Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Mathiơ 27:51: "Bức Màn Bị Xé"


Bức Màn Bị Xé
Mathiơ 27:51
“Và nầy, cái màn trong đền thờ, bị xé ra làm hai từ trên chí dưới” (Mathiơ 27:51).
Đôi khi bài giảng hay nhất chẳng có một lời nào hết.
Cách đây nhiều năm, tôi có mấy quyển sách nhỏ trong thư viện đầy dẫy với “loại bài học về món đồ” cho thiếu nhi. Những bài học ấy sử dụng các món đồ dùng trong gia đình như nút áo, các loại quả bóng và những cái muỗng để dạy dỗ lẽ thật cơ bản trong Kinh thánh. Nhiều nhà thờ ngày nay có một mảng thờ phượng gọi là “hội thánh thiếu nhi”, trong đó một người lớn sẽ gọi các em bước ra phía trước rồi trao cho chúng bài học về món đồ dựa theo bài giảng mà vị Mục sư sắp sửa rao giảng.
Hội thánh chúng ta nhóm lại đang làm công việc ấy. Luôn luôn là rất vui khi quan sát hội chúng vì người lớn dường như ưa thích phần thờ phượng ấy cũng nhiều như các em thiếu nhi vậy.
Tìm hiểu lý do tại sao thì chẳng có gì là khó cả.
Hết thảy chúng ta đều ưa thích một câu chuyện hay một minh họa ứng dụng. Loại bài học về món đồ được chọn lọc kỹ lưỡng là một phương thức rất hay để dạy dỗ lẽ thật thuộc linh. Vào thời điểm Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một trong những bài học về món đồ hay nhất trong Kinh thánh khi bức màn trong đền thờ bị xé ra từ trên chí dưới.
Không một người nào dám mơ một việc như thế có thể xảy ra. Không một người Do thái tỉ mỉ nào có thể bỏ qua cái chạm của sự cố không lường trước được đó.
Mathiơ nhắc tới sự kiện nầy.
Mác nhắc tới sự kiện nầy.
Luca nhắc tới sự kiện nầy.
Sự kiện ấy có nghĩa gì thế? Chúng ta hãy xem xét ba câu trả lời cho câu hỏi ấy. (Khi James Stewart rao giảng về đề tài nầy, ông đưa ra một bố cục rất đơn sơ, là bố cục mà tôi sử dụng trong sứ điệp nầy).
Hàng rào ngăn trở bị dời đi
Mọi sự về đền thờ của người Do thái nhắc cho người ta nhớ phải đứng xa ra. Có những hành lang được biệt riêng cho nữ giới và các dân Ngoại. Có bàn thờ bằng đồng, của lễ phải được dâng trên đó. Có những bậc thang dẫn lên chính đền thờ. Bên trong đền thờ là hai gian phòng chính, Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Chỉ có thầy tế lễ mới có thể bước vào Nơi Thánh và chỉ có một cách nhất định vào thời điểm nhất định để thực hiện những chức năng tôn giáo ở đấy. Không một ai dám “quanh quẫn” trong Nơi Thánh. Bạn đến để lo thực hiện công việc của Đức Chúa Trời, và rồi bạn ra khỏi đó. Đây không phải là chỗ để chơi đùa đâu. Công tác quan trọng được thực hiện ở đó, được thực hiện bởi hạng người được Đức Chúa Trời biệt riêng ra.
Thế nhưng đã có một chỗ còn thánh hơn Nơi Thánh được gọi là Nơi Chí Thánh. Trọng tâm chính sự thờ lạy của người Do thái đã diễn ra tại khu vực nhỏ nhoi đó. Nếu bạn đọc Lêvi ký 16, bạn có thể tìm gặp các chi tiết đã được đề ra. Nhưng chúng ta có thể tóm tắt chúng như sau:
Chỉ có một người mới có thể bước vào Nơi Chí Thánh – ấy là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm.
Ông có thể bước vào Nơi Chí Thánh mỗi năm một ngày – nhằm ngày Chuộc Tội.
Ông phải mặc loại y phục thật đặc biệt.
Ông phải mang theo huyết của con dê đực.
Ông phải rãi huyết trên Ngôi Thương Xót là nắp Hòm Giao Ước, trong đó có chứa một bản sao 10 Điều Răn.
Nếu có ai khác ngoài Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm dám bước vào Nơi Chí Thánh, người ấy sẽ bị đánh hạ ngay. Nếu Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm dám bước vào đấy vào một ngày khác hơn Ngày Chuộc Tội, ông ta sẽ bị đánh hạ. Nếu Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đến mà không có huyết của dê đực, ông ta sẽ bị đánh hạ.
Mọi sự về toàn bộ hệ thống như gào lên: “Hãy đứng xa ra”, “Đừng đến gần”, “Ngươi không đủ tư cách để bước vào đây”. Sự thể cho thấy đền thờ giống như một rào cản khỗng lồ, bảo đảm rằng chẳng có một người nào có thể bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà không được mời.
Nếu người Do thái bị cám dỗ đến nỗi quên đi mọi điều cấm đoán, nếu họ quyết định nắm lấy vấn đề trong tay họ, Đức Chúa Trời đã truyền rằng một bức màn dày phải được treo giữa Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh.
Khi chúng ta suy nghĩ về bức màn, chúng ta tưởng tượng một thứ giống như loại màn cửa phòng khách của chúng ta. Bức màn trong đền thờ không giống như thế đâu. Xuất Êdíptô ký 26:31 mô tả nó là “bức màn bằng vải gai đậu mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thể những hình chêrubin cực xảo”. Các trước giả Do thái nói rằng bức màn ấy dài 60 feet, rộng 20 feet, dệt rất dày bằng thủ công, đòi hỏi tới 300 người mới nhấc nó lên nổi.
Một bức màn như thế không thể bị xé rách làm hai bởi tay của con người được. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể xé rách một bức màn như thế ra làm hai. Đấy là lý do tại sao Mathiơ nói cho chúng ta biết bức màn đã bị xé ra “từ trên chí dưới”, ý nói rằng Đức Chúa Trời đã làm những gì chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm được.
Một con đường mở ra
Hêbơrơ 10:19-20 chép rằng: “Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài”.
“Chúng ta nhờ” nói tới các đặc ân. Tôi nhìn vào chữ “đặc ân” trong quyển tự điển và ở đó ghi rằng “một lợi thế do một người hay một nhóm người nắm giữ”, và “một cơ hội để làm một việc thật đặc biệt hay đáng thưởng thức”.
Trở thành Cơ đốc nhân là một đặc ân vì chúng ta có những lợi thế nhất định mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Hêbơrơ 10:19 chép rằng chúng ta có quyền bước vào sự hiện diện trực tiếp của Đức Chúa Trời.
Tôi tự hỏi việc ấy giống như kiếm được một khán thính giả với Nữ Hoàng Anh quốc vậy.

Để bước vào đại sảnh của Điện Buckingham.
Có những vệ binh hoàng gia với bộ đồng phục oai vệ hộ tống.
Được ngồi ở nội thư phòng và được Nữ Hoàng tiếp kiến.
Để nghe Bà nói: “Ta có thể làm gì cho ngươi?”
Để biết Bà có quyền ưng chuẫn lời yêu cầu của tôi.

Việc gặp gỡ Nữ Hoàng quả thật là một đặc ân. Song việc ấy lại không thường diễn ra đâu. Nữ Hoàng là một Nhân Vật Rất Quan Trọng, và thậm chí tôi không phải là thần dân Anh quốc. Tôi sống trong “vùng Thuộc Địa” ở bên kia bờ đại dương. Tôi không có thế đứng cho dù với bất kỳ ý nghĩa nào để kiếm được một khán thính giả với Nữ Hoàng Anh. Đặc ân ấy không thuộc về tôi.
Nhưng trong con mắt của Đức Chúa Trời tôi đang đứng nhờ huyết của Chúa Jêsus để bước vào gian phòng có ngai của Thiên Đàng. Đấy là điều mà Hêbơrơ 10 nói tới khi câu ấy nói rằng Chúa Jêsus đã mở ra một con đường cho chúng ta ngang qua bức màn. Bởi sự chết của Ngài trên thập tự giá, Ngài đã phá đổ bức tường đứng giữa Đức Chúa Trời và chúng ta.
Giờ đây, chúng ta có thể gặp thẳng Đức Chúa Trời bất kỳ thời điểm nào, bao lâu chúng ta còn bước đi trong danh của Chúa Jêsus, chẳng xưng nhận gì trừ ra huyết của Chúa Jêsus là cái cớ duy nhất được chấp nhận.
Sánh với hệ thống cũ nắm giữ chặt con người, thực sự đây là một con đường “mới”. Vì Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết, đây là một con đường “sống”.
Tôi là người bạn thiết của Con Đức Chúa Trời.
Tôi là một thành viên trong chính gia đình của Đức Chúa Trời.
Tôi là công dân của thiên quốc.
Bấy nhiêu đó cung ứng cho tôi chỗ đứng, lợi thế, lối vào, đặc ân.
Và chỗ đứng nầy được ban cho từng con cái của Đức Chúa Trời được mua bằng huyết. Thế đứng ấy không phải chỉ dành cho một mình tôi. Đây là ơn của Đức Chúa Trời ban cho những ai tin cậy nơi Con của Ngài. Chúng ta có đặc ân của một khán thính giả với chính mình Đức Chúa Trời.
Bất cứ thời điểm nào. Bất cứ đâu. Thường trực theo như chúng ta muốn.
Tôi tìm được một danh sách trên mạng Internet nói tới hạng người có ảnh hưởng nhiều nhất trên thế giới. Bảng danh sách ấy liệt kê ra những cái tên như Hillary Clinton, Sting, Chris Christie, Amy Chua, Mark Zuckerberg, Angela Merkel, và nhiều người nữa mà tôi chưa hề nghe nói tới. Tôi chẳng bận tâm dò tìm tên tôi trên danh sách ấy vì nó không có ở đó. Giống như một người đã nói với chúng ta ngày hôm qua: “Không sao đâu. Đừng lo lắng mà chi”. Tôi phải xưng rằng có nhiều người trên bảng danh sách đó có những lợi thế từ nhận định theo đời nầy mà tôi không hề có. Địa vị có những đặc quyền của nó. Khi họ nói, ai nấy đều lắng nghe. Họ có thể đi những nơi mà tôi không thể đi được. Họ tiếp cận với thứ tốt nhất mà thế gian cung hiến cho, những thứ như loại vé các sự kiện quan trọng, chỗ ngồi tốt nhứt trong các nhà hàng sang trọng, và loại phòng ốc trong bất kỳ khách sạn nào trên thế giới. Từng lời nói của họ được đăng tải trên báo chí.
Đấy là cách mà người thế gian có.
Còn tôi thì nói: “Không sao đâu. Đừng lo lắng mà chi”.
Nhờ huyết của Chúa Jêsus tôi được đến gần ngay ngôi của Đức Chúa Trời. Nói như thế có nghĩa là tôi có thể đến bất cứ giờ nào, bất cứ đâu, theo ý tôi thích, vì bất kỳ lý do nào cũng được. Cha thiên thượng của tôi sẽ không xua tôi đi. Có được loại tiếp cận ấy thì thật là tuyệt vời. Khi người con trai cả của chúng tôi được 4 hay 5 tuổi, nó đến với chúng tôi vào buổi nhóm cầu nguyện thâu đêm tại nhà thờ. Ấn định rồi như thế, tôi bắt đầu mỗi giờ đồng hồ với lời chào ngắn gọn với những người đến nhóm lại đặng cầu nguyện. Sau một lời chào, có người bạn đến gặp tôi rồi nói “Ông có thấy những điều Josh đã làm không?” “Không. Nó làm gì vậy?” “Ông không thấy nó sao?” Bạn tôi nói cho tôi biết rằng khi tôi trò chuyện với dân sự, Josh bước tới rồi nói về ai đó với tôi. Tôi dừng lại việc tôi đang làm rồi nói chuyện với nó trong một phút. Khi chúng tôi nói chuyện xong, nó bỏ đi, và tôi xây lại trao đổi với đám đông.
Bây giờ, đây là phần đáng ngạc nhiên.
Thậm chí tôi không nhớ tới việc ấy vì dường như việc ấy tự nhiên đến nỗi Josh sẽ đến rồi nói chuyện với tôi bất cứ lúc nào nó muốn. Và còn hơn thế nữa, Josh vốn biết nó có quyền đó vì sự thực nó là con trai của tôi. Nó biết nó có thể đến với tôi bất kỳ lúc nào.
Cũng một thể ấy với từng con cái của Đức Chúa Trời.
Chúng ta có quyền hạn lớn lao hơn những người mà thế gian kể là Nhân Vật Rất Quan Trọng. Họ có thể nhận lấy mọi thứ ưu tiên trong các chương trình hay nhất của Broadway, nhưng chúng ta có quyền bước thẳng vào gian phòng có ngai của vũ trụ.
Há điều đó chẳng tốt hơn sao?
Sự trông cậy được khẳng định
Không những hàng rào ngăn trở bị đời đi và một con đường được mở ra, việc xé rách bức màn có ý nói rằng sự trông cậy của chúng ta về sự sống đời đời đã được chính mình Đức Chúa Trời khẳng định.
“Chúng ta giữ điều trông cậy nầy như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn, trong nơi thánh mà Đức Chúa Jêsus đã vào như Đấng đi trước của chúng ta, vì đã trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc” (Hêbơrơ 6:19-20).
Mấy câu nầy công bố bằng thứ ngôn ngữ đơn sơ rằng chúng ta có một cái neo cho linh hồn chúng ta, cái neo ấy không thể bị dời đi. Tôi viết mấy lời nầy khi tôi có mặt trên chiếc tàu đi vào vùng biển Caribbe. Vì chiếc tàu của chúng tôi rất lớn, nó có một cái neo cũng rất to để giữ con tàu ở nguyên vị trí khi giông bão ụp đến. Một cái neo trong thời tiết bình thường sẽ chẳng có công dụng gì nhiều. Một cái neo minh chứng giá trị của nó khi biển và gió đe dọa di dời con tàu ra khỏi hải cảng.
Để giữ con tàu ở nguyên vị trí, cái neo phải bám thật chặt dưới đáy biển. Nếu cái neo nằm trên cát, nó sẽ không giữ con tàu ở tại chỗ được. Hêbơrơ 6 chép rằng cái neo của chúng ta rất chắc chắn vì nó được neo ở đàng sau bức màn trong chính sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Chúng ta có cái neo không thể bị dời đi, Chúa Jêsus Ngài là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta đã mở ra con đường bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Vì Ngài không rúng động, chúng ta không thể bị dời đi. Vào năm 1834, Edward Mote đã viết lời lẽ của một bài thơ đã trở thành bài ca Tin Lành rất hay. Câu đầu tiên của bài The Sold Rock viết như thế nầy:
Sự trông cậy của tôi được xây dựng
chẳng trên một điều gì
khác hơn huyết và sự công bình của Chúa Jêsus.
Tôi không dám tin cậy
vào phương kế ngọt ngào nhất
Song hoàn toàn nương cậy vào
danh của Chúa Jêsus.
Câu thứ hai sử dụng lời lẽ mượn từ Hêbơrơ 6:
Khi tối tăm dường che giấu mặt Ngài,
Tôi yên nghỉ trên ân điển không đổi.
Trong từng cơn gió mạnh và bão tố,
Neo của tôi thấu vào phía trong màn.
Và giai điệu công bố ra lẽ thật vinh hiển bằng lời lẽ rất đơn sơ và long trọng:
Tôi đứng trên Christ vầng đá tảng,
Mọi nơi khác dường cát lún thôi.
Mọi nơi khác dường cát lún thôi.
Đây là những tin tức tốt lành cho hết thảy những ai biết mình vốn yếu đuối và thất bại. Nhiều Cơ đốc nhân cảm thấy giống như người kia trong Mác 9:24, ông ta hô lên: “Tôi tin; xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi!” Sâu lắng bên trong, chúng ta tin, chúng ta biết Chúa Jêsus là Chúa chúng ta, và chúng ta yêu mến Ngài, mặc dù tình cảm của chúng ta có thể là không hoàn hảo. Nhưng khi chúng ta nhìn vào tấm gương, tội lỗi của chúng ta dấy lên xét đoán chúng ta, và chúng ta nhớ lại kèm theo xấu hổ những lời hứa cuội, những lời nói khó nghe, các việc làm không tử tế, và thể nào chúng ta làm buồn những người đặt lòng tin cậy nơi chúng ta.
Nếu chúng ta suy gẫm luôn những việc nầy, không bao lâu nữa chúng ta sẽ bắt đầu hồ nghi không biết mình có còn là Cơ đốc nhân không nữa!?!
Và ngay ở đây – ngay ở đây! – lý thuyết đúng đắn có thể giải quyết được vấn đề. Bao lâu đức tin Cơ đốc của chúng ta nương vào chúng ta, chúng ta đang ở trong chỗ rắc rối. Nhưng nếu đức tin chúng ta hoàn toàn nương vào Đức Chúa Jêsus Christ, khi ấy chúng ta có một sự trông cậy rằng ngay cả sự xấu hổ của chúng ta cũng không thể bôi xóa được. Nếu Đấng Christ là cái neo của linh hồn chúng ta, khi ấy chúng ta có thể yên nghỉ vì cái neo của chúng ta có thể chống chọi bất cứ giông bão nào, thậm chí giông bão của một lương tâm phạm tội.
Khi James Stewart rao giảng về đề tài nầy, ông thuật lại một cụ tín hữu người Tô cách Lan, một ngày kia cụ đi nhà thờ cảm thấy xấu hổ vì cớ tội lỗi của mình. Khi đĩa Tiệc Thánh được đưa tới, cụ từ chối không dự, cứ nghĩ mình không xứng đáng. Lúc ấy, cụ nhìn thấy một phụ nữ còn trẻ trong hội chúng cũng từ chối không dự, rồi tan vỡ trong hai hàng nước mắt. Stewart thuật lại những gì xảy ra kế đó:

Hai hàng nước mắt của cô ấy khiến cụ quay trở lại với lẽ thật của Tin Lành mà chính cụ cần phải nhớ lại. Cụ nghe ai đó thầm thì trong nhà thờ: “Hãy cầm đi, cô gái. Hãy cầm đi. Bánh ấy dành cho hạng tội nhân đấy”. Rồi chính cụ đã dự phần.

Đấy là ý nghĩa sâu sắc của việc xé rách bức màn. Luật pháp xét đoán chúng ta đã đi đến mức cuối cùng rồi, đã bị án chết trong sự chết của Đấng Christ. Khi Chúa Jêsus chịu chết, luật pháp cũ đã chết với Ngài.
Vì vậy giờ đây chẳng có sự phán xét nào dành cho những kẻ tin theo Chúa Jêsus.
Cũng vậy, con đường dẫn tới thiên đàng đang rộng mở cho bất cứ ai, bất cứ lúc nào, bất cứ đâu.
Nhờ đó, chúng ta biết rằng chúng ta có sự sống đời đời.
Khi bạn cảm thấy gánh nặng tội lỗi, bạn tự hỏi không biết Chúa Jêsus có tiếp nhận bạn hay không!?! Có lẽ bạn nghĩ tội lỗi của bạn là quá lớn lao, mọi vi phạm của bạn nhiều đến nỗi Chúa Jêsus không thể cứu được bạn. Nhiều người cảm thấy theo cách ấy, và thực sự chúng ta hết thảy sẽ cảm nhận theo cách ấy nếu chúng ta có nhận định chúng ta thực sự hôi thối như thế. Nhưng có một sứ điệp dành cho bạn từ bức màn bị xé rách trong đền thờ.
Đừng sợ.
Đừng để cho tội lỗi bạn trì kéo bạn.
Đức Chúa Trời đã mở ra cánh cửa vào thiên đàng.
J. C. Ryle tóm tắt ý nghĩa thật của bức màn bị xé rách trong câu nói nầy:

“Tội lỗi của chúng ta có thể rất nhiều và lớn lao, nhưng Đấng Thay Thế Vĩ Đại của chúng ta đã trả giá cho mọi gánh nặng đó".

Bạn có tin như thế không? Thế thì hãy tự mình đến xem.
Hãy đến xem.
Nếu bạn nghi ngờ, hãy đến với Chúa Jêsus và nhìn thấy ơn thương xót của Ngài lớn lao là dường nào.
Thập tự giá tỏ ra tấm lòng vĩ đại của Đức Chúa Trời, và tấm lòng ấy đầy dẫy với tình yêu thương. Khi Chúa Jêsus gục chết, Đức Chúa Cha đã rao ra một bài giảng không lời khi Ngài xé rách bức màn từ trên chí dưới. Đây là cách nói của Đức Chúa Trời: “Ngươi được nghinh đón trong gia đình ta. Đừng để cho một thứ gì trì kéo người”.
Có thể chúng ta là hạng tội trọng đấy, nhưng Chúa Jêsus là Cứu Chúa vĩ đại. Đừng sợ, và hãy tin cậy Ngài.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Thi thiên 127-128: "Cách Đức Chúa Trời Nhìn Xem Con Trẻ"


Cách Đức Chúa Trời Nhìn Xem Trẻ Con
– Thi thiên 127-128
“Sự kết thúc chiến tranh và cái chết của một vị Tổng thống đề ra nhiều tiêu đề lớn lao hơn. Song với tư thế thật yên lặng, một sự kiện thứ ba trong tuần qua có thể trở thành ảnh hưởng lâu dài trên sinh hoạt của người Mỹ”.
Vì vậy tờ Newsweek có đăng một bài từ ngày 5 tháng 2 năm 1973 nói về quyết định của Roe v. Wade hợp pháp hóa tình trạng phá thai trong nước Mỹ. Bài viết tiếp tục giải thích lý do tại sao quyết định ấy lại là vấn đề:
"Vì nhiều mục đích thực tiễn, Tòa Thượng Thẫm Hoa Kỳ đã hợp pháp hóa việc phá thai, cho rằng việc kết thúc thai kỳ không mong muốn có hiệu lực giữa người phụ nữ và bác sĩ tư của họ”.
Giờ đây chúng ta có thể thấy rõ rằng tờ Newsweek là chính xác. Quyết định về việc phá thai sẽ làm thay đổi xã hội Mỹ ngay từ cơ sở. Chắc chắn (việc ấy sẽ phải mất mấy năm và thêm một số quyết định của Tòa Thượng Thẩm) việc phá thai sẽ được hợp pháp trong hầu hết mọi tình huống.
William F. Buckley đã viết rất ngắn sau 4 ngày có quyết định của Tòa: “Chính xác thì đây là Quyết Định Dred Scott của thế kỷ thứ 20” (“Tòa quyết định về việc phá thai”, ngày 27 tháng Giêng năm 1973), gợi nhớ lại quyết định của Toà Thượng Thẩm vào năm 1857 cho phép giữ lấy nô lệ, làm chủ những nô lệ vì hạng nô lệ không được Hiến Pháp bảo hộ và có thể không bao giờ trở thành công dân Hoa kỳ. Quyết định gây tranh cãi đó đã giúp đề ra bối cảnh cho cuộc Nội Chiến. Buckley nói đúng. Gần 40 năm sau, Roe v. Wade vẫn còn tranh cãi vì nhiều người Mỹ cứ phân tán mãi về tình trạng phá thai.
Tôi đừng lại để phản ảnh rằng tôi còn ngồi ghế đại học khi Roe v. Wade đã được nhắc tới rồi. Quyết định phá thai đã đến rồi đi, và tôi chẳng biết hay chẳng suy nghĩ gì về việc ấy. Thêm 7 năm khác nữa trước khi vấn đề sẽ trở nên riêng tư đối với tôi. Vào tháng 5 năm 1980 tờ Moody ra hàng tháng đã cho đăng một câu chuyện nói về tình trạng phá thai, trang bìa là Bác sĩ phẩu thuật nổi tiếng C. Everett Koop (về sau trở thành Tướng Surgeon của Hoa kỳ) đang ẳm một đứa trẻ trên tay. Bức tranh ấy và bài viết kèm theo đã khiến tôi phải suy nghĩ sâu sắc về tình trạng phá thai lần đầu tiên. Khi nhìn lại, tôi dám chắc sau cùng vấn đề đã bắt lấy tấm lòng tôi vì khi tôi đọc bài viết thì đứa con đầu tiên của tôi đã được 6 tháng tuổi. Khi tôi viết mấy lời nầy, tấm lòng của tôi lại bị bắt lấy một lần nữa vì cháu nội của tôi (Knox Samuel Pritchard) mới được 5 tháng tuổi. Các vấn đề như phá thai đều rất thực tế ở một cấp độ nào đó, về đạo đức hay ở một cấp độ khác, và hoàn toàn sâu sắc một cách riêng tư. Hết thảy chúng ta đều có nhiều cách thức để tìm cho ra sự thực của vấn đề.
Đây là một việc mà chúng ta biết chắc: Đức Chúa Trời có một tấm lòng dành cho con trẻ, và tấm lòng Ngài đau buồn vì trẻ con bì giết bởi phá thai. Viết chủ yếu về phá thai không phải là dự tính của tôi trong sứ điệp nầy. Tôi đã viết nhiều lần rồi và sẽ viết về vấn đề ấy nữa trong tương lai. Trong sự tranh cãi của cả nước về tình trạng phá thai, tôi không “trung lập” cho dù là thế nào đi nữa. Tôi biết với sự chắc chắn về mặt đạo đức rằng phá thai là sai và là một điều cực kỳ gian ác. Tôi nghĩ tôi sẽ biết chắc việc ấy nếu tôi không phải là một Cơ đốc nhân, nhưng vì tôi là một Cơ đốc nhân, tôi không thể gạt bỏ niềm tin của mình về sự sống ra khỏi mọi tín điều sâu sắc nhất tôi có về Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên sự sống.
Hôm nay tôi viết vì Tính Thiêng Liêng của Ngày Chúa Nhật Sống Động Của Con Người đang ở trên chúng ta. Tính ấy luôn được chú ý vào ngày Chúa nhật gần với ngày 22 tháng Giêng nhất, là ngày Tòa Thượng Thẩm đưa ra điều luật Roe v. Wade. Trong sứ điệp tôi muốn hỏi và đáp một câu chuyên về sự tranh cãi phá thai. Đức Chúa Trời nhìn xem con trẻ như thế nào? Nếu chúng ta biết câu trả lời cho câu hỏi ấy, chúng ta biết cách thức chúng ta nhìn xem con trẻ. Có phải chúng là phước hạnh hay gánh nặng?
Bạn có thể nói nhiều về một xã hội bởi cách thức họ đối đãi với trẻ con. Trong Cựu Ước, trong khi những kẻ theo tà giáo hy sinh con cái của họ cho các tà thần, người Do thái đã dạy dỗ con cái họ mấy lời nầy: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (Phục truyền luật lệ ký 6:4-5). Họ đã xem trọng Đức Chúa Trời khi Ngài phán phải gây ấn tượng trên con cái họ bằng những lẽ thật nầy. Hãy dạy dỗ chúng khi bạn ngồi ở trong nhà và khi bạn đi ở ngoài đường, khi bạn nằm xuống giường và khi bạn thức dậy (các câu 7-9).
Con cái của chúng ta là những ân tứ đến từ Đức Chúa Trời. Chúng ta nên trân trọng chúng và đừng xem chúng là điều tự nhiên mà có. Chúa Jêsus công bố rằng “Hễ ai vì danh ta chịu tiếp một đứa trẻ thể nầy, tức là chịu tiếp ta” (Mathiơ 18:5). Khi ấy Ngài đưa ra lời cảnh báo long trọng nầy: “Song, nếu ai làm cho một đứa trong những đứa nhỏ nầy đã tin ta sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá vào cổ, mà quăng nó xuống đáy biển còn hơn” (Mathiơ 18:6). Vì Chúa Jêsus yêu thương con trẻ, người nào làm hại con trẻ sẽ trả lời với Ngài.
Với phần giới thiệu như thế, chúng ta xây sang Thi thiên 127-128. Hai Thi thiên ngắn gọn nầy được đặt kế nhau vì một lý do. Chúng dạy chúng ta cách thức Đức Chúa Trời cảm nhận về con trẻ và cách thức chúng trở thành một phước hạnh chớ không phải là gánh nặng.
I. Con cái là ân tứ đến từ Đức Chúa Trời.
“Kìa, con cái là cơ nghiệp bởi Đức Giê-hô-va mà ra; Bông trái của tử cung là phần thưởng" (Thi thiên 127:3). Ở đây, chúng ta học biết rằng con cái ra trực tiếp từ tay của Đức Chúa Trời. Chúng là những ân tứ của ân điển được gửi đến đất từ trời. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm về việc dựng nên sự sống trong tử cung.
Sáng thế ký 30:17: “Đức Chúa Trời nhậm lời Lê-a, nàng thọ thai”.
Sáng thế ký 33:5: "Ấy là con cái mà Đức Chúa Trời đã cho kẻ tôi tớ anh”.
Sáng thế ký 48:9: “Ấy là những con trai của con mà Đức Chúa Trời đã cho”.
Phục truyền luật lệ ký 7:13: “Ngài sẽ ban phước cho con cái ngươi”.
Thay vì lo xây dựng các đế chế, bậc làm cha làm mẹ trước tiên phải lo xây dựng một gia đình. Con cái là “cơ nghiệp” ra từ Đức Chúa Trời, một phương thức bảo tồn gia đình thành thế hệ kế tiếp. Hết thảy chúng ta đều muốn được ghi nhớ sau khi chúng ta qua đời. Nếu bạn là một người cha, bạn sẽ được ghi nhớ bởi con cái mà bạn để lại sau lưng. Di sản đó sẽ giữ mãi dài lâu sau khi mọi thành tựu cá nhân của bạn bị lãng quên.
Đôi khi một cặp vợ chồng không thể có con cái vì nhiều lý do khác nhau. Phân đoạn Kinh thánh nầy không có ý nói rằng chẳng có con là một dấu hiệu nói tới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nó chỉ công bố rằng con cái là phước hạnh ra từ nới Chúa. Khi giữ lấy lẽ thật nầy, thật là quan trọng khi chúng ta cứ nói ra mọi điều Kinh thánh nói và đừng đi quá những điều đó.
Còn về những cặp vợ chồng mong muốn có con nhưng lại không thể có được chúng thì sao? Tôi đã quan sát và nhìn thấy những cặp vợ chồng đó thường trở thành bậc cha mẹ của con cái đời nầy. Họ là những người chuyên phục vụ cho kẻ mồ côi cha và mồ côi mẹ. Thường thì họ nhận con nuôi, họ trở thành bậc cha mẹ nuôi, họ làm việc trong một trung tâm sản khoa, họ tư vấn trong thành phố, họ dạy lớp Trường Chúa Nhật, họ làm việc ở cơ quan Awana, và họ tiếp cận với loại trẻ sống vất va vất vưởng. Có rất nhiều trẻ em chẳng có ai chăm sóc cho chúng. Đức Chúa Trời chúc phước cho những người trưởng thành nào tỏ ra tình yêu thương của Chúa Jêsus cho con cái của đời nầy.
Chẳng có khoái lạc nào trong cuộc sống có thể sánh bằng khoái lạc nhìn thấy con ruột của mình lớn lên. Nó giống bạn thật là nhiều, được dựng nên theo ảnh tượng của bạn, một hình ảnh của bạn được thu nhỏ lại, tuy nhiên lại rất khác. Chúng đi đứng giống như bạn, chúng nói năng giống như bạn, chúng cười đùa y như bạn, và thế mà chúng lại có đầu óc riêng của chúng.
Không một ai bị nói là đã sống vô ích khi để lại sau lưng mình con cái biết kính mến Chúa và bước theo các dấu chơn Ngài. Cliff Raad đã chỉ cho tôi thấy một tấm bảng nhỏ ông đã mua để gắn trong văn phòng mình với hàng chữ khắc III Giăng 4: “Tôi nghe con cái tôi làm theo lẽ thật, thì không còn có sự gì vui mừng hơn nữa".
Con cái đem tình yêu của Đức Chúa Trời đến với chúng ta. Khi bạn nhìn vào mặt của con mình, bạn sẽ nhìn biết rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm được như vậy. Mọi hồ nghi của bạn sẽ tan biến đi giống như sương móc ban mai đương lúc mùa hè. Thời gian và cõi đời đời gặp nhau trong tấm lòng của một đứa trẻ. Mỗi thứ ấy khi đến, chúng mang lấy dấu tay của Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus yêu thương con trẻ ... và chúng ta cũng thế!
II. Con trẻ giống như những mũi tên cần phải được mài nhọn và có mục tiêu.
“Con trai sanh trong buổi đang thì, khác nào mũi tên nơi tay dõng sĩ” (Thi thiên 127:4).
Mũi tên tuy nhỏ những có quyền lực. Hãy suy nghĩ đến mọi điều con cái mình có thể làm xem. Mũi tên phải được mài cho thật nhọn. Chúng ta cũng phải nắn đúc con cái mình như thế. Mũi tên có thể được bắn đi thật xa. Ai biết được con cái mình sẽ đi bao xa? Mũi tên phải được nhắm kỹ hầu bay trúng mục tiêu. Bạn đang nhắm mục tiêu nào thế?
Cung thủ để ra thật nhiều giờ để sửa soạn các mũi tên của họ. Họ lựa chọn cẩn thận đúng mẫu gỗ, cắt nó cho đúng với kích cỡ, rồi để ra nhiều giờ đánh bóng, mài dũa, và lông vũ thích hợp cũng như đầu mũi tên nhọn. Họ cẩn thận ngắm đích nhắm của các mũi tên, vì một mũi tên có thể gây thiệt hại rất lớn. Tuần rồi tôi lần qua câu nói nầy, đã được viết ra cách đây hơn 100 năm. “Bậc phụ huynh không nên đùa giỡn với con cái của họ, giống như mấy tên ngốc đang đùa giỡn với đồ nhọn hoắc kia”. Tôi đồng ý. Có nhiều bậc phụ huynh đùa giỡn với con cái của họ và rồi lấy làm lạ tại sao chúng không đổi ra đàng hoàng.
Nhiều phụ huynh Cơ đốc đang chơi trò phòng thủ với con cái của họ, khi lẽ ra họ phải chơi trò tấn công. Chơi trò phòng thủ nghĩa là hy vọng con cái của bạn sẽ không hút thuốc, không uống rượu, không dùng ma túy, không ngủ bậy, và không rơi vào chỗ rắc rối. Điều đó là tốt thôi, song như thế là một mục tiêu quá thấp đối với bậc phụ huynh Cơ đốc. Chúng ta đáng phải nuôi dạy con cái chúng ta chơi trò tấn công, phải học cách làm thay đổi thế giới cho Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng ta đáng phải cầu nguyện, xin Đức Chúa Trời sẽ khiến con cái chúng ta thành “loại cầu thủ chịu va chạm” cho Đức Chúa Jêsus Christ.
Đôi khi mọi ước mơ của chúng ta là quá nhỏ nhoi. Chúng ta muốn chúng tiếp thu một nền giáo dục, tìm kiếm sự nghiệp, ổn định, thành hôn với một người đàng hoàng, và năng động. Bấy nhiêu là chưa đủ đâu. Có phải bạn muốn con cái mình hầu việc Chúa không? Điều đó không xảy ra do tình cờ đâu đấy. Bạn phải mài nhọn chúng giống như các mũi tên rồi ngắm chúng theo một hướng đúng đắn.
III. Con cái là sức mạnh của gia đình.
“Phước cho người nào vắt nó đầy gùi mình! Người sẽ không hổ thẹn, khi nói năng với kẻ thù nghịch mình tại cửa thành” (Thi thiên 127:5).
Câu nầy dường như dạy rằng loại gia đình đông con là một dấu đặc biệt nói tới ơn phước của Đức Chúa Trời. Như thế nào thì là “đầy”? Hỏi như thế thì giống như hỏi “Tóc dài là tóc như thế nào?” Kinh thánh không xác định bạn có bao nhiêu con, nhưng ở từng địa điểm, Kinh thánh nói tới chủ đề, con cái luôn luôn là một ơn phước, và nhiều con là một dấu hiệu nói tới sự ưu ái của Đức Chúa Trời. Không phải hết thảy các gia đình trong Kinh thánh đều là đông con cả đâu, tất nhiên là thế, nhưng có nhiều gia đình đông con lắm. Điều nầy đi ngược lại vấn đề “nhiều con” được dạy dỗ hôm nay, thậm chí trong vòng hàng giáo phẩm, song quan niệm có ít con hơn để bạn có thể chi tiêu nhiều tiền bạc cho chúng dường như là hoàn toàn kỳ cục đối với các trước giả Kinh thánh.
Đức Chúa Trời không truyền bao nhiêu con cái mà một cặp vợ chồng phải có. Gùi thì giống như giày vậy, chúng có nhiều kích cỡ. Hãy hình dung cái gùi của bạn có kích cỡ nào và rồi hãy cầu xin Đức Chúa Trời giúp cho bạn làm đầy nó. Xem xét về tuổi tác và sức khỏe sẽ dẫn tới quyết định, nhưng động lực cũng rất là quan trọng. Có ít con hơn có thể là thuận tiện, nhưng đấy không luôn luôn là quyết định tốt nhứt đâu. Hãy suy nghĩ về việc ấy một chút xem.
Con cái là phiên bản của Kinh thánh về chế độ An Sinh Xã Hội. Chúng tiếp trợ cho cha mẹ chúng trong lúc họ về già. Nếu cha mẹ yêu thương con cái, tương lai của chúng còn an ninh hơn nếu chúng có 5 triệu USD trong ngân hàng.
Cửa thành là nơi mà dân sự lo xử lý công việc của họ. Đấy cũng là chỗ mà ở đó người khôn ngoan cai trị rồi đưa ra những sự xét đoán. Dân sự sẽ gặp đối tác của mình “tại cửa thành”. Một người cha với nhiều con có nhiều người bảo vệ khi ông ta bị vu cáo. Chúng đứng và làm chứng tốt cho danh của ông ta. “Phước cho người nào vắt nó đầy gùi mình! Người sẽ không hổ thẹn, khi nói năng với kẻ thù nghịch mình tại cửa thành” (Thi thiên 127:5).
Đây là một gia đình đoàn kết để tự bảo hộ mình chống lại mọi công kích. Hãy lưu ý, chẳng có gì được nói tới tiền bạc hay thế lực hoặc địa vị. Ơn phước của Đức Chúa Trời không thấy có nơi sự giàu có đời nầy hay sự tích lũy “đồ đạt”, mà có ở một gia đình hạnh phúc tập hợp lại bất cứ lúc nào có rối rắm.
Đây là một câu nói tới những ông chồng (và các bà vợ) tham công tiếc việc: Có ích lợi gì khi một người có cả thế gian thế mà lại mất gia đình mình? Tôi chưa hề biết có người nào nằm trên giường chờ chết nói: “Tôi ao ước có thêm thời gian để ở trong văn phòng làm việc”. Song có nhiều người nói: “Tôi ao ước có thêm thời gian với gia đình mình”. Ồ, cần phải khôn ngoan đủ để tiếp thu điều nầy đang khi vẫn còn có thời gian để tạo ra sự khác biệt. Chẳng có điều gì ở đây đi ngược lại việc có một sự nghiệp hay chịu khó làm việc hết. Thế nhưng cần phải có những trình tự ưu tiên đã được cân đối và để nắm bắt được phần giá trị cao nhất – giá trị gia đình.
Derek Kidner chỉ ra việc nuôi dạy con cái có thể rất nhọc nhằn và khó khăn. Con cái vừa là ơn phước mà cũng là gánh nặng. Các sự ban cho của Đức Chúa Trời rất điển hình ở chỗ trước tiên chúng là những nghĩa vụ pháp lý trước khi chúng trở thành tài sản. Lời hứa của chúng càng lớn lao, thì thách thức sẽ càng lớn lao hơn cho phần việc nuôi dạy con cái của Đức Chúa Trời. Y như rằng con cái của chúng ta sẽ là một vài trước khi chúng trở nên gùi đầy.
IV. Con cái là niềm hy vọng của gia đình.
“Vợ ngươi ở trong nhà ngươi sẽ như cây nho thạnh mậu; Con cái ngươi ở chung quanh bàn ngươi khác nào những chồi ô-li-ve. Kìa, người nào kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ được phước là như vậy” (Thi thiên 128:3, 4).
Cây nho là biểu tượng của sự quyến rũ, vẻ đẹp và sức hấp dẫn tình dục. Người vợ trong câu nầy đưa ra một đối chiếu rõ ràng với người vợ bất trung ở Châm ngôn 7:11, ở đây chép về người nầy như sau: “Nàng vốn nói om sòm, không thìn nết, hai chân nàng chẳng ở trong nhà”. Trong Thi thiên nầy, người vợ vốn hấp dẫn, lôi cuốn, quyến rũ và trung thành. Lý tưởng của Đức Chúa Trời không phải lập gia thất rồi để chịu đựng đâu, mà ngày càng hạnh phúc hơn, khá hơn, vui vẻ hơn, và người chồng vẫn luôn thấy người vợ hấp dẫn với mình hơn sau 20 hoặc 30 hay 40 hoặc 50 năm.
Cây nho làm cho ngôi nhà thêm xinh đẹp. Nó phủ lấy mái hiên, làm cho ngôi nhà được mát mẻ, và làm cho bàn ăn thêm phần phong phú với những trái nho mọng nước. Đấy là một người vợ tin kính đối với chồng của nàng. Nàng là mãi triều thiên cho chồng mình, là người nâng đỡ và là sức lực của nàng. Chàng sống hạnh phúc bất cứ đâu vì chàng là người hạnh phúc nhất trong gia đình.
Chồi ôlive nói tới tiềm năng rộng lớn trong tương lai. Cây ôlive trưởng thành cho ra trái, gỗ, và dầu rất có giá trị. Cũng một thể ấy, con cái được Đức Chúa Trời ban cho có tiềm năng rộng lớn vì ích cho thế gian nầy. Đúng là một đặc ân khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trở thành hạng quản gia, lo chăm sóc những cái bình phước hạnh của Ngài vì thế gian. Không ai có thể nói đứa con rồi đây sẽ ra thể nào.
Sáu phần kết luận quan trọng
Thứ nhứt, con cái là sự ban cho đến từ Đức Chúa Trời, và gia đình hạnh phúc là sự ban cho đến từ Đức Chúa Trời. Họ không đến bởi nổ lực của con người hay từ chính sách nhà nước, song chỉ đến từ bàn tay của Đức Chúa Trời ở trên cao kia.
Thứ hai, ơn phước của Đức Chúa Trời đang sẵn có cho bất kỳ ai tìm kiếm chúng. Việc duy nhứt Đức Chúa Trời đòi hỏi, ấy là dân sự Ngài phải kính sợ Ngài và vâng theo các mạng lịnh của Ngài. Tiền bạc và sự thành công đời nầy chẳng đáng sánh với sự vui vẻ của một gia đình hạnh phúc, nơi đó bố mẹ yêu thương nhau, con cái hiếu kính cha mẹ chúng, và họ cùng nhau nhóm lại quanh bàn ăn mỗi tối để chia sẻ mọi nổi niềm buồn vui của họ.
Thứ ba, chúng ta phải nắm bắt lấy giá trị cao của gia đình, về mối hôn nhân một chồng một vợ, về sự tiết độ trước hôn nhân, và về một đời sống cùng nhau phước hạnh sau hôn nhân. Chúng ta phải dạy dỗ con cái của chúng ta rằng tình yêu chơn thật đang chờ đợi, rằng mối hôn nhân đó đáng ao ước, rằng chức năng làm mẹ là một sự kêu gọi cao thượng, rằng một người cha tin kính thì quan trọng hơn là cứ lái xe BMW và ngồi trong văn phòng có máy lạnh, rằng một gia đình yêu thương thì có giá trị hơn hết thảy vàng bạc ở Fort Knox, rằng quan hệ tình dục bừa bãi chỉ dẫn đến buồn rầu và đau đầu, rằng con cái chúng ta thì có giá trị hơn mói thứ tình cảm, mọi nổ lực, và mọi đầu tư của thì giờ và tài nguyên của chúng ta.
Thứ tư, chúng ta cần phải hiếu kính đối với ông bà, cha mẹ của chúng ta. Phước thay là gia đình nào có cơ nghiệp tin kính được chuyền đi từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Đức Chúa Trời chúc phước cho bậc ông bà đó, họ đã đầu tư thì giờ, năng lực, nước mắt và sự cầu nguyện vào đời sống cháu chắt của họ.
Thứ năm, chúng ta cần phải nhấn mạnh vai trò mà bậc tổ phụ tin kính đã đóng và sự kêu gọi cao cả của chức năng làm mẹ và công tác nội trợ. Các hội thánh địa phương hoàn toàn rất hợp lý trong việc chi ra số tiền lớn trên chức vụ của chúng tôi đối với thiếu nhi, ấu nhi, và lứa tuổi thanh thiếu niên vì con cái chúng ta tiêu biểu cho niềm hy vọng trong tương lai. Chúng ta phải tiếp tục huấn luyện bậc cha mẹ còn trẻ trong mọi kỷ thuật nuôi dạy con cái sao cho thật hiệu quả và ghép họ với những đôi vợ chồng lớn tuổi hơn, họ có thể chỉ cho đôi vợ chồng trẻ hơn thấy những mối dây rồi phục vụ trong vai trò tư vấn và mẫu mực.
Thứ sáu, chúng ta phải tiếp tục ủng hộ bậc làm cha mẹ đơn chiếc, cha mẹ ghẻ, cha mẹ nuôi, con nuôi, và những ai sống trong loại gia đình pha trộn. Nhiều lần gánh nặng của họ rất là lớn vì bức tranh gia đình hạnh phúc ở Thi thiên 128 chưa đạt được trọn vẹn. Những cá nhân ấy cần sự nâng đỡ của chúng ta, chớ không cần sự xét nét của chúng ta.
Chúng ta đang sống trong một thế giới làm giảm sút giá trị trẻ thơ và khiến cho con trẻ của chúng ta phát triển quá nhanh. Quả là làm một đứa trẻ trong đó không phải là dễ đâu, nhưng hôm nay mọi áp lực càng lớn lao hơn bao giờ hết. Tôi tin loại gia đình hạnh phúc vẫn là khả thi ở nơi nào Lời của Đức Chúa Trời được xem trọng.
Chúng ta có thể đồng hành với Đức Chúa Jêsus Christ trong công tác xây dựng gia đình của chúng ta. Khi chúng ta đồng hành với Chúa, gia đình của chúng ta sẽ được phước, con cái chúng ta sẽ thịnh vượng, mối hôn nhân của chúng ta sẽ trường tồn, và Đức Chúa Jêsus Christ sẽ được tôn vinh. Và khi công tác của chúng ta trên đất xong rồi, chúng ta có thể quay nhìn lại với sự vui mừng rối nói: “Đức Chúa Trời chúc phước cho chúng ta với một gia đình Cơ đốc phước hạnh”. Chẳng có phần thưởng nào lớn lao hơn, chẳng có một chứng cớ nào to tát hơn, chẳng có một mục tiêu nào cao hơn dành cho bậc phụ huynh Cơ đốc. Nếu chúng ta có thể nói như thế khi đời nầy qua rồi, chúng ta có thể rời khỏi thế gian nầy trong sự ca hát, với lòng nhìn biết rằng chúng ta đã đắc thắng trong một lãnh vực gay go nhất của cuộc sống.
Nhịp tim đập
Một lời nói sau cùng mà tôi đã thốt ra. Thi thiên 128:5 kết thúc với lời cầu nguyện nầy: “Nguyện ngươi được thấy con cháu mình!” Tôi đã đọc ở đâu đó cụm từ nầy: “Nguyện bạn sống thọ đủ để nhìn thấy con cháu đang đùa giỡn nơi chơn mình”. Vào ngày lễ Giáng Sinh cách đây một năm, Josh và Leah đã làm cho chúng tôi phải kinh ngạc với những tin tức cho hay rằng chúng đang trông đợi đứa con đầu lòng của chúng. Ở giữa kỳ lễ, Josh nói với tôi: “Ba ơi, hãy bảo trọng đấy. Chúng con muốn ba cứ ở quanh đây để nhìn thấy cháu nội đầu lòng của ba nhé”. Tôi biết rõ nó muốn nói gì rồi. Có nhiều người trong nhánh gia đình họ Pritchard của tôi đã không sống thọ đủ đâu. Không có nhiều người trong họ của chúng tôi sống đến 75 tuổi. Cứ thế cho tới nay. Vì vậy, tôi đã cầu xin rằng tôi được sống thọ đủ để nhìn thấy đứa cháu nội đầu tiên của mình. Nguyện Đức Chúa Trời giàu ơn nhận lời cầu nguyện đó khi tôi bồng ẳm Knox trong vòng tay của mình vào tháng 8 vừa qua.
Thế rồi có những tin tức mới đây đến với Mark và Vanessa cách đây mấy tuần, họ đương trông đợi. Có lẽ cô ấy sẽ sinh con vào tháng 7. Họ đã gửi cho tôi một cuộn băng ghi nhịp tim của đứa bé, ghi lại từ trong lòng mẹ. Đây là những gì tôi viết sau khi nghe bản tường trình:
Lần thứ nhứt bố nghe, âm thanh giống như chiếc xe lửa kiểu cũ đang lăn bánh trên đường ray. Đầu máy đập với một nhịp điệu không đổi. Bố có thể hình dung mấy cái piston đang ra sức làm vận chuyển mấy cái bánh xe đưa chiếc xe lửa xuống đường ray trong khi cột khói màu trắng bung ra từ cái ống khói kia.
Nhịp đập không phải là mạnh đâu. Nó dần sâu hơn rồi mạnh hơn trước. Bình bịch là từ duy nhứt nghe được. Và bố có nhớ câu chuyện bố đã nghe kể từ lâu về “cổ máy nhỏ đang khởi động”.
Lắng nghe một lần nữa và xác định ở giây thứ bảy, bố nghe tiếng của một phụ nữ nói: “A” và rồi giọng nói của một người đàn ông cũng y như thế.
Tiếng bình bịch, bình bịch, bình bịch nầy là âm thanh nhịp tim đập của một đứa trẻ, được ghi lại ở trong lòng mẹ nó vào khoảng 9 tuần thai.
Chín tuần thai.
Trẻ thơ có kích cỡ duy nhứt bằng một hạt đậu, một vật nhỏ bé, nhưng đứa trẻ ấy có nhịp tim.
Bạn có thể chẳng bao giờ nghe được nhịp tim ấy bằng lỗ tai của riêng mình, song qua phép lạ của kỷ thuật, đứa trẻ gửi đi cho thế gian biết những tin tức tốt lành rằng mọi sự đều suông sẻ cả.
Bình bịch, bình bịch, bình bịch. Cổ máy nhỏ đang khởi động.
Không bao lâu nữa, nhưng không quá sớm đâu, một người đang hy vọng. Có thể là trong tháng 7. Đấy là những gì bác sĩ nói cho Mark và Vanessa biết cách đây mấy tuần.
Đúng là một phép lạ, một đứa trẻ 9 tuần thai ở trong lòng mẹ có thể tự công bố mình cho thế gian biết. Nhịp tim đập xa xa ấy rất rõ ràng, rất mạnh mẽ, cổ máy của một đời sống mới sẽ chạy trên con đường của chúng ta.
Đáng sợ, tuyệt vời dường bao, chúng ta được dựng nên bởi bàn tay của Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Đấng với sự chăm sóc dịu dàng đang quan phòng trên nhịp tim đập của đứa trẻ còn ở trong lòng mẹ.
Tôi mong rằng đây là lời bình luận sau cùng của tôi chống lại việc phá thai. Chúng ta biết đứa trẻ ở trong lòng mẹ đang sống. Chúng ta biết đứa trẻ ra từ Mark và Vanessa nhưng không phải là Mark và Vanessa. Chúng ta biết đứa trẻ có mã di truyền độc nhất vô nhị của riêng nó. Chúng ta biết đứa trẻ đang phát triển từng ngày một. Chúng ta biết quả tim của đứa trẻ đang đập.
Làm sao bạn dám giết đứa trẻ đó chứ? Làm sao bạn dám giết bất kỳ đứa trẻ nào đang còn ở trong lòng mẹ nó chứ?
Vì chúng ta biết lẽ thật, chúng ta cầu thay để tai họa phá thai bị cất bỏ ra khỏi vùng đất của chúng ta.
Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho những người chuyên nghiệp, tất cả các y tá, bác sĩ chuyên nghiệp, hết thảy những nhà chính trị chuyên nghiệp, và hết thảy những ai đang lao động nhiều giờ trong các trung tâm chuyên về sản khoa. Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho quí Mục sư nào rao giảng về trẻ chưa chào đời. Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho từng bậc cha mẹ nuôi. Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho những trẻ được nuôi nấng đàng hoàng. Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho quí giáo viên Lớp Trường Chúa Nhật, nhân sự chương trình Awana, cấp lãnh đạo Word of Life, nhân sự VBS, và những người tình nguyện thuộc chương trình CEF.
Nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho những ai yêu mến con trẻ mà Đức Chúa Trời vốn yêu thương.
Lạy Chúa Jêsus, Ngài đã phán: “Hãy để cho con trẻ đến cùng ta”. Ngài đã tỏ cho chúng con thấy con trẻ vốn là vấn đề đối với Ngài. Xin ban cho chúng con tấm lòng của Ngài dành cho con trẻ ở khắp mọi nơi, dù ra đời hay chưa ra đời. Amen.




Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Thi thiên 51: "Đức Chúa Trời Sẽ Tha Thứ Bao Nhiêu Tội?"


Đức Chúa Trời Sẽ Tha Thứ Bao Nhiêu Tội?
– Thi thiên 51
Đúng ra, đây là một việc rất kỳ cục.
Nhưng giờ đây mọi việc dường như là suông sẻ hết. Rốt lại, ai có thể bắt lỗi một vị vua về việc chìu theo mọi suy tưởng của ông ấy chứ? Đấy là những gì các vì vua hay làm. Một tối kia, bạn ra ngoài để đi dạo, bạn nhìn thấy một phụ nữ xinh đẹp, bạn thèm muốn nàng, bạn cho vời nàng đến, nàng đến với bạn. Chỉ đơn giản như thế thôi! Các vì vua hay làm ra loại việc ấy kể từ khi thời gian bắt đầu.
Bất cứ gì nhà vua muốn, nhà vua đều nhận được hết.
Đấy là lý do tại sao họ gọi ông ta là vua. Và trong thời đó, chuyện ấy dường như chẳng ai xem là một việc lớn lao cả. Việc đó vẫn còn xảy ra hôm nay. Giữa vòng chúng ta ai thực sự kinh ngạc khi thấy vị tổng thống hay thủ tướng có cô bạn gái ở bên cạnh chứ? Việc ấy chẳng xảy ra suốt cõi thời gian, song nó đang xảy ra, và người ta nghe nói về việc ấy rồi rùng vai hoặc họ cười biếm một chút rồi biến nó thành truyện vui hoặc họ không thích việc ấy nhưng họ cứ giữ việc ấy trong lòng mình. Không phải để biện minh mọi việc, bạn thấy đấy, chỉ để lưu ý rằng đây là phương thức mà mọi việc đang diễn ra.
Nhà vua cảm thấy mọi việc sau cùng giống như đã được an bài hết rồi. Có nan đề với chồng của người phụ nữ nầy. Tránh né anh ta thì chẳng phải là một việc dễ dàng đâu. Anh ta là loại chiến binh trung thành của hoàng gia, anh ta chẳng dễ bị lừa đâu. Vì vậy, nhà vua đã thủ tiêu anh ta trên chiến trường. Rất là phức tạp, nhưng người chồng đã kết thúc giống như một vị anh hùng trong cái chết của mình. Khi ấy, nhà vua cảm thấy thoải mái khi đem người đàn bà kia về làm vợ của mình. Vua đã làm như thế.
Thế rồi, tin tức rất là vui vẻ đã đến, người phụ nữ kia đã có thai. Mọi sự đều suông sẻ hết với việc thế gian.
Thế nhưng ở nhiều khu vực khác người ta đồn rằng: “Nhưng điều Đa-vít đã làm đó không đẹp lòng Đức Giê-hô-va” (II Samuên 11:27). Nhà vua sắp sửa tiếp thu với sự khó nhọc rằng Đức Chúa Trời sẽ không bị chế giễu và “phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi" (Dân số ký 32:23).
Nathan, người của Đức Chúa Trời, bước vào. “Vua là người đó!”
Ông kể cho nhà vua nghe một câu chuyện ngắn nói về người nhà giàu kia với nhiều con chiên đã tước của kẻ nghèo nọ con chiên con duy nhứt mà gia đình ông ta đang có. Phải xử như thế nào đối với người nhà giàu đã hành động không chút thương xót kia chứ? “Hắn phải chết”, nhà vua tuyên bố trong giận dữ. Thế rồi người của Đức Chúa Trời ban bố ra sứ điệp ngày.
“Vua là người đó!”
Trong khoảng khắc, thời điểm ấy như tim thôi ngừng đập vậy, nhà vua đã nhìn biết sự thật, vua biết mọi điều Nathan đã nói, vua biết rõ ông là người giàu kia, là người đã lừa đảo kẻ nghèo nọ. Nhà vua đã nhìn biết! Lời của Giêhôva đến một cách mau chóng:
“Ngươi đã có mọi sự mà ta ban bố cho”.
"Ta đã lập ngươi làm vua”.
"Nếu chưa đủ, ta sẽ ban cho ngươi thêm nữa”.
"Sao ngươi xem khinh Lời ta chứ?”
“Ngươi dám lấy vợ của người nầy”.
"Ngươi đã giết hắn”.
“Sẽ chẳng có gì khác hơn là rối rắm cho ngươi từ ngày nầy trở đi”.
"Gia đình ngươi sẽ đau khổ vì cớ tội lỗi của ngươi”.
Thế rồi những tin xấu xảy đến.
“Con trai ngươi sẽ chết”.
Nhà vua bật khóc rồi kiêng ăn cầu nguyện, nhưng đứa trẻ đã chết.
Thế rồi thời điểm đến cho nhà vua phải việc việc khó nhọc nhất mà bất cứ ai cũng có thể làm, là nhìn vào gương rồi nói: “Ta đã phạm tội” (I have sinned). Có thể đấy là ba từ khó nói nhất trong tiếng Anh. Chẳng có ai muốn thốt ra câu: “Ta đã phạm tội” (I have sinned). Thay vì nói như thế, chúng ta muốn làm việc gì đó khác hơn. Nhưng chẳng làm sao yên lòng được cho tới chừng chúng ta nhìn nhận mình đã phạm sai lầm là dường nào.
Qua hai hàng nước mắt và cảm giác tội lỗi sâu kín ấy, tự quở trách về sự dại dột quá mấu của mình, sau cùng nhận ra mình đã phạm sai lầm là dường nào, Vua David đã ngồi xuống rồi viết ra bài thơ mà chúng ta gọi là Thi thiên 51. Ba ngàn năm sau, chúng ta trở lại với nó thật nhiều lần vì nó cho chúng ta biết như thế nào là trở lại với Đức Chúa Trời khi chúng ta phạm tội.
Trở lại với Đức Chúa Trời là dây an toàn cho nhiều thế hệ các tín đồ, trước tiên giữa vòng người Do thái nào đã học biết, thuật lại rồi ca hát Thi thiên ấy, tiếp đến giữa vòng Cơ đốc nhân nào đã sử dụng Thi thiên đó như bài thơ riêng của mình vậy. Lời lẽ phổ thông đến nỗi chúng thuộc về bất cứ ai có tấm lòng tan vỡ vì cớ tội lỗi. Nếu bạn gạt bỏ nó, đây là một lời đến từ Đức Chúa Trời dành cho bạn. Nếu bạn nhìn vào đống đổ nát của chính đời sống bạn, nhìn biết đầy đủ rằng bạn đã phạm lỗi trong nhiều sự lựa chọn dại dột, nếu bạn từng thất vọng trong việc tìm kiếm ơn tha thứ, chúng ta hãy cùng nhau hành trình qua Thi thiên 51 rồi xem coi Thi thiên ấy nói gì với chúng ta ngày nay.
Có ba phần trong lời cầu nguyện quan trọng nầy. Thứ nhứt, David xưng ra tội lỗi mình (các câu 1-6). Tiếp đến, ông cầu xin sự thanh tẩy (các câu 7-12). Rồi ông dâng lên lời cầu xin được nên thánh (các câu 13-19).
Xưng tội.
Thanh tẩy.
Được nên thánh.
Warren Wiersbe nói David cầu xin ba việc trong Thi thiên 51:
“Xin tha thứ cho tôi”
"Xin rửa tôi”
"Xin sử dụng tôi”
Nếu tội lỗi của bạn giống như một gánh nặng đè trên vai, thì Thi thiên nầy là dành cho bạn đấy.
Xưng tội
David bắt đầu với Đức Chúa Trời (các câu 1-2). Ông kêu xin ơn thương xót, tình yêu thương, và lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời bôi xóa mọi vi phạm và tẩy sạch tội lỗi của ông. Thời điểm bào chữa đã qua rồi. Sẽ chẳng có chỗ để hợp lý hóa cho tội tà dâm và giết người, không thể nói được: “Các vua đều làm thế suốt thôi” hoặc “Tôi rơi vào chỗ yếu đuối một chút thôi mà”. Bao lâu con người đưa ra lời bào chữa, họ không thể được tha thứ vì họ sẽ không sạch được về tội lỗi của họ. Nếu bạn cảm thấy mình cần phải biện minh cho tội lỗi, bạn chưa sẵn sàng để được tha thứ.
Đức Chúa Trời không thương lượng đâu.
Ngài không nói: “Con nít sẽ chỉ là con nít” hay “ta hiểu ngươi yếu đuối là dường nào, vì vậy ta sẽ bỏ qua lần nầy". Nếu tội lỗi muốn được tha thứ, thì phải xưng ra đó là tội gì. Bạn không thể gọi tội lỗi là “yếu đuối” được và mong mỏi Đức Chúa Trời tha thứ cho. Đức Chúa Trời không tha thứ cho sự yếu đuối; Ngài chỉ tha thứ tội lỗi mà thôi. Đấy là lý do tại sao nhà vua chồng chất nhiều từ ngữ khác nhau để nói ra chiều sâu của tội lỗi ông: vi phạm, gian ác, tội lỗi, và sau cùng, “điều ác” (câu 4). Khi nhìn vào chỗ ô uế của tấm lòng mình, ông chẳng thấy có điều chi tốt lành cả, chẳng có điều gì có thể làm giảm đi tội ác quá lớn của mình.
Trong câu 4, David thốt ra một việc rất phi thường:
“Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, và làm điều ác trước mặt Chúa”.
Há ông chẳng phạm tội nghịch cùng Uri sao, không phải một lần mà là hai lần? Phải.
Há ông không phạm tội nghịch cùng Bátsêba bằng cách cướp nàng khỏi chồng nàng sao? Phải.
Há ông không phạm tội nghịch cùng dân Israel sao? Phải.
Nhưng sau cùng, ông đã phải thưa trình với Đức Chúa Trời! Mọi tội lỗi là phản nghịch chống lại Đấng Toàn Năng. Cho tới chừng nào chúng ta nắm bắt được như thế, cho tới chừng nào chúng ta nhìn thấy và cảm nhận nó, cho tới chừng nào chúng ta xưng nó ra, chúng ta không thể được tha thứ.
Vì vậy, David nói: “Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, và được thanh sạch khi Chúa xét đoán” (câu 4b). Khi ấy, ông nói: “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” (câu 5)“Nầy, Chúa muốn sự chân thật nơi bề trong”. Câu nầy nhắc cho tôi nhớ tới bối cảnh nổi tiếng Jack Nicholson trong phim A Few Good Men khi ông nói với Tom Cruise: “Anh muốn biết sự thật ư?” Khi Cruise nói: “Phải, tôi muốn biết”, Nicholson hô lên trong giận dữ: “Anh không thể nắm lấy sự thật được”.
Sự thật có thể khó nắm lấy, đặc biệt là sự thật nói tới chính bản thân chúng ta.
Cách đây mấy năm, tôi đến thăm một nhà tư vấn rất được ơn, ông cung cấp cho tôi một bản tóm tắt nhân cách rồi sau đó gửi mọi kết quả qua mail cho tôi. Kèm theo với những kết quả thử nghiệm là một số giấy tờ mà vị tư vấn đã kê ra. Trên một trang, vị tư vấn đã ghi kèm câu nói nổi tiếng của Chúa Jêsus: “các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi” (Giăng 8:32). Ông đã đổi phần sau rồi cho in như thế nầy: LẼ THẬT SẼ BUÔNG THA BẠN . . . NHƯNG NÓ SẼ LÀM TỔN THƯƠNG BẠN TRƯỚC TIÊN.
Câu ấy làm cho tôi bắt giật mình, và rồi giống như thể có ai đó đã bật lên một ngọn đèn trên đầu tôi. Phải, tất nhiên, câu nói ấy có ý nghĩa rất hay đấy. Trong chớp mắt, tôi nhận ra lý do tại sao hầu hết mọi người đều bối rối nhiều về vấn đề thuộc linh. Không phải vì chúng ta không biết lẽ thật đâu. Chúng ta biết nhiều về lẽ thật y như nó đang chạy trước con ngươi mắt mình. Chúng ta nghe lẽ thật giảng ra ở nhà thờ, trên đài phát thanh, từ bạn bè chúng ta, từ sách báo và các đĩa Cơ đốc, trong thần học viện và các buổi hòa nhạc. Rồi chúng ta tiếp lấy thẳng lẽ thật từ Kinh thánh. Đấy chẳng phải là nan đề của chúng ta. Nếu hết thảy chúng ta chỉ cần nhận biết lẽ thật, hết thảy chúng ta sẽ trở thành ứng viên cho hàng thánh đồ vĩnh viễn thôi.
Không, vấn đề còn sâu sắc hơn thế nữa. Chúng ta biết lẽ thật, nhưng chúng ta không muốn lẽ thật làm tổn thương chúng ta, vì vậy chúng ta phải làm cho nó chệch hướng, bất chấp nó, chối bỏ nó, công kích nó, tranh luận với nó và nói chung tránh né nó với bất cứ phương thức gì chúng ta có thể. Chúng ta khoác lấy cái thuẫn để chúng ta có thể làm chệch hướng những viên đạn lẽ thật. Sau một thời gian ngắn, chúng ta biết cách làm chệch hướng đến nỗi lẽ thật không bao giờ đụng phải chúng ta.
Chúng ta lắng nghe lẽ thật . . . chúng ta biết rõ lẽ thật . . . nhưng chúng ta làm chệch hướng lẽ thật để nó không bao giờ đến gần đủ để làm hại chúng ta. Vì lẽ đó, chúng ta không được buông tha. Chúng ta vẫn còn giận dữ . . . ngoan cố . . . cay đắng . . . tham lam . . . kiêu ngạo . . . đầy dẫy tư dục . . . tư ý . . . phê phán . . . và không tử tế.
Lẽ thật thực sự không hề thay đổi chúng ta vì chúng ta không để cho nó đến gần đủ để làm hại chúng ta. Thành thật là bước đầu tiên nhìn nhận tình trạng thật của bạn.
Khi David kêu xin ơn thương xót của Đức Chúa Trời, ông đã công nhận nguồn gốc thực sự của vấn đề và chỗ sự chữa lành phải bắt đầu. Cho tới chừng nào có “lẽ thật” (từ ngữ muốn nói tới điều gì là “thực tế” ngược lại với việc cáo lỗi, che đậy, và ngăn ngừa mọi sự gì là okay) nơi sâu kín bên trong của linh hồn, bao lâu chúng ta còn dối mình, chúng ta không thể thấy khá hơn, và Đức Chúa Trời không thể dạy chúng ta sự khôn ngoan. Bạn có muốn được buông tha không? Sự ấy có thể xảy ra, nhưng bạn phải để cho lẽ thật làm tổn thương bạn trước tiên.
David đang nói: “Lạy Chúa, tôi biết những gì Ngài mong muốn. Ngài muốn tôi thôi không tham dự vào trò chơi nữa và thôi không bào chữa nữa. Tôi sẵn sàng làm như thế. Không còn bào chữa nữa, không tham dự trò chơi nữa. Tôi đã phạm tội trước mặt Ngài và tôi công nhận như thế”.
Thanh tẩy
Cách đây không lâu, có một người bạn hỏi làm sao chúng ta biết ai đó là một Cơ đốc nhân thật? Đấy luôn luôn là một câu hỏi khó vì con người và hoàn cảnh khác biệt rất lớn, và có khi người ta nhìn khác đi từ một khoảng xa xa hơn là chúng ta đang ở gần. Thi thiên 51 đề nghị một nguyên tắc dường như đúng đắn, ngay cả khi nguyên tắc ấy không được nhiều người xét đến. Cách chúng ta phản ứng khi chúng ta phạm tội tỏ ra sự giải quyết đúng đắn về thực tại hay phi thực tại lời tuyên xưng đức tin của chúng ta. Khi người ta phạm phải một tội nặng nề và đau thương, thắc mắc luôn luôn phát sinh: Làm sao chúng ta biết đâu là sự ăn năn thật chứ? Tôi tin chính Mục sư Spurgeon là người lưu ý rằng chúng ta có thể đem lòng tin cậy vấn đề nầy khi sự ăn năn cũng hiển nhiên y như chính tội lỗi vậy.
Không những David không che giấu tội lỗi mình, và không những ông không thu nhỏ tội lỗi kia, ông nài xin Đức Chúa Trời ban ra ân điển sâu sắc để thanh tẩy ông khỏi vết uế của tội lỗi. Ông muốn Đức Chúa Trời rửa ông sạch từ trong ra ngoài. Vì ông tự mình viết Thi thiên nầy, rõ ràng ông không quan tâm ai biết những gì ông đã làm và ông đang ráng hết sức mình để tìm kiếm ân điển của Đức Chúa Trời.
Thành thực xưng tội là một kinh nghiệm hạ mình. Tôi nhớ lại khi một thánh đồ phạm tội đưa ra lời xưng tội với một nhóm bạn thân kia. Tôi có mặt ở đó quan sát sự việc diễn ra. Người ấy đứng trước hội chúng rồi thốt ra sự việc, với nhiều nước mắt và với đầy đủ chi tiết đặc biệt đưa vấn đề ra trước ánh sáng chẳng để lại chút gì có thể làm tổn thương nhiều người khác. Đáng buồn quá, nghiêm trọng làm sao, và sự xưng tội được thực hiện. Khi sự tuyên xưng xong rồi, có người bắt đầu hát rất tự nhiên bài: “Cầu nguyện chung”, ngay tức khắc có nhiều giọng hát của những người tham dự hòa vào. Vây chung quanh vị thánh đồ biết sám hối kia, họ hoan nghênh người ấy trở lại với ràng.
Khi được tự do khỏi gánh nặng tội lỗi là vấn đề, khi chúng ta không còn bọc đường tội lỗi của chúng ta nữa, khi chúng ta tìm cách hồi phục mối tương giao với Đức Chúa Trời và với dân sự Ngài, khi chúng ta không còn lo lắng về tiếng tăm của mình nữa, khi điều cho Đức Chúa Trời nghĩ là vấn đề hơn những gì người khác suy nghĩ, khi ấy chúng ta sẽ tìm được ơn tha thứ vì sự ăn năn của chúng ta đã dẫn chúng ta về lại với Chúa.
Nếu bạn nhìn vào lời cầu xin mà David đưa ra ở các câu 7-12, bạn có thể thấy rõ con đường phục hồi có 7 chi tiết:
1. Chúng ta cần được thanh tẩy bằng huyết. “Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tội lỗi tôi, thì tôi sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết" (câu 7). Kinh giới là một cây được dùng trong Lễ Vượt Qua ở Aicập (Xuất Êdíptô ký 12:22). Người Do thái nhúng cây nầy vào trong huyết chiên con rồi bôi trên mày cửa. Khi thiên sứ sự chết nhìn thấy huyết, Ngài “vượt qua” ngôi nhà đó và không có ai ngã chết trong đêm ấy. Đức Chúa Jêsus Christ là Chiên Con Lễ Vượt Qua của chúng ta, huyết của Ngài giờ đây tẩy sạch tội lỗi của chúng ta (I Côrinhtô 5:7; 1 Giăng 1:7). Khi viết về việc nầy, Mục sư Ray Stedman lưu ý rằng có nhiều người lấy làm lạ tại sao Chúa Jêsus lại phải chịu chết vì chúng ta. Thập tự giá của Chúa Jêsus làm phật lòng tri thức của nhiều người, họ ưa thích thứ tôn giáo “không có huyết” hơn. Đây là giải đáp của Stedman:
Tại sao Chúa Jêsus phải chịu chết để tha tội cho chúng ta? Câu trả lời duy nhứt là: Tội lỗi dầm thấm sâu sắc trong chúng ta đến nỗi nó không thể được cứu chữa bằng bất kỳ thứ gì khác hơn là sự chết. Đời sống cũ phải chết. Đức Chúa Trời không thể cải thiện nó. Ngay cả Đức Chúa Trời không thể làm cho nó ra tốt hơn, Ngài không thể rửa hay thanh tẩy nó; Ngài chỉ có thể để cho nó chết đi. David vốn hiểu rõ sự ấy trong lúc nầy. Ông thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu Ngài xử lý với dòng sông gian ác khủng khiếp nầy trong tôi, tôi có thể thấy nó phải được làm cho chết đi. Nó phải được chùm kinh giới bôi lên, khi ấy tôi sẽ được sạch”.
2. Chúng ta cần hy vọng mới. “Hãy cho tôi nghe sự vui vẻ mừng rỡ, để các xương cốt mà Chúa đã bẻ gãy được khoái lạc" (câu 8). “Lạy Chúa, tôi bị dìm xuống khá lâu rồi, tôi chẳng thấy chi khác trừ ra bóng tối tăm. Hãy chiếu sự sáng của Ngài vào lòng tôi để tôi có thể hát mừng rỡ thêm một lần nữa".
3. Chúng ta cần phải biết tội lỗi mình đã được tha. "Xin Chúa ngảnh mặt khỏi các tội lỗi tôi, và xóa hết thảy sự gian ác tôi” (câu 9). Được tha chưa phải là đủ. Chúng ta cần phải biết rằng Đức Chúa Trời đã đem tội lỗi xa khỏi chúng ta. Mặt khác, tội lỗi của chúng ta sẽ dấy lên tố cáo chúng ta và một lương tâm phạm tội sẽ giữ chúng ta thức thâu đêm cho xem.
4. Chúng ta cần một tấm lòng thanh sạch. “Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng” (câu 10). Từ ngữ “dựng nên” có nghĩa là David biết ông không thể làm thay đổi được chính mình. Đây là chỗ tận cùng của sự tự cải cách. Nhà vua biết rõ trừ phi Đức Chúa Trời làm cho ông được sạch, ông sẽ chẳng tự mình làm được việc đó. Không những thế, ông còn cầu xin một thần linh “ngay thẳng” sẽ giúp cho ông đứng vững chống lại sự cám dỗ trong tương lai nữa.
5. Chúng ta cần sự phục hồi bởi quyền phép của Đức Thánh Linh. “Xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa, cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa” (câu 11). Mục sư Spurgeon nói một Cơ đốc nhân chơn thật chỉ có thể cầu nguyện giống như lời cầu nguyện nầy. Một người chưa tin Chúa sẽ không quan tâm về việc bị trục xuất ra khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì họ chưa bao giờ sống gần gũi với Đức Chúa Trời trong chỗ thứ nhứt. Một người chưa được cứu sẽ không quan tâm về việc đánh mất Đức Thánh Linh mà họ chưa hề có bao giờ. Người bất kỉnh trốn tránh sự hiện diện của Đức Chúa Trời và tránh né Đức Thánh Linh. Chỉ có con cái của Đức Chúa Trời mới cảm nhận được nổi đau kỷ luật của Chúa. Người nào đã ở trong ánh mặt trời tình yêu của Ngài đều rùng mình trong bóng tối giá lạnh khi Ngài không đẹp lòng.
6. Chúng ta cần tìm lại niềm vui mừng trong ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời. “Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa" (câu 12a). Từng tội lỗi một, dù lớn hay nhỏ, làm phân rẽ chúng ta ra khỏi mối tương giao phước hạnh với Đức Chúa Trời. Có khả năng được cứu, nhưng tội nghiệp vì chúng ta chưa xử lý đúng với tội lỗi của chúng ta. David nói: “Lạy Chúa, tôi mệt mõi tội nghiệp về lối sống nghèo ngặt của tôi. Xin hãy mở ra dòng suối vui mừng trong lòng tôi một lần nữa đi”.
7. Chúng ta cần một sự khao khát mới ở bên trong. "Dùng thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi” (câu 12b). David muốn nói: “Xin khiến tôi được vui mừng để vâng theo Ngài trong tương lai”. Ông nài xin Đức Chúa Trời thực thi một cuộc “giải phẫu tim thiêng liêng” để ông không còn trôi lạc ra khỏi đường ngay nữa.
Con đường có 7 chi tiết là con đường thẳng cho từng tội nhân nào muốn tìm sự hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. Hãy khởi sự với huyết của Chúa Jêsus thì bạn sẽ kết thúc với hy vọng mới, vui mừng mới, và một lòng khao khát mới muốn phục vụ Chúa.
Sự nên thánh
Sự phục vụ mới
“Bấy giờ tôi sẽ dạy đường lối Chúa cho kẻ vi phạm, và kẻ có tội sẽ trở về cùng Chúa” (câu 13).
Khi David xem lại các bài học mà ông đã học được theo sau vụ việc bê bối với Bátsêba, ông hứa với Đức Chúa Trời rằng ông sẽ dùng kinh nghiệm của mình để khiến cho hạng tội nhân trở lại với Chúa. Cho tới chừng nào chúng ta kinh nghiệm riêng về ân điển tha thứ của Đức Chúa Trời, Tin Lành đối với chúng ta chẳng khác gì một sứ điệp trên lý thuyết mà thôi. Nhưng hãy để cho một người công bố thể nào Đức Chúa Trời đã giải cứu người trong thời điểm thất vọng bất lực, hãy để cho người nói năng công khai về việc người thất bại trong việc hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, hãy để cho người nói ra cách thức Chúa Jêsus đã tìm gặp người, vực người dậy, tha tội cho người, ban cho người một đời sống mới, rồi đặt bước chơn người theo một hướng mới. Hãy để cho người chia sẻ tận đáy lòng mình và người ta sẽ lắng nghe chẳng có bằng chứng nào như sự thực nói tới một đời sống được thay đổi. Hạng tội nhân trở lại đạo trở thành nhà truyền đạo lỗi lạc nhất vì họ biết sự thực về những gì họ đang nói.
Sự thờ phượng mới
“Chúa ơn, xin mở môi tôi, rồi miệng tôi sẽ truyền ra sự ngợi khen Chúa” (câu 15).
David không bao giờ quên tội lỗi của ông hay ân điển đã tìm gặp ông ở giữa nổi vô vọng của ông. Môi miệng ông bị đóng kín cho tới chừng ân điển như một dòng sông tuôn ào xuống từ thiên đàng. Khi ấy ông sẽ chẳng còn im lặng nữa. Hạng người được tha thứ thực sự ưa thuật cho người khác biết mọi điều mà Đức Chúa Trời đã làm cho họ.
Tri thức mới
“Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng; Của lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa: Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu” (các câu 16-17).
Hai câu nầy trục xuất đời đời quan niệm sai lầm cho rằng Đức Chúa Trời chỉ muốn có tôn giáo. Thời xưa, đó là huyết của bò đực và dê đực. Thời nay, chính sự nhóm lại ở nhà thờ và tiền bạc trên cái đĩa dâng hiến. Bạn có thể đi nhà thờ cả ngàn ngày Chúa nhật, ngồi trên một hàng ghế, và việc ấy sẽ chẳng dời đi vết uế của một tội. David biết rõ rằng không một con bò đực nào được dâng lên bàn thờ có thể chuộc được tội giết người hay tà dâm. Cái điều Đức Chúa Trời mong muốn, ấy là tâm thần đau thương và thống hối. Vì thế, ông sẽ chẳng xây lại.
Đề tựa bài giảng của tôi đưa ra một thắc mắc mà giờ đây tôi phải sửa soạn để trả lời. Đức Chúa Trời sẽ tha thứ bao nhiêu tội? Hay nói khác đi, có phải Đức Chúa Trời sẽ không tha thứ khi chúng ta nhúng quá sâu vào trong tội? Câu trả lời là, không một ai biết vì chẳng có ai đi quá xa như thế. Không một người nào đọc mấy lời nầy cần phải thất vọng. Vô luận bạn sống gian ác như thế nào trong quá khứ, nếu bạn xây lại với Chúa, Ngài sẽ tha thứ cho bạn cách dư dật.
Nếu Đức Chúa Trời tha thứ cho David, chắc chắn Ngài sẽ tha thứ cho bạn.
Nếu một kẻ tà dâm giết người có thể tìm gặp ân điển, có hy vọng cho bạn và tôi đấy.
Đức Chúa Trời sẽ tha thứ bao nhiêu tội? Hết thảy! Không một tội nào vượt quá ân điển của Đức Chúa Trời nếu chúng ta xây lại với Ngài bằng một tấm lòng đau thương và thống hối. Tha thứ luôn luôn là khả thi, song chỉ dành cho người nào xử lý cách sâu sắc và thành thực với chính tội lỗi của họ.
Tôi giả sử câu hỏi sẽ là như vầy: Bạn có muốn được tha thứ không? Tôi nói “thậm chí” vì bạn có thể làm cho lòng mình cứng cỏi tới điểm bạn không còn quan tâm mình có được tha thứ hay không!?! Đối với hạng người thể ấy, chẳng có gì còn lại trừ ra sự phán xét đáng sợ của Đức Chúa Trời. Nhưng nếu bạn có lòng khao khát nhỏ nhoi nhất muốn được tha thứ, nếu trong lòng bạn, bạn muốn có một khởi sự mới, tội lỗi của bạn có thể được tha thứ.
Mọi sự không nói tới bạn. Mọi sự không nói tới tội lỗi của bạn.
Mọi sự đang nói tới Đức Chúa Trời. Mọi sự đang nói tới ân điển.
Ở câu 7, David đã cầu nguyện: “Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết”. Bạn có muốn được như thế chăng? Bạn có muốn vết uế tội lỗi được dời đi khỏi đời sống của bạn không? Bạn có muốn được rửa sạch “trắng hơn tuyết" không? Việc ấy sẽ xảy ra nếu bạn đến với Chúa cùng một thái độ mà David đã có trong Thi thiên 51. Vào đầu thập niên 1870, có một người tên là James Nicholson đã làm việc trong vai trò thư ký ở văn phòng bưu điện ở Philadelphia. Ông cũng rất năng động trong Hội thánh Wharton Street Methodist Episcopal. Ông đã viết bài thánh ca dựa theo Thi thiên 51:7 có đề tựa là Trắng hơn tuyết đã được ưa thích trong suốt chiến dịch giảng Tin Lành của Mục sư D. L. Moody. Đây là câu thứ nhứt, câu thứ ba và câu cuối cùng bài thánh ca của Ông Nicholson:
Lạy Chúa Jêsus, con ước ao được trọn lành hoàn toàn; Con muốn Ngài ngự đời đời vào linh hồn con. Xin bẻ gãy từng hình tượng, xua đuổi từng kẻ thù; giờ đây xin rửa con và con sẽ được trắng hơn tuyết.
Lạy Chúa Jêsus, con xin hạ mình xuống van nài; con chờ đợi, lạy Chúa phước hạnh, nơi chơn Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá.
Bởi đức tin, xin thanh tẩy con, nguyện con nhìn thấy huyết Ngài tuôn chảy; giờ đây, xin rửa con và con sẽ được trắng hơn tuyết.
Lạy Chúa Jêsus, trước mặt Ngài con trông đợi; Hãy đến ngay giờ nầy và dựng nên trong con một tấm lòng mới.
Đối với người nào chịu tìm kiếm Ngài, Ngài chẳng hề nói: “không”; giờ đây xin rửa con và con sẽ được trắng hơn tuyết.
Giai điệu:
Trắng hơn tuyết, phải, trắng hơn tuyết. Giờ đây, xin rửa con và con sẽ được trắng hơn tuyết.
Một dòng đặc biệt đập mạnh vào tôi với một sức mạnh cả thể: Đối với người nào chịu tìm kiếm Ngài, Ngài chẳng hề nói: “không”. Tôi dám chắc Vua David sẽ thốt ra hết lòng: Amen. Đức Chúa Trời không hề xua đi một người có tấm lòng thành thật tìm kiếm. Vô luận bạn đã làm gì, hay bạn sống ở đâu, hoặc tội lỗi bạn xấu xí dường nào, nếu bạn chịu đến với Chúa Jêsus, Ngài sẽ không hề nói: “không”.
Có lẽ phần ứng dụng thì đơn sơ giống như điều nầy. Hãy lấy lời lẽ của bài thánh ca nầy, như chúng dựa theo Thi thiên cổ xưa nầy, rồi biến chúng thành của riêng bạn. Hãy nói về chúng, hãy hát chúng lên, hãy dùng chúng mà cầu nguyện với Chúa. Người nào chạy đến với Ngài bằng tấm lòng đau thương thống hối sẽ được sạch trắng hơn tuyết. Nguyện mọi sự ấy trở thành kinh nghiệm của bạn ngay hôm nay.


Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

NGƯỜI ĐÀN BÀ BÊN GIẾNG


NGƯỜI ĐÀN BÀ BÊN GIẾNG
và CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO

Samari, một phần trong xứ Palestine: người Do thái sống ở đó đã bị đưa đi làm phu tù ở Babylôn. Những người bị bỏ lại: làm nô lệ của người Babylôn nào chuyển xuống phía Nam, để chiếm lấy xứ Palestine.
Mối hôn nhân tạp tạo ra những đứa con có dòng máu tạp, khi người Do thái trở về từ Babylôn, bị xem là 'dân ngoại': vì họ không có Ápraham là tổ phụ chính thống của họ.
Người Do thái đi giữa thành Jerusalem và xứ Galilê: vội vã băng qua thành Samari dân ngoại, mà không dừng lại. Không những Chúa Jêsus dừng lại, mà còn bắt đầu một chức vụ đáng nhớ cho dân sự ở đó nữa.
Đi ngang ai đó là một người Samari, và là một phụ nữ, thì không đáng chấp nhận đối với một người đàn ông Do thái. Người đàn bà kia biết rõ mọi sự nầy: và lấy làm kinh ngạc khi thấy Chúa Jêsus không chối bỏ bà.
Người Do thái không hề uống nước từ một cái bình được sử dụng bởi một người Samari: vì họ sẽ xem cái bình và hành vi là ô uế về mặt nghi thức. Tuy nhiên, Chúa Jêsus đã hỏi xin nước uống: trong cái bình mà người đàn bà cung cấp cho.
Nữ giới thường cùng nhau đi lấy nước: còn người đàn bà trong câu chuyện thì đi có một mình; vì những người khác sẽ chẳng có việc gì phải làm với bà ta, vì bà ta vốn là một tội nhân mà ai cũng biết.
Các câu 17-18 chép rằng bà ta đã sống với một người không phải là chồng của bà ta; và đã sống với năm người đàn ông khác nữa, trong quá khứ. Mặc dù vậy: Chúa Jêsus chẳng nhắc gì đến tội lỗi; và, thay vì thế, đã tỏ ra những dấu hiệu rõ ràng về việc tiếp nhận bà ta.
Ở các câu 12, 15, 20, sự tiếp nhận của Đấng Christ: làm cho người đàn bà thấy thoải mái đủ để trao đổi về lịch sử, nơi chốn, truyền thống và những điều thiết thực. "Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy … chúng tôi, con cháu của người, luôn uống nước nầy … ông không có gì mà múc .. chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy, v.v…"
Chúa Jêsus đã sai các môn đồ Ngài đi mua đồ ăn từ làng của người Samari "không sạch" kia. Điều đó đã xấu đủ rồi: thế nhưng, khi họ trở lại, các môn đồ thấy Ngài đang trò chuyện với một mình người đàn bà "dân ngoại".
Câu 28 chép: "Người đàn bà bèn bỏ cái vò của mình lại và vào thành".Trong thời buổi đó, khuyên nhũ một người đàn bà là chuyện rất bất thường; trên chuyến đi lấy nước; bỏ đi nơi khác rồi để cái bình lại đàng sau.
Một việc bất thường đã xảy ra: và bà ta rất vội vã; về nhà, rồi thuật lại câu chuyện của mình; như có cái gì đó nặng nề phải mang lấy.
Thế là sứ mệnh phi thường của Đấng Christ đã khởi sự với người thành Samari.
Một trong những quan điểm tôn giáo và thuộc linh khi ấy rất quan trọng, và vẫn quan trọng, gồm có:
Trong việc xin nước uống: Chúa Jêsus đã gạt qua một bên những trở ngại về xã hội và tôn giáo: và đề ra nền tảng cho mọi sự tốt lành mang tính sáng tạo nối theo sau.
Câu 10. Chúa Jêsus phán: "Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: "Hãy cho ta uống" ...
Nói khác đi, Ngài biết chính xác Ngài là ai; và mọi điều xảy đến cho Ngài. Khi nhìn biết chúng ta là ai, và chúng ta sẽ như thế nào, có tầm quan trọng lớn lao, trong bất kỳ vấn đề, công việc gì mà chúng ta đảm nhiệm.
Ở các câu 10, 13-14: người đàn bà đưa ra một số vấn đề thực tiễn và phản diện; Chúa Jêsus ứng đáp với mọi điều ấy, với những thách thức về mặt thuộc linh.
Khả năng "đọc" thấy mọi điều kín nhiệm sâu kín của bà ta nơi Ngài: đã gây ấn tượng cho bà ta: và phản ứng của bà ta đối với Ngài cho thấy rất chân thành.
Ở câu 19, bà ta, cũng chuyển sang những vụ việc thuộc linh. Bà ta đã đụng đến những cách thờ phượng: và đã dựng lên sự việc để Chúa Jêsus phải trả lời, phù hợp với mọi nhu cần thuộc linh của bà ta.
Ngài hướng tâm trí của bà ta ra khỏi phần lịch sử và truyền thống: rồi lèo lái lý trí ấy đến với Thân Vị của Đức Chúa Trời, và bước vào mối quan hệ thuộc linh với Ngài.
Bà ta được khích lệ để thốt ra những gì bà ta thực sự tin tưởng: và thốt ra mọi kỳ vọng của mình về Đấng Mêsi trong tương lai.Trong câu nói: "Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó": Đấng Christ đã mở đường để cho đức tin của bà ta được len vào, và mọi nhu cần tối hậu của bà ta được thỏa mãn. Những ngăn trở về xã hội và tôn giáo Chúa Jêsus đã dời đi, ngay thời điểm đó: làm hình bóng trước cho sự di dời đời đời mọi ngăn trở như thế giữa Đức Chúa Trời và con người, là điều đã đạt được tại thập tự giá.
Người đàn bà vào trong thành: rồi đưa ra bằng chứng phi thường, và làm chứng, với dân sự là những người thường không chịu nghe bà ta nói: "Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Đấng Christ sao?"
Người dân thành phố đó, đặc biệt là cánh đàn ông, không những lắng nghe bà ta (một người đàn bà; một tội nhân, và đủ thứ còn lại) mà còn đáp ứng lại trong một tư thế rất tích cực nữa.
Câu 31. Đồng thời, các môn đồ: họ không nghe thấy cuộc tranh cãi về mặt thuộc linh giữa Chúa Jêsus và người đàn bà, đã lấy làm lạ không biết tại sao Ngài không ăn một số đồ ăn mà họ đã đem về. Chúa Jêsus, vẫn còn nấn ná với các vấn đề thuộc linh, thay vì những quan tâm thiết thực: đã không phê phán họ.
Thay vì thế: Ngài chuyển từ những mối quan tâm thiết thực của họ: rồi tiếp tục đến lý do tại sao họ có mặt ở đó trong chỗ đầu tiên; truyền giảng, chứng đạo và làm chứng: và tiếp đến ban cho họ một bài giảng ngắn gọn về công cuộc truyền giáo.
Các câu 39-42 cho thấy rằng, trong thành phố, nhiều người Samari đã tin theo Đấng Christ, qua sự làm chứng của người đàn bà. Họ đã nhìn thấy một sự thay đổi đích thực nơi bà ta: những điều xác quyết mọi sự bà ta đã nói.
Theo cách làm chứng của bà ta: "Hãy đến xem một người": cánh đàn ông đã đi ra để gặp gỡ Chúa Jêsus. Họ giục giã Ngài ở lại với họ, trong thành của họ: Ngài đã ở lại trong hai ngày.
Nhiều người nữa đã trở thành tín đồ; qua sự hiện diện và sự dạy dỗ của Chúa: và có thể xác chứng rằng: "chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian".
Một số luận điểm trong câu chuyện đó; đặc biệt đặc biệt có liên quan đến ngày hôm nay: trong công cuộc truyền giáo, chứng đạo.
Chúa Jêsus 'đã vỡ đất mới, qua việc phá vỡ những luật lệ vô dụng cũ rích'. Ngài đã làm thế, qua việc dấn thân vào rồi cam kết với nhân loại đang có cần.
Tại thập tự giá; sau cùng Ngài đã phá vỡ những hàng rào ngăn trở giữa Đức Chúa Trời và con người: nhưng Ngài đã bắt đầu trước tiến trình đó; bao gồm sự cố xảy ra bên giếng.
Hội thánh không bao giờ trình một tấm thiệp giới thiệu Đấng Christ, với thế giới đang có cần; song Đấng Christ chơn thật, Ngài đã dấn thân vào mọi hoàn cảnh và các sự kiện; và ngay cả trong chỗ "nhớp nhúa và bùn lầy", của thế gian đến nỗi Ngài đã chịu chết để làm nên sự cứu rỗi.
Các môn đồ đã không tiếp thu được toàn bộ sự việc, để bước theo Chúa; và để có phần trong những gì Ngài sẽ làm; và những gì Ngài sắp sửa làm ra nữa.
Nhiều nhà thờ hôm nay, họ chưa chịu bỏ đi một số đường lối cũ của họ; và bỏ qua một số luật lệ tự tạo; để "vỡ đất mới" của họ trong sự phục vụ Đấng Christ.
Vì Chúa Jêsus hiểu rõ chính xác Ngài là ai: và mọi điều Ngài được kêu gọi để lo làm; có một sự "dạn dĩ thánh" nơi Ngài, là điều mà kẻ thù Ngài đã công nhận.
Ở đó, bên cái giếng: Đấng Christ bị vây quanh bởi những người ngoại và sự chối bỏ; bởi những cách thực hành tôn giáo bất toàn, và những thái độ xét đoán; cũng như tội lỗi nữa.
Giữa mọi sự nầy: Ngài dám làm những điều Đức Chúa Trời đã sai phái Ngài đến để lo làm.
Còn các nhà thờ hôm nay thì sao? Có phải họ "dám đảm nhận" những gì Đức Chúa Trời kêu gọi và ủy thác cho họ phải lo làm không?
Ban đầu, phản ứng duy nhứt của người đàn bà: ở trên cấp độ thực tiễn của lịch sử và truyền thống. Gạt mọi cách nói 'an toàn' như thế qua một bên: Chúa Jêsus phán với bà ta theo những giới hạn về mặt thuộc linh.
Sẽ có một sự khác biệt sống chết giữa lối nói "an toàn" kia, mà chẳng có ai chống đối với; và phần làm chứng thuộc linh, có thể cắt lòng, và đổi thành một đời sống dành cho Đấng Christ.
Người đàn bà bên giếng đã không sợ hãi khi làm chứng lại. Sau khi trở lại với thành phố, bà ta nói: "Hãy đến xem một người": vì vậy, họ đi ra; rồi đích thân họ gặp gỡ Chúa Jêsus.
Vì cớ sứ mệnh một cặp một của Đấng Christ với người đàn bà: bà ta bị thuyết phục và đã trở lại đạo; rồi bước vào sự cứu rỗi.
Qua sứ mệnh 'một với vài người', với một số đàn ông trong thành ấy: họ đã trở lại với Đấng Christ. Vì cớ sứ mệnh làm chứng từ 'một vài với nhiều người'; cánh đàn ông trong thành ấy đã vọt lên tới một số lượng lớn lao hơn: họ cũng trở lại với Đấng Christ, và rồi đã bước vào ân điển cứu rỗi mà Đức Chúa Trời đã hoạch định cho họ.
Câu chuyện nói tới 'người đàn bà bên giếng' minh họa, rõ ràng nhất: tính đơn sơ của sứ mệnh và công cuộc truyền giáo, và niềm vui mừng lan rộng khi công cuộc ấy được phu phỉ.
Câu chuyện; và hệ quả cao của nó: vẫn còn liên quan tới hôm nay; và làm dấy lên những thắc mắc không thể bỏ qua: tỉ như:
Chúng ta đang đảm nhiệm loại sứ mệnh và công cuộc truyền giáo nào, từ các nhà thờ của chúng ta; và đâu là kết quả của nó?
Chúng ta nói với nhiều người khác câu: "Hãy đến xem một người" với hy vọng rằng đích thân họ, cũng sẽ gặp gỡ Đấng Christ? Amen!

Công Vụ các Sứ Đồ 9:31 - 10:23: "“Vỡ Đất Mới”


“Vỡ Đất Mới”
Công Vụ các Sứ Đồ 9:31 - 10:23
Mục sư Lyle L. Wahl
Đức Chúa Trời đào tạo hạng tín hữu sẵn lòng lo vỡ đất mới.
Phần giới thiệu:
Sáng nay chúng ta sẽ suy nghĩ về việc vỡ đất mới. Cụm từ đến từ việc làm nông, ở đó vỡ đất có nghĩa là sửa soạn đất chưa trồng trọt để đưa vào sử dụng. Trước khi có máy móc, và thậm chí bây giờ trong những nơi kém phát triển, công cụ cầm tay, sức mạnh của thú vật và con người đều đã được sử dụng để vỡ đất mới.
Chúng ta đang suy nghĩ theo các giới hạn thuộc linh, đang xem xét việc vỡ đất mới trong hội thánh, chuyển vào một khu vực mà ở đó chưa được lực lượng nồng cốt các môn đồ đụng đến.
Đức Chúa Trời vỡ đất mới nơi con người, trong hội thánh và trong thế gian. Sống với Đức Chúa Trời có nghĩa là dự vào cuộc phiêu lưu rất thú vị. Một phần trong đó là được mặc lấy quyền phép và được Đức Chúa Trời đại dụng để vỡ đất mới.
Giống như nhà nông sử dụng công cụ thích hợp để vỡ đất mới, cũng một thể ấy dân sự của Đức Chúa Trời cần phải sống sao cho thích ứng và sử dụng những cách tiếp cận cùng loại công cụ hợp lẽ. Lẽ thật chính cho chúng ta hôm nay, ấy là Đức Chúa Trời đào tạo hạng tín đồ sẵn lòng lo vỡ đất mới. Tuần tới chúng ta sẽ để ra một giây đồng hồ nhìn vào phần thứ nhứt của chương 10 từ một nhận định khác. Giờ đây, chúng ta hãy khởi sự bằng cách xem xét …
Phần thách thức của việc vỡ đất mới.
Chúng ta bắt đầu với công việc: mở rộng Tin Lành ra cho dân Ngoại. Tin Lành. Những tin tức tốt lành nói tới Đức Chúa Jêsus Christ. Những tin tức tốt lành nói tới tình yêu thương, ơn tha thứ và sự sống đời đời của Đức Chúa Trời trong và qua Chúa Jêsus.
Mong ước của Đức Chúa Trời dành cho mọi người ở khắp mọi nơi là nghe được tình yêu và ơn tha thứ của Ngài chẳng phải là một điều gì mới mẻ. Từ thời thơ ấu, các môn đồ của Chúa Jêsus đã được dạy dỗ về mục đích và kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho dân Israel là…trở nên sự sáng cho các dân tộc trên thế giới; qua sự làm chứng tin kính của họ, chiếu sáng về Đức Chúa Trời, về lẽ thật, tình yêu thương và sự cứu chuộc của Ngài.
Và các môn đồ của Chúa Jêsus đã nghe Ngài phán: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (John 3:16).
Và Ngài cũng phán cùng họ: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân…” (Mathiơ 28:19).
Và, sau mấy lời đó, sau khi Chúa Jêsus về trời, sau khi Hội thánh được khai sinh vào ngày lễ Ngũ Tuần, sau lần bắt bớ đầu tiên và tan rãi Hội thánh, một số tín hữu đã chia sẻ Tin Lành với người Samari, và phần nhiều người trong số dân nầy, nhiều nhất là những người có nửa dòng máu Do thái, đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của họ. Phierơ và Giăng đã đến tại thành Samari để kiểm tra mọi điều đã xảy ra.
Họ đã chúc phước cho công việc rồi rao giảng cho người thành Samari trên đường trở về lại thành Jerusalem. Song đông đúc và gần gũi nhất, Hội thánh vẫn là người Do thái và các sứ đồ đang phục vụ cho chính dân tộc của họ. Vì vậy, thách thức của Đức Chúa Trời là phải vỡ đất mới, mở rộng Tin Lành qua người Do thái và người thành Samari đến các dân Ngoại, đến với mọi người.
Đức Chúa Trời đã chọn Phierơ đi đầu trong nhiệm vụ nầy. Ai cũng biết Phaolô là vị sứ đồ cho dân Ngoại, trong khi Phierơ ai cũng biết ông là sứ đồ cho người Do thái. Nhưng trong việc vỡ đất mới nầy, Đức Chúa Trời đã bắt đầu với Phierơ.
Đức Chúa Trời đã chọn loại người nào?
Phierơ là một người tầm thường. Ông cũng không giàu có cũng chẳng có học vấn cao.
Ông xuất thân hoàn toàn từ một lai lịch truyền thống Do thái, với mọi thành kiến đối với ai chẳng phải là người Do thái.
Ông bốc đồng và ngoan cố.
Ông rất trung thành và là một con người của hành động.
Điều nầy cho chúng ta biết điều gì? Một việc: ấy là Đức Chúa Trời thực hiện sự kêu gọi. Ngài lựa chọn bất cứ ai Ngài muốn. Đức Chúa Trời bắt đầu với một chuổi nguyên liệu thô. Và hết thảy chúng ta phải vui mừng khi Ngài hành động, vì điều đó có nghĩa là chúng ta có phần trong công việc nầy.
Đôi khi những sự lựa chọn của Đức Chúa Trời làm cho chúng ta phải kinh ngạc và bối rối. Khi nhìn lại mình và nhìn vào nhiều người khác, không nên mau chóng bác bỏ khả năng Đức Chúa Trời mong muốn bạn, Đức Chúa Trời muốn họ phải vỡ vùng đất mới nào đó. Thắc mắc đáng phải là: “Sao không phải là tôi?” thay vì “Sao lại là tôi?”
Đức Chúa Trời lựa chọn, và rồi sửa soạn, đào tạo nhân sự sao cho thích ứng với công việc của Ngài. Vì vậy, bây giờ chúng ta cần phải nhìn xem cách thức Đức Chúa Trời đào tạo chúng ta thành loại nhân sự thích hợp như thế nào!?!.
Đào tạo nhân sự thích hợp.
Có bốn phương diện chúng ta thấy nơi Phierơ ở đây. Thứ nhứt, Đức Chúa Trời đào tạo loại nhân sự thích hợp qua việc làm rõ và khẳng định ơn kêu gọi của Ngài. Ở cái nhìn ban đầu, phần cuối của chương 9 dường như chẳng kết nối với chương 10, song có đấy. Hãy nhìn vào 9:32: “Vả, Phi-e-rơ đi khắp các xứ, cũng đến cùng các thánh đồ ở tại thành Ly-đa”. Phierơ đang trên đường đến với các hội thánh trong khu vực nầy.
Chúng ta mở bản đồ để đến với địa điểm nầy. Ở phía sau quyển Kinh thánh của bạn, hãy kiểm tra tấm bản đồ nói tới thời của Đấng Christ, hội thánh đầu tiên, hay các sứ đồ. Ở phía sau quyển Kinh thánh của bạn, hãy mở ra tấm bản đồ số 6, đề tựa là xứ Palestine trong thời Đấng Christ. Trong khi bạn tìm ra tấm bản đồ ấy, chúng ta có tấm bản đồ chiếu trên màn hình.
Lyđa nằm cách Tây Bắc thành Jerusalem 25 dặm và có số dân cư đa số là người Do thái.
Đây là một trung tâm hành chính với các doanh nghiệp làm đồ gốm và vải lanh cùng sản phẩm trái vả và rượu.
Một số việc lạ lùng xảy ra từ câu 32 cho đến hết chương. Thứ nhứt, ở Lyđa, Đấng Christ, qua Phierơ, đã chữa lành cho một người bị đau bại và nằm liệt giường trong 8 năm trời.
Bản tường trình của Luca chẳng ghi lại một lời cầu xin được chữa lành nào từ người có tên Ênê nầy, Luca cũng không nói cho chúng ta biết ông ta có phải là tín đồ hay đã trở thành một tín đồ hay không!?!
Luca ghi lại rằng: “Phi-e-rơ nói với người rằng: Hỡi Ê-nê, Đức Chúa Jêsus-Christ chữa cho ngươi được lành, hãy chờ dậy, dọn dẹp lấy giường ngươi. Tức thì, người vùng chờ dậy”. Kết quả là, có nhiều người đã tin theo Chúa Jêsus. Phép lạ nầy đã đem lại ơn chữa lành về phần xác cho Ênê rồi dẫn đến sự chữa lành về mặt thuộc linh cho nhiều người.
Thế rồi, có câu chuyện kỳ diệu ở Giốpbê nói tới việc Đấng Christ làm cho Tabitha, hay Đôca, được sống lại qua Phierơ. Chúng ta hãy mở bản đồ ra. Giốpbê nằm trên bờ biển cách Lyđa 12 dặm về phía Tây Bắc.
Đức Chúa Trời đã làm ra phép lạ nầy qua Phierơ theo cách riêng. Không có ai khác ở đó, đám đông phải ở ngoài hết. Phierơ đã cầu nguyện. Mà rằng: “Hỡi Tabitha, hãy chờ dậy”. Giống như với Ênê, phép lạ nầy có tức thì và hoàn toàn. Kết quả là, một lần nữa, có nhiều người tin theo Chúa Jêsus.
Đây là hai phép lạ bất thường và rất có ấn tượng. Đức Chúa Trời không làm hai phép lạ nầy để để thổi phồng cái tôi hay tiếng tăm của Phierơ. Đối với Phierơ, chúng là một sự khẳng định về quyền phép vô hạn của Đức Chúa Trời hoàn tất bất cứ điều gì và mọi sự Ngài yêu cầu Phierơ phải lo làm — thậm chí những việc mà Phierơ có thể nghi ngờ.
Ở đây, tại Giốpbê, Đức Chúa Trời đã ban cho Phierơ một khải tượng để in trí rằng Tin Lành là dành cho mọi người trên cơ sở bình đẳng — người Do thái và dân Ngoại (10:10-16). Trong khải tượng ấy, có một tiếng nói phán: “Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn!” các loài thú cả sạch hay có thể chấp nhận và ô uế hay bị hạn chế đối với người Do thái.
Người Do thái đã noi theo một số luật lệ trong luật pháp, như trong các chế độ ăn uống, là mọi sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời.
Nhiều người khác thì có phần mở rộng và bổ sung riêng. Xuống tới câu 28 để nhìn thấy một trường hợp khác: “Người nói cùng chúng rằng: Người Giu-đa vốn không được phép giao thông với người ngoại quốc hay là tới nhà họ …”
Trong mọi sự nầy, Đức Chúa Trời đang làm sáng tỏ với Phierơ rằng đất mới cần phải được vỡ ra.
Và, Phierơ tiếp thu lấy sứ điệp. Về sau trong chương 10, khởi sự ở câu 34, Phierơ nói: “…Quả thật, ta biết Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai, nhưng trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình, thì nấy được đẹp lòng Chúa”.
Cũng một thể ấy, Đức Chúa Trời sẽ làm sáng tỏ và khẳng định ơn kêu gọi của Ngài với chúng ta để vỡ đất mới, trong trường hợp đất mới ấy nằm trong chính đời sống chúng ta hay trong chức vụ. Giờ đây, đôi khi Đức Chúa Trời sử dụng các phép lạ để làm sáng tỏ và khẳng định sự dẫn dắt của Ngài. Chúng luôn luôn rất hiếm hoi. Mục đích, ấy là cho dù có việc gì đi nữa, khi Đức Chúa Trời muốn bạn tiến tới trước, Ngài sẽ luôn luôn cung ứng cho bạn đủ sự sáng tỏ và khẳng định để đi bước kế tiếp.
Cách thứ hai Đức Chúa Trời đào tạo chúng ta trở thành hạng nhân sự sẵn lòng là qua sự cầu nguyện. Chúng ta hãy trở lại với câu 9 trong chương 10.
“Bữa sau, trong lúc ba người ấy đang đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện”.
Phierơ là một con người của sự cầu nguyện. Thời điểm là giữa trưa. Phierơ đang đói và đang chờ bữa ăn được dọn lên khi ông đi cầu nguyện. Đây là cách làm thông thường cho người Do thái tin kính có ba thời điểm cầu nguyện trong ngày. Đây chẳng phải là một trong những thời điểm đều đặn đó. Những gì chúng ta thấy ở đây từ Phierơ không phải là một chế độ cứng ngắt, song là một kỷ luật về mặt thuộc linh.
Có một số lẽ thật ở đây, nhưng giờ đây hãy chú ý là trong mối quan hệ bình thường hàng ngày của Phierơ khi tương giao trò chuyện với Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời đã ban cho ông tầm nhìn và sự dẫn dắt nầy về những hành động đặc biệt lo làm tròn sứ mệnh mà Chúa Jêsus đã ban bố phải đến với mọi người bằng Tin Lành.
Đức Chúa Trời đào tạo chúng ta trở thành hạng nhân sự thích hợp qua sự cầu nguyện. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta nhiều chỉ đạo cụ thể trong Kinh thánh. Vô luận bạn là Cơ đốc nhân bao lâu, luôn luôn có nhiều điều để học tập và sống theo. Đồng thời, Đức Chúa Trời không nhắc đến trong Kinh thánh từng quyết định, hướng dẫn và hoàn cảnh cụ thể mà bạn sẽ đối diện với.
Tìm kiếm sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời cho đời sống của bạn sẽ không đạt được nếu không có sự cầu nguyện. Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta qua Kinh thánh, qua mưu luận của các Cơ đốc nhân khác, qua sự khôn ngoan của Ngài mà Ngài rời rộng cung ứng cho chúng ta, và qua sự cầu nguyện.
Đừng trông mong một bản kế hoạch chi tiết sẽ được thả xuống từ trời. Nhưng Đức Chúa Trời luôn luôn cung ứng đủ sự sáng láng để thực hiện bước kế tiếp, để bước đi trong đức tin để tin cậy Ngài khi bạn thực hiện bước kế tiếp đó. Có khi bước ấy rất đáng sợ. Có thể bạn đã nghe nói về Grand Canyon Skywalk. Đây là chuyến đi chừng 70 feet tính từ mép núi, treo lơ lửng trên 4.000 feet hay khoảng ¾ dặm bên trên hẻm núi. Bạn cảm thấy ra sao khi bước ra rồi nhìn xuống chơn mình và thấy đáy sâu 4.000 feet bên dưới? Henry & Freda mới đây có mặt ở đó, vì vậy bạn có thể hỏi họ đấy. Còn bây giờ, hãy nhìn vào vài bức tranh đi (đang chiếu trên màn hình).
Đức Chúa Trời sẽ ban cho bạn lòng dạn dĩ để bước ra, bước thứ nhứt, bước kế đó của đức tin. Có phải bạn trò chuyện đều đặn hàng ngày với Đức Chúa Trời không? Có phải bạn đem đến những kỷ niệm cũng như các thảm họa của bạn đến với Ngài? Có phải bạn nói với Ngài về Kinh thánh bạn đã đọc, nghiên cứu hay nghe nói? Có phải bạn cầu xin Ngài giúp bạn học hỏi và sống theo hầu trở nên giống với Chúa Jêsus càng hơn không?
Thứ ba, Đức Chúa Trời đào tạo chúng ta qua Lời của Ngài. Đức Chúa Trời đã phán trực tiếp với Phierơ. Cuộc đối đáp bắt đầu ở 10:13: “Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn”. Song Phierơ phản kháng: “Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ”. Đức Chúa Trời đáp: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy” (câu 15). Và, Luca thuật lại cho chúng ta biết, điều nầy được lặp đi lặp lại ba lần (câu 16).
Phierơ là một người theo truyền thống nhưng cũng là một người Do thái rặc. Ông sẽ không ăn bất kỳ thứ đồ ăn nào là không sạch, nhưng lúc bấy giờ ông đang ở với Simôn là thợ thuộc da ở Giốpbê. Vì cớ sự tiếp xúc của họ với các thú vật chết cùng da của chúng, người Pharisi và hạng người Do thái tỉ mỉ khác đã xem thợ thuộc da là ô uế.
Phierơ đã phản đối, đã “nghi ngờ” (câu 17), và kế đó đã suy gẫm những gì Đức Chúa Trời đã nói với ông trong khải tượng (câu 19). Trong khi ông đang suy gẫm, Đức Chúa Trời lại phán nữa, câu 19: “…Đức Thánh Linh phán cùng người rằng: Kìa, có ba người đang tìm ngươi. Vậy, hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, chớ hồ nghi, vì ta đã sai họ đó”. Phải, Đức Chúa Trời đã phán trực tiếp với Phierơ.
Đức Chúa Trời cũng phán với chúng ta, với bạn và tôi. Có thể bạn mau chóng đáp: “Xin chờ một phút! Tôi chưa có khải tượng nào hết! Tôi chưa nghe Đức Chúa Trời phán với tôi bằng giọng nói nghe thấy được!” Hãy nhớ, kinh nghiệm là phần ngoại lệ đối với Phierơ, chớ không phải là định mức. Hãy nhớ kỹ rằng chúng ta có Lời thành văn trọn bộ của Đức Chúa Trời. Còn Phierơ thì không có.
Điểm mấu chốt không thay đổi, ấy là Đức Chúa Trời phán cùng chúng ta qua Lời của Ngài để làm thay đổi, để nắn đúc chúng ta khi Ngài truyền đạt cho chúng ta. Trong phần lớn thời gian của đời sống chúng ta, Thánh Linh Đức Chúa Trời dạy dỗ, chỉnh sửa và nắn đúc chúng ta qua Kinh thánh. Khi Phaolô viết thư cho Timôthê, ông nhắc cho Timôthê nhớ trong II Timôthê 3:16-17: “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành”.
Chúa Jêsus dạy chúng ta ở Giăng 16:13 rằng Đức Thánh Linh sẽ “dẫn [chúng ta] vào mọi lẽ thật”.
Sau cùng, Đức Chúa Trời đào tạo chúng ta thành hạng nhân sự thích hợp qua sự vâng lời. Phierơ không vâng theo ngay lập tức. Hãy nhớ, trong khải tượng kia, Đức Chúa Trời phán: “Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn!” Đối với mạng lịnh ấy, Phierơ phản công: “Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ”.
Khi câu 16 nói cho chúng ta biết: “Lời đó lặp lại ba lần”, thì có nghĩa là Phierơ đã phản kháng ba lần.
Gần như đây là một hồi tưởng lại khi Chúa Jêsus đang sửa soạn các môn đồ cho sự chết của Ngài. Phierơ đã nhảy ùa vào rồi phản kháng ở đó. Trở lại với Tin Lành Mathiơ 16:21: “Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giêrusalem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại. Phi-e-rơ bèn đem Ngài riêng ra, mà can rằng: Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!” (các câu 21-22).
Chúa Jêsus chỉnh ông ngay, câu 23: “Nhưng Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta”.
Như tôi đã nói ở trên, Phierơ là một con người bốc đồng và ngoan cố, một con người của hành động, song ông cũng là một người rất trung thành. Hãy chú ý ở cả Mathiơ 16 và ở đây trong Công Vụ các Sứ Đồ 10, Phierơ đã tỏ ra sự kính trọng trong những lần phản kháng của ông bằng cách xưng Đấng Christ là Chúa.
Phierơ đã vâng lời. Ông đã suy gẫm, tỏ ra ông cho thấy ông nắm lấy quyền chủ động, và rồi Đức Thánh Linh đã dẫn dắt ông. Như một sự khẳng định cực kỳ, Đức Chúa Trời nói ông biết ba người đang đến nơi cổng để tìm ông và ông cần phải đi với họ mà chẳng nên có sự nghi ngại gì hết. Hãy xem câu 21: “Phi-e-rơ bèn xuống cùng họ mà nói rằng: Ta đây, là người các ngươi đang tìm; các ngươi đến đây có việc gì? Họ trả lời rằng: Đội trưởng Cọt-nây là người công bình, kính sợ Đức Chúa Trời, cả dân Giu-đa đều làm chứng tốt về người, người đó đã bởi một vị thiên sứ thánh mà chịu mạng lịnh từ nơi cao rằng phải mời ông về nhà và nghe lời ông. Phi-e-rơ bèn mời họ vào nhà và cho trọ tại đó. Ngày mai, Phi-e-rơ chờ dậy đi với họ, có một vài người trong hàng anh em từ Giốp-bê cùng đi với” (các câu 21-23).
Cọtnây chẳng phải là một tín đồ đâu. Chúng ta biết điều đó ở phân nửa sau của chương 10. Nhưng còn hơn thế nữa, ông là một dân Ngoại. Không những là dân Ngoại, mà còn là một đội trưởng trong quân đội Lamã mà người Do thái rất xem khinh. Đây là một chuyến đi ấn tượng từ những gì Phierơ đã biết, đã cảm nhận, đã tin và đã kinh nghiệm, nhưng ông đã vâng theo Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đào tạo bạn và tôi để vỡ đất mới khi chúng ta vâng theo Ngài. Đừng bao giờ xem nhẹ sự thúc giục của Đức Chúa Trời phải làm hay không làm một việc gì đó, trở nên hay không trở nên thứ gì đó. Khi Đức Chúa Trời phán, chúng ta cần phải trở thành người biết lắng nghe và làm theo Lời của Ngài, nếu khác đi chúng ta sẽ đâm ra chai lì thuộc linh và sẽ không còn nhạy cảm với Ngài như chúng ta đáng phải có. Một lần nữa, cần phải có lòng dạn dĩ và đức tin. Có nhiều lúc chúng ta sẽ cảm nhận giống như Phierơ: “Chúa ơi, con chưa bao giờ làm việc nầy trước đây! Làm sao con có thể làm được chứ? Điều gì sẽ xảy ra? Người ta sẽ nghĩ sao?”
Đức Chúa Trời đào tạo bạn và tôi để vỡ đất mới khi chúng ta vâng theo Ngài.
Phần kết luận:
Đức Chúa Trời đào tạo hạng tín đồ sẵn lòng để vỡ đất mới. Đừng thối lui nhé. Hãy xem đấy là niềm vui lớn lao khi ở tại chốn tương giao và phục vụ, nơi mà Đức Chúa Trời muốn bạn bước vào để vỡ đất mới.
Có vô số tấm gương mà chúng ta có thể nhìn thấy về con người, hạng người tầm thường mà Đức Chúa Trời đã sử dụng trong nhiều cách khác nhau để vỡ đất mới. Chúa nhựt vừa qua, tôi đã chia sẻ với bạn câu chuyện của Howard Hendricks nói tới một phụ nữ ở tuổi 80, bà đang tìm những ý tưởng mới, những phương thức mới để vỡ đất mới trong đời sống của những thanh thiếu niên trung đại học, và thể nào ít nhất 84 người trong số chúng đã bước vào chức vụ.
Tôi nghĩ một cựu binh giáo sĩ hưu hạ, bà kỳ vọng gia đình mình bước vào chỗ phục vụ Đức Chúa Trời. Bà đã làm việc trong một khu vực rất khó khăn. Những người đi trước bà đã làm việc thật trung tín cả đời họ hầu như chẳng có ai đến với Đấng Christ. Bà, và nhiều người khác cùng với bà, đã làm việc nhiều năm trời trước khi nhìn thấy mọi kết quả. Song Đức Chúa Trời đã sử dụng họ để vỡ đất mới. Ngày nay có một ngôi nhà thờ với hàng chục ngàn tín đồ trong nhóm bộ tộc ấy.
Có người trồng, có người tưới, có người gặt. Có mùa gieo, người khác thì tưới và nhiều người khác nữa lo gặt hái. Có người nhìn thấy các con số thật lớn, nhiều người khác thì thấy các con số nhỏ mà thôi.
Nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng luôn luôn năng động, vỡ đất mới qua hạng nhân sự sẵn lòng mà Ngài đã đào tạo.
Khi bạn sử dụng một vài phút yên tĩnh suy gẫm với Đức Chúa Trời về lẽ thật nầy, hãy cảm tạ Ngài vì việc vỡ đất mới trong tấm lòng của bạn — để tiếp cận với tình yêu và đem bạn đến với chính mình Ngài, thay đổi bạn cho đến đời đời. Hãy quyết định phải nhạy cảm và đáp ứng với Đức Chúa Trời ở nơi bạn sinh sống và ở nơi Đức Chúa Trời dẫn dắt bạn, để vỡ đất mới trong chính đời sống của bạn. Rồi cũng phải có tấm lòng, khải tượng, sự cung hiến để thể hiện ra sự nhơn từ của Ngài, chia sẻ ân điển và ơn thương xót của Ngài, để vỡ đất mới trong chức vụ với và vì tha nhân.