




ĐẤNG CỨU THẾ XUẤT HIỆN
NGÀI DẠY CÁCH CÓ QUYỀN
            Có nhiều câu Kinh thánh mô tả kinh nghiệm của những người chơi golf, kể cả những tiếng thở than nữa. Hãy xem: “họ vẫn học luôn mà không hề thông biết lẽ thật được —câu nầy chắc chắn áp dụng cho môn golf.
            Câu nói nầy chỉ ra rằng cuộc sống còn phức tạp hơn môn golf. Sự chú ý của chúng ta chao đảo từ ý tưởng nầy sang ý tưởng kia, từ việc mới mẻ nầy đến việc mới mẻ đến sau đó — vẫn học luôn, không hề được dạy dỗ. Ai có thể hướng dẫn chúng ta về điều chi là quan trọng trong cuộc sống chứ?
            Lời lẽ của Chúa Jêsus đã cung ứng giá trị cho nền văn minh Tây phương, nắn đúc các giá trị thậm chí của những kẻ chối bỏ Tin Lành, và cách mạng hoá đời sống của những ai biết đặt đức tin của họ nơi Ngài. Phần việc của chúng ta trong sứ điệp nầy là xem xét sự dạy quan trọng và rất kiên nhẫn của Chúa Jêsus.
            Trong các bài nghiên cứu trước đây, chúng ta đã nhìn vào sự giáng sinh của Đấng Christ và phần mở đầu chức  vụ công khai của Ngài. Trong sứ điệp nầy, chúng ta sẽ cung ứng sự chú ý đặc biệt không nhằm vào các hành động của Ngài mà vào những lời lẽ đã được thốt ra, sự dạy dỗ, của Chúa. Một lần nữa, như thường lệ là trường hợp trong loạt bài nầy, chúng ta chỉ có thể nhìn vào một phần nhỏ tư liệu dồi dào đang sẵn có cho chúng ta.
            Có hai câu nói của Chúa Jêsus sẽ hướng dẫn chúng ta. Thứ nhứt: “Ngài dạy dỗ họ nhiều điều bằng các thí dụ”. Thứ hai là khuôn mẫu bởi đó Ngài chỉnh đốn sự sai lầm: “Các ngươi có nghe điều đó . . . nhưng Ta phán cùng các ngươi”.
            Các thí dụ chỉ là những mẫu chuyện với các ngụ ý quan trọng. Chúng vạch ra kinh nghiệm thông thường của khán thính giả — làm ruộng, đi chợ, làm cha làm mẹ, v.v… Nói ngắn gọn, chúng ta sẽ xem xét một trong những thí dụ hay nhất của Chúa Jêsus, ấy là Người Samari Nhơn Lành. 
            Phạm trù dạy dỗ thứ hai liên quan đến sự thách thức của Chúa Jêsus về sự khôn ngoan thông thường có quan hệ với hạnh phúc của con người và những mục đích của Đức Chúa Trời. Trong trường hợp trực tiếp hoặc ám chỉ, Chúa Jêsus soi sáng khán thính giả của Ngài qua sự nghe của họ, làm sáng tỏ nó, và rồi bày ra lẽ thật. Khuôn mẫu nầy là bằng chứng đặc biệt trong Bài Giảng Trên Núi. Chúng ta cũng sẽ xem xét một số thẩm quyền của Chúa Jêsus qua sự dạy dỗ bài giảng mà ai cũng biết rõ nầy.
            Trở lại với các thí dụ, chúng ta hãy xem xét lý do của Chúa Jêsus khi dạy dỗ với tư thế nầy:
Mác 4:1-12: “Đức Chúa Jêsus lại khởi sự giảng dạy nơi bờ biển; có một đoàn dân đông lắm nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài bước lên trong một chiếc thuyền và ngồi đó, còn cả đoàn dân thì ở trên đất nơi mé biển. Ngài lấy thí dụ dạy dỗ họ nhiều điều, và trong khi dạy, Ngài phán rằng: Hãy nghe. Có người gieo giống đi ra đặng gieo…Ngài lại phán rằng: Ai có tai mà nghe, hãy nghe. Khi Đức Chúa Jêsus ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời thí dụ. Ngài phán rằng: Sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự, hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.
            Các thí dụ chỉ ra những thực tại không thấy được bằng mắt thường. Những hành động được mô tả trong một câu chuyện có tính cách thí du — thí dụ, một người gieo giống — thực sự đáng nói tới việc gì đó quan trọng hơn. Thí dụ đòi hỏi sự chú ý và thậm chí đòi hỏi sự giúp đỡđđể mở mắt người ta ra. Mọi sự trong cuộc sống, phần lớn những việc có giá trị ai cũng biết là không sẵn có ở bề mặt. Các môn đồ, họ tìm tòi nơi Chúa Jêsus để đạt được sự hiểu biết, là những người được lợi ích từ những gì họ đã nghe.
            Các thí dụ cũng che giấu những lẽ thật cao thượng đối với những kẻ bất chấp hay xem thường chúng. Không phải ai có lỗ tai cũng đều nghe cả đâu. Chúa Jêsus trưng dẫn một phân đoạn từ sách Êsai,  là một phần lời tố cáo về tình trạng thờ lạy hình tượng. Những bức tượng bằng đá không thể nghe bất cứ điều gì và những ai thờ lạy hình tượng đều giống như các đối tượng mà họ đang thờ lạy — không có khả năng lắng nghe. Các thí dụ giữ lại lẽ thật có giá trị (“nghe luôn mà không hề thông biết”) đối với những kẻ đã chọn xây khỏi Đức Chúa Trời mà hướng về những thần tượng do tay người ta làm ra.
            Sau cùng, vì thí dụ là một mẫu chuyện, nó rãi ảnh hưởng của nó rộng ra theo thời gian. Một nan đề trong bài toán hay một thắc mắc về luật pháp dẫn tới một câu trả lời, một kết luận, với chẳng một điều gì được mong đợi. Một câu chuyện còn nán lại và truyền cảm hứng, được ghi nhớ và được kể ra với chiều hướng mới khi phạm trù cuộc sống của một người thay đổi. Theo thời gian, một câu chuyện thuyết phục chúng ta về những việc mà chúng ta chưa hề gặp trước đây.
            Tôi vật vã với bịnh hen suyễn khi tôi còn nhỏ. Một mùa hè kia, khi tôi được 9 hay 10 tuổi, thời kỳ nầy quả là rất khó khăn. Tôi phải ở trong nhà nhiều ngày và có nhiều thời gian để đọc sách. Một quyển sách lôi cuốn tôi khi ấy và tôi hãy còn nhớ. Kontiki là câu chuyện nói tới một chuyến hải hành bởi sáu người dong buồm trên một chiếc bè trải đi từ Nam Mỹ đến Polynesia. Thor Heyerdahl đang thử nghiệm một lý thuyết về việc mở rộng dân số và đã quyết định sử dụng kỷ thuật thời xưa (gỗ balsa làm bè, dây thừng, v.v…) kết thành một cái bè, có tên là ‘Kontiki’, đã thực hiện thành công chuyến hải hành dài 4000 dặm.
            Nhiều hiểm nguy và bất ổn — cá mập, giông bão — vây quanh. Chỉ trích, phê phán thì nhiều vô số. Song nhóm sáu người bạn nầy cứ tiến về phía trước và đã thành công.
            Một số bài học đã chìm theo thời gian khi câu chuyện nầy hãy còn bám víu trong lý trí: 1) Những vị được gọi là chuyên gia không biết hết mọi sự. Đôi khi, cái gì tốt thì bị chế nhạo. 2) Các thủy thủ cần có và tin tưởng nhau. Tham dự vào chuyến phiêu lưu dẫn tới tình bạn sâu sắc.
            Tôi không biết gì về Kinh thánh hay các mục đích của Đức Chúa Trời mãi cho đến nhiều năm về sau. Nhưng các bài học và nhận thức mà quyển sách của Heyerdahl đã giúp tôi nắm bắt truyện tích Tin Lành và giúp sửa soạn tin theo Tin Lành ấy.
            Trước khi ông là một Cơ đốc nhân, C.S. Lewis là một nhà vô thần, ông yêu mến các huyền thoại đời xưa. Ông có được đức tin rằng mọi thứ kỳ diệu kia đã kéo ông đến với những mẫu chuyện xa xưa nói tới ao ước của con người tìm thấy có trong Đấng Christ — với sự diệu kỳ, không những chúng quá hay mà chúng còn là sự thực nữa. Những mẫu chuyện có tính cách thí dụ của Chúa Jêsus hoàn tất một việc tương tự — nắn đúc suy tưởng của chúng ta thành một con đường cho niềm tin và kỷ luật.
            Với những điều nầy trong trí, chúng ta hãy chú ý đến một trong các thí dụ hay nhất của Chúa Jêsus — người Samari Nhơn Lành.
Luca 10:25-37: Bấy giờ, một thầy dạy luật đứng dậy hỏi đặng thử Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời? Ngài phán rằng: Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc gì trong đó? Thưa rằng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đáp phải lắm; hãy làm điều đó, thì được sống. Song thầy ấy muốn xưng mình là công bình, nên thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Ai là người lân cận tôi? Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết”.
            Quan sát: 1) Người bị cướp giựt, bị lột sạch hết; ông ta bị đánh bất tỉnh, vì lẽ đó chẳng có ai nhận ra ông ta nữa. Chúng ta không biết ông ta giàu hay nghèo, người Do thái hay dân Ngoại, theo bề ngoài của ông ta lúc bấy giờ. Thật là khó thực thi ‘bổn phận của một người’ nếu không biết áp dụng luật lệ nào. 2) Những du khách đi ngang qua chẳng có cách nào nhìn biết nguy hiểm có còn đâu đó hay không!?! Bối cảnh đã được trình bày với đầy ẩn số.
            “Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi. Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. Đến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả. Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp? Thầy dạy luật thưa rằng: Ấy là người đã lấy lòng thương xót đãi người. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy”.
            Một câu chuyện thực sự bất ngờ. Những người Samari bị xem khinh bởi ‘người Do thái công bình’, và bị tránh né như nguồn ô nhiễm về mặt đạo đức. Thật là hay khi Chúa Jêsus dùng một người Samari làm thí dụ điển hình trong câu chuyện nầy, và tính cách chăm sóc dịu dàng của Samari quả là đáng kinh ngạc. Thầy tế lễ và người Lêvi cũng không phải là hạng công dân bình thường — được xem là cấp lãnh đạo giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời, vì vậy chúng ta thấy họ thất bại không hành động để rồi phải chịu rắc rối. Giả sử các giới chức tôn giáo trong thành Giêricô giữ họ không nhìn thấy điều chi là vấn đề đối với Đức Chúa Trời.
            Nổ lực hạn chế tình yêu thương của chuyên gia luật pháp dẫn tới một câu chuyện đầy dẫy với nhiều căng thẳng: đau khổ và liều lĩnh, bổn phận tôn giáo so với nhu cần phải thương xót, một người Samari là tôi tớ của Đức Chúa Trời. Ai là người lân cận chứ? Trong câu 37, chúng ta đọc: ‘Người động lòng thương xót’ (thật là khó khăn cho vị chuyên gia luật pháp thốt ra lớn tiếng: ‘người Samari’). Và Chúa Jêsus kêu gọi hết thảy những ai nghe câu chuyện nầy hãy đi và làm theo như vậy.
            Chúng ta phải chú ý, mọi vấn đề nơi trọng tâm thí dụ nầy nổi bật lên giữa vòng những lý do mà hạng người vô tín đưa ra hay chối bỏ Tin Lành ngày hôm nay. Cơ đốc nhân bị gán cho sự giả hình — vì xem khinh ‘người Samari’ hiện đại  và vì thái độ không bằng lòng liều lĩnh vì cớ sự thương xót. Chúng ta xét mình rất giỏi theo ánh sáng nầy — có phải chúng ta ưa thích người Samari Nhơn Lành hay ưa thích thầy tế lễ và người Lêvi? Tấm lòng thương xót có được hình thành trong chúng ta không?
            Cho phép tôi cung ứng cho bạn một nhận định khác trước khi chúng ta bước vào một số câu Kinh thánh trích từ Bài Giảng Trên Núi. Phần giải thích của tôi về câu chuyện nầy rất là phổ thông. Suy tưởng đầu tiên mà hầu hết mọi người đều có, ấy là họ đang ở trong vai trò: một là người Samari hay thầy tế lễ hoặc thầy thông giáo, và họ là người đến gần kẻ bị đánh đập kia sau đó và sẽ chọn: một là người lân cận hay không phải là người lân cận. Đấy là câu hỏi khó mà chúng ta phải tự hỏi mình. Đấy là bản chất của sự giải thích nầy, nhưng có một cách nói rất xưa và tinh tế về câu chuyện nầy thay đổi các diễn viên và tôi nghĩ Chúa Jêsus có lẽ đã dự tính rằng câu chuyện nầy có thể bị thắc mắc và được đọc ở một cấp độ khác.
            Và cấp độ khác là đây: Chúng ta là nạn nhân, chớ không phải thầy tế lễ hay khách qua đường. Chúng ta là người đang hấp hối bên lề đường. Vai trò chúng ta đóng trong câu chuyện nầy là đang ở trên bờ vực mất mát hết mọi sự. Mọi sự đã bị tước hết khỏi chúng ta; chính cuộc sống của chúng ta gần như bị mất hết. Người Samari là Đấng Christ, Ngài là Đấng đến và cứu kẻ bị hấp hối kia. Ngài là một người ngoài cuộc, Ngài bị mọi người khác xem khinh. Không một ai muốn làm gì với Ngài Ngài đến để cứu hạng người không thể tự cứu mình và thể chế tôn giáo hoàn toàn khác hơn Đấng hiện hữu ở trong lòng. Và đây là một câu chuyện nói tới Đấng Cứu Thế, Ngài đã đến để tìm và cứu những ai thống hối và có cần.
            Đây là một câu chuyện đơn giản và tôi khởi sự tự hỏi mình nhiều câu hỏi về cách tôi nhận định bản thân và cách tôi nhìn xem ơn thương xót của Chúa. Tôi xem xét tình trạng nhu cần của tôi như thế nào và Ngài đã ban cho bao nhiêu? Khi làm như vậy, Ngài khác biệt như thế nào? Câu chuyện nầy đối diện với chúng ta còn chi khác nữa không, và nó làm thay đổi cái nhìn của chúng ta ra sao?
            Ngài dạy dỗ họ nhiều điều bằng các thí dụ. Nguyện chúng ta có lỗ tai để mà nghe.
            Chúng ta giờ đây đi từ khuôn khổ của Chúa thách thức sự khôn ngoan thông thường. Bài Giảng Trên Núi là một sự đối ngược với thứ tôn giáo không đúng. Nó thách thức thứ tôn giáo giả kia đừng mở rộng tình trạng thờ lạy hình tượng, sự giả hình, đừng bất tuân cứng cổ nữa. Nó vạch trần những điều dối giả thuộc đời nầy được xem là sự khôn ngoan.
Mathiơ 5:1-3:Đức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng: Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
            Thách thức của Chúa Jêsus trước lối suy nghĩ quen thuộc khởi sự ngay ở phần mở đầu. Tình trạng được phước — ứng nghiệm thực, cuộc sống sung mãn — không đến từ sự tích lũy mà đến từ chỗ trống không. Ý kiến của nhiều người khác, đánh giá các thành tựu, một sự đánh bóng bản thân và sự chất chứa các thứ vật chất chẳng kiếm được tầm quan trọng cho chúng ta. Tình trạng được phước được xây dựng trên việc công nhận với cấp độ sâu sắc nhất chúng ta là bất toàn và chúng ta không thể làm gì để thay đổi chính mình.
            Và Chúa Jêsus tiếp tục rao giảng, tiếp tục tìm kiếm giá trị đời đời ở chỗ thế gian lo sợ và tránh né: khóc lóc, nhu mì, làm sự hoà bình, bắt bớ. Các tư vấn của chúng ta đã nói dối chúng ta. Những gì chúng ta đã được truyền dạy phải bị chối bỏ để có được sự khôn ngoan sâu sắc hơn. Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn thí dụ nói tới những sự đầu tư.
Mathiơ 6:19-21: Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy; nhưng phải chứa của cải ở trên trời, là nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy. Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó”.
            Mọi hành động của chúng ta trong hiện tại tác động tương lai của chúng ta, điều nầy không thể tránh được. Nhưng có phải chúng ta suy nghĩ sâu xa đủ chưa? Có phải chúng ta tìm cách cung ứng cho một tương lai gần, thuộc về đời nầy (tương lai đó vốn bất ổn) hay có phải chúng ta công nhận rằng chúng ta được dựng nên là cho cõi đời đời?
            Trộm cướp, sâu mối, ten rét đánh dấu sự sụp đổ, thảm hoạ thiên nhiên, hạng người cuồng dại với các thứ vũ khí nguy hiểm, và nhiều yếu tố khác khiến cho hàng hoá của thế giới nầy thành một nguồn không an  toàn về mặt an ninh. Và chúng ta có một sự lựa chọn tốt hơn. Chúng ta có thể chất chứa của cải ở trên trời. Nhưng nói như thế thì có nghĩa gì chứ? Thứ nhứt, chúng ta có thể đánh giá các mối quan hệ, đối xử với tha nhân quan trọng hơn là bản thân mình. Chúng ta có thể hiệp với các anh chị em trong cuộc phiêu lưu của vương quốc và các hành động phục vụ. Những sự lựa chọn nầy dẫn tới tình bạn sâu đậm sẽ được thưởng thức cho đến đời đời.
            Thứ hai, bản chất của chúng ta, được nắn đúc bởi các quyết định trong lúc bây giờ, sẽ còn mãi cho đến đời đời. Khi chúng ta phục theo Đức Thánh Linh và chọn sống biết thương xót, hay rời rộng hoặc can đảm và rồi làm theo như thế lần thứ hai và thứ ba, chúng ta thấy mình được thay đổi tận cốt lõi. Chúng ta trở thành một người mới — tôi đã bị mù giờ tôi thấy và chúng ta đem theo bổn tánh mới của mình vào trong cõi đời đời.
            Hãy xem xét Jean Valjean trong phim Les Miserables [Những Người Khốn Khổ]. Các đáp ứng của ông đối với tình yêu và sự chịu khổ tạo ra một tấm lòng thật đáng nể. Kẻ nghịch ông là Javert, cũng được nắn đúc bởi những sự lựa chọn của ông ta — đã trở thành một người cứng cỏi không thể xuyên thủng được. Chúng ta có thể chất chứa của cải ở trên trời khi chúng ta xem trọng về tính kỷ luật, để cho Chúa Jêsus khiến cho chúng ta ra giống như Ngài thêm. 
            Sau cùng, có lẽ rõ ràng nhất, thờ lạy là đời đời. Sự ngợi khen dâng lên Đức Chúa Trời vang dội mãi cho đến đời đời. Tôn thờ không bao giờ phai nhạt. Khi chúng ta ăn nuốt Kinh thánh, chúng ta nhận được sự khôn ngoan đời đời. Chọn lấy sự thờ phượng là vinh hiển trong giây lát và là một hành động chất chứa của cải ở trên trời.
            Bài Giảng Trên Núi kết thúc theo cách nầy:
Mathiơ 7:24-29: “Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên hòn đá. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy; song không sập, vì đã cất trên đá. Kẻ nào nghe lời ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà mình trên đất cát. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy, thì bị sập, hư hại rất nhiều. Vả, khi Đức Chúa Jêsus vừa phán những lời ấy xong, đoàn dân lấy đạo Ngài làm lạ; vì Ngài dạy như là có quyền, chớ không giống các thầy thông giáo”.
            Giông bão là không thể tránh được. Cuộc sống sẽ thử nghiệm mọi người, người nào xây dựng trên vầng đá và trên cát. Nhưng các thử nghiệm của cuộc sống có những hậu quả khác biệt cho từng người khác nhau nương trên nền tảng của họ. Có hai đòi hỏi: lắng nghe và làm theo — một nền tảng vững chắc đòi hỏi cả hai.
            Chúng ta đã dành sự chú ý vào Chúa Jêsus là một vị giáo sư — là người nói ra các thí dụ và là người vạch trần sự dại dột của người thế gian. Tuy nhiên, chỉ có thông tin thôi thì chưa đủ. Có phải chúng ta chấp nhận sự thách thức phải ‘đưa vào thực tiễn’ sự Chúa Jêsus kêu gọi phải sống bởi đức tin, tin cậy nơi quyền phép của Đức Chúa Trời, và sẵn sàng để đón những cơn bão và nạn lụt?